Câu 1: Đối tượng nghiên cứu xã hội học:
Đối tượng và chức năng của xã hội học
1. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học
Xã hội học là gì? Một câu hỏi không dễ trả lời trong một định nghĩa
ngắn gọn. Các cuộc tranh luận dữ dội về vấn đề này đã tạm lắng dịu. Các
nhà xã hội hội học đều cảm thấy có lý rằng "đơn giản là không có một xã
hội học đươc duy nhất thừa nhận và cung cấp được tất cả các câu trả lời" vì
"do không có kiểu phát triển duy nhất của xã hội cho nên không thể có quan
điểm xã hội học duy nhất". Các nhà xã hội học đương đại đi tìm câu trả lời
cho các câu hỏi như: xã hội học nghiên cứu cái gì?, nghiên cứu những lĩnh
vực nào của đời sống xã hội?, và nghiên cứu nó như thế nào?
Trưóc hết xã hội học nghiên cứu mặt xã hội của xã hội. Nhưng mặt xã
hội đó lại là đối tượng nghiên cứu chung của nhiều ngành khoa học khác
nhau. Chẳng hạn nó là đối tượng của khoa học kinh tế khi nghiên cứu về sản
xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng vật chất, hoặc nó trở thành đối tượng của
khoa học chính trị khi nghiên cứu về quyền lực, nó là đối tượng của khảo cổ
học khi nghiên cứu những gì còn lại của những nền văn minh đã mất, Còn
"xã hội học là khoa học nghiên cứu chủ yếu về các khuôn mẫu của các
tương tác con người trong xã hội (social interactions)". Các tương tác đó
diễn ra trong trường quan hệ xã hội giữa các chủ thể xã hội (cá nhân, nhóm,
cộng đồng, xã hội tổng thể) diễn ra trong các hoạt động xã hội (sản xuất, văn
hóa, tái sản sinh xã hội, quản lý, giao tiếp). Để nghiên cứu được những điều
đó, xã hội học phải bắt đầu từ các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội.
Trên cơ sở đó nhằm nắm bắt cho được trạng thái chất lượng của xã hội ở
tầm vĩ mô hay vi mô, ở bề mặt cắt hay tầng sâu tiềm ẩn, ở một thời gian cụ
thể và trong một không gian xác định với mục đích là thay đổi trạng thái đó
theo chiều hướng có lợi hơn và tiến bộ hơn. Như thế nếu xã hội học sử dụng
kết quả của khảo cổ học hay dân tộc học khi nghiên cứu quá khứ, thì cũng là
để phục vụ cho việc nắm bắt trạng thái xã hội đương đại. Tương tự như thế,
xã hội học có thể liên kết chặt chẽ với tâm lý xã hội, nhân chủng học, kinh tế
học hay luật học thì mục tiêu cuối cùng hướng đến cũng là đi tìm về một
cũng như các lĩnh vực khác nhau của kinh tế, chính trị, văn hóa, sử dụng
như một công cụ hữu ích và hết sức cần thiết trong quá trình hoạt động.
Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc thăm dò dư luận xã hội trước
các cuộc tranh cử, hay các phương pháp điều tra của xã hội học được ứng
dụng vào việc thăm dò nhu cầu, thị hiếu khách hàng trong marketing. Do
vậy "xã hội học sẽ làm một công cụ hữu hiệu để cho con người có thể xây
dựng cho mình một xã hội tốt đẹp hơn ".
F. Chức năng cải tạo thực tiễn. Xã hội học không phải nghiên cứu
xã hội để biết cho vui mà thực sự nó góp một phần hết sức quan trọng vào
việc cải biến hiện thực. Auguste Comte cha đẻ của ngành khoa học này ngay
từ lúc sơ khai đã nhấn mạnh chức năng cải tạo xã hội của nó mà ông tóm tắt
trong mệnh đề rất nổi tiếng "Biết dự đoán, biết kiểm soát". Còn các nhà xã
hội học Anh cũng đã khẳng định "Xã hội học không chỉ đơn thuần là một
nghành khoa học lý giải và phân tích đời sống xã hội, mà còn là phương tiện
thay đổi xã hội". Các nhà xã hội học cho rằng nếu như họ kém cỏi đến mức
không làm được cái gì cả thì chí ít "những dữ liệu của họ cũng thường được
sử dụng để xây dựng các chính sách"./.
Câu 1
1
: Quan điểm và đống góp của Auguste Comte:
(17/1/1798-5/9/1857) là một nhà tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã
hội, người tạo ra ngành xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra thuật ngữ
"Xã hội học". Ông đã đóng góp không nhỏ vào lĩnh vực xã hội học của thế
giới, những đóng góp của ông về mặt lý thuyết như quan niệm về xã hội học
xem xã hội học là khoa học nghiên cứu các tổ chức xã hội. Quan điểm nhìn
nhận về xã hội và cấu trúc xã hội bao gồm: bộ phận, thành tố, quan hệ, sắp
xếp theo trật tự nhất định. Ông xem xã hội là một hệ thống có cấu trúc, cá
nhân, gia đình và các tổ chức xã hội.
Auguste Comte cho rằng xã hội học phải có nhiệm vụ góp phần tổ
chức lại xã hội và lập lại trật tự xã hội dựa vào các quy luật tổ chức và biến
nghiên cứu thuộc về lĩnh vực sinh vật học, khác hẳn với nghiên cứu xã hội
học chủ yếu phân tích các "đơn vị xã hội". Đơn vị xã hội cơ bản nhất, sơ
đẳng nhất có mặt trong tất cả các đơn vị xã hội khác là "gia đình". Điều
thực sự có ý nghĩa về lý luận xã hội học là quan niệm của Comte về cơ cấu
xã hội. Cơ cấu xã hội bao giờ cũng được tạo nên từ các cơ cấu xã hội khác
đơn giản hơn, gọi là tiểu cơ cấu xã hội. Do đó, hiểu cơ cấu xã hội có nghĩa
là nắm bắt được các đặc điểm, các thuộc tính và các mối liên hệ của các tiểu
cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hội phát triển theo con đường tiến hóa từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp. Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở mức độ phân
hóa, đa dạng hóa và chuyên môn hóa chức năng, cũng như mức độ liên kết
giữa các tiểu cơ cấu xã hội. Comte đặt vấn đề nghiên cứu xem làm thế nào
duy trì được mối liên kết giữa các bộ phận (các tiểu cơ cấu xã hội) khi mức
độ phân hóa chức năng ngày một tăng lên trong xã hội. Comte đưa ra cách
giải quyết nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước và yếu tố văn hóa, tinh thần
xã hội.
- Vai trò của nhà nước: Comte cho rằng ngoài sự phụ thuộc lẫn
nhau, sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp
và liên kết các bộ phận của hệ thống xã hội đảm bảo chống lại sức ép của
sự phân hóa và phân rã xã hội.
- Vai trò của văn hóa, tinh thần: Ngoài hành động "vật chất" của
nhà nước, yếu tố trí tuệ và đạo đức, thiện trí và thiện cảm của các thành
viên xã hội, đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết, trật tự xã hội.
Auguste Comte quan tâm đặc biệt đến bộ phận mà ông gọi là động
học xã hội (social dynamics). Đó là lĩnh vực nghiên cứu các quy luật biến
đổi xã hội trong các hệ thống xã hội theo thời gian. Comte đưa ra quy luật
ba giai đoạn để giải thích sự phát triển của các hệ thống tư tưởng và hệ
thống cơ cấu xã hội tương ứng. Lịch sử loài người phát triển qua ba giai
đoạn:
- Thần học;
nghiên cứu này thường đồng nhất khái niệm thực chứng với khái niệm "kinh
nghiệm chủ nghĩa" hay với việc thu thập số liệu một cách đơn thuần, không
có lý thuyết, thiếu lý luận).
3.Auguste Comte đã chỉ ra được các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của
xã hội học. Xã hội học có nhiệm vụ phát hiện ra các quy luật, xây dựng lý
thuyết, nghiên cứu cơ cấu xã hội (tĩnh học xã hội) và nghiên cứu quá trình
xã hội (động học xã hội). Xã hội học có nhiệm vụ trả lời câu hỏi: trật tự xã
hội (tổ chức xã hội) được thiết lập, duy trì và biến đổi như thế nào. Vấn đề
này về sau trở thành mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu trong xã hội học ở
Mỹ và châu Âu thế kỷ XX./.
Câu 2: Những đóng góp của Comte, Marx, Spencer, Durkheim,
Weber
1. Những đóng góp của Auguste Comte (1789 – 1857) đối với sự ra
đời và phát triẻn của XH.
“XHH là khoa học về các quy luật của tổ chức XH”.
* Tiểu sử : Sinh năm 1789 trong một gia đình Gia tôn giáo người Pháp ông
có tư tưởng tự do và cách mạng rất sớm. Ông được biết đến như là một nhà
toán học, Vật lý, thiên văn học. Nhà triết học theo dòng thực chứng và là 1
nhà XHH nổi tiếng. Gia đình theo xu hướng quân chủ nhưng ông lại có tư
tưởng tự do tiến bộ .
- Sinh ra ở một đất nước đầy biến động, tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng
của bối cảnh kinh tế – Xh Pháp cuối TK 18 đầu Tk 19 cũng như những mâu
thuẫn giữa tôn giáo và khoa học xung đột gay gắt.
* Tác phẩm:
Công trình cơ bản gồm 2TP :
- Hệ thống chính trị học thực chứng
- Triết học thực chứng.
* Đóng góp cụ thể:
+ Là người đặt tên cho lĩnh vực khoa học xã hội học vào năm 1838 trong tập
sách thực chứng luận xuất hiện cụm từ XHH.
chế nhất định để bảo đảm cho XH tồn tại và phát triển ổn định.
+ Cách giải thích về quy luật vận động XH, quy luật 3 giai đoạn của tư duy.
Quy luật phát triển của tư duy nhân loại qua 3 giai đoạn
- Giai đoạn tư duy thần học
- Giai đoạn tư duy siêu hình
- Giai đoạn tư duy thực chứng
Ông vận dụng quy luật này để giải thích rất nhiều hình tượng cụ thể của tư
duy của XH.
Giải thích quá trình tư duy từ lúc sinh ra là xã hội hiện thực lẫn XH tinh thần
đều vận động phát triển theo quy luật 3 giai đoạn: XH thần học – Xh siêu
hình – XH thực chứng .
Giai đoạn XH thần học từ thế kỷ 14 trở về trước
Giai đoạn siêu hình từ thế kỷ 14 đến tk 18
Giai đoạn thực chứng sau TK 18 đến nay .
Theo ông XH vận động từ trạng thái XH này đến 1 trạng thái khác luân luân
có 1 sự khủng hoảng.
Con người có thể quản lý tốt nhất XH của mình trong giai đoạn thực chứng (
các nhà khoa học).Cơ chế của sự vân động này là đi lên .Trong qua trình đó
có kế thừa tích luỹ .Giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau.
Sau này ông cho rằng , sự vận động Xh tinh thần có trước rồi mới phản ánh
sự vận động của XH hiện thực .Vì thế ông bị phê phán là duy tâm ( Vì vậy
cho ý thức có trước)
Mặc dù có những hạn chế nhất định về tư tưởng nhưng ông đã có những
cống hiến to lớn cho việc đặt nến móng cho XHH.Do đó ông được coi là cha
đẻ của XHH.
2. Những đóng góp của Karl Marx (1818 – 1883) đối với sự ra đời và
phát triển của XHH nói chung và XHH Mác xít nói riêng.
“Các nhà triêt học cho tới nay mới chỉ giải thích TG.Vấn đề là biến đổi TG”
* Tiểu sử:
Karl Marx, là nhà kinh tế học đức, nhà lý luận vĩ đại của phong trào công
KTXH tương ứng với 5 chế độ XH .5 thời đại lịch sử .Mac chỉ ra cặn kẽ,cụ
thể ,gốc rễ căn nguyên của sự biến đổi
Mac còn chỉ ra cơ cấu tổng thể của 1 XH gồm 2 thành tố cơ bản : Kiến trúc
thượng tầng và hạ tầng cơ sở .Hai thành tố này có quan hệ khăng khít biện
chứng với nhau
+ Về pp luận :
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử cung cấp cách tiếp cận duy vật khi nghiên cứu
về XH. Marx cho rằng tồn tại XH là cái có trước .ý thức XH là cái có sau.
Tồn tại XH quyết định ý thức XH.
- Khi nghiên cứu về XH nên bắt đầu xuất phát từ hành động thực tiến của
con người chứ không bắt đầu từ ý niệm tuyệt đối. Mac cho rằng sự vận động
biến đổi cuả XH là do phương thức xản suất của Xh quyết định. Phương
thức sản xuất Xh thay đổi sẽ kéo theo sự vận động biến đổi .
Do đó khi nghiên cứu về XH chúng ta phải xuất phát từ yếu tố gốc độ kinh
tế. đặt các vấn đề XH trong mối quan hệ với KT mới có thể chỉ ra được
nguyên nhân sâu xa và bản chất của hiện tượng XH và mới đưa ra được giải
pháp phù hợp để gải quyết các vấn đề của XH .
- PP luận của Mac đã trở thành kim chỉ nam cho nghiên cứu XHH.
+ Quan niệm về con người và XHH của Mac.
Quan hệ tương tác giữa con người với con người và Xh là đối tượng của
XHH. Theo Mac con người là một thực thể sinh học – Xh. Con người vừa
mang bản chất tự nhiên vừa mang bản chất XH. Bản chất đích thực của con
người là tổng hoà của các mối quan hệ XH. (bản chất con người nằm trong
các mối quan hệ XH chứ không nằm trong cơ thể sinh học của con người )
Đó là quá trình XH hoá cá nhân.
+ Về bản chất của XH ông cho rằng XH chẳng qua chỉ là sự tác động qua lại
giữa người với người mà thôi. XH là Xh của con người .
+ Quan điểm về vấn đề bất bình đẳng và phân tầng XH của Mac.
Trong mọi Xh có phân chia giai cấp đều có dấu hiệu của bất bình đẳng Xh
và phân tầng XH. Gốc gác cơ bản của nó là sự khác biệt sự đối lập giữa các
trở thành một lĩnh vực khoa học, một ngành nghiên cứu về giáo dục ở Pháp
nên được coi là cha đẻ của xhh Pháp. Bối cảnh kinh tế xh Pháp ở cuối thế kỷ
18 đầu thể kỷ 19 ảnh hưởng lớn đến sâu sắc đến quan điểm tư tưởng của ông
về xhh.Nhiều học giả trên thế giới thừa nhận .xhh này sinh ra trong bối cảnh
đầy biến động của kinh tế – xh Pháp cuối TK 18 đầu TK 19. Chính
Durkheim đã gọi xh Pháp thời kỳ này là một xh vô tổ chức, một chính phủ
vô đạo đức. Ông cho rằng cần phải có một khoa học nghiên cứu các hiện
tượng trong XH.Giải pháp xhh của ông đã được thừa nhận như vậy .Ông đã
đặt ra nhiệm vụ cho xhh là phải nghiên cứu thực tại hiện tại xh để có giải
pháp tổ chức lại trật tự xh .
Về mặt tư tưởng và khoa học .ông chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực chứng
của A. Comte và nguyên lý tiến hoá xh của Spencer.
b. Tác phẩm :
- Tự tử
- Sự phân công lao động trong Xh .
- Các quy tắc của ph.pháp xhh.
- Các h.thức sơ đẳng của tôn giáo.
c. Đóng góp :
+ Quan niệm về xhh và đối tượng nghiên cứu của nó .
Ông coi xhh là khoa học về các” sự kiện xh”. ông chỉ ra đối tương của xhh
là các sự kiện xh.
Sự kiện xh là tất cả những cái tồn tại bên ngoài cá nhân nhưng có khả năng
chi phối, điều khiển hành vi của cá nhân. Ông phân biệt 2 loại :
Sự kiện Xh vật chất và sự kiện xh phi vật chất.
Sự kiện xh vật chất là những quan hệ mà chúng ta có thể quan sát được, đo
lường được thì gọi là sự kiện xh vật chất (cá nhân, nhóm Xh, tổ chức Xh,
cộng đồng XH )
Sự kiện xh không thể quan sát được hay khó quan sát, phải dùng đến trí
tưởng tượng để hình dung ra thì gọi là sự kiện xh phi vật chất. (Quan niệm
xh, giá trị chuẩn mực xh, lý tưởng niềm tin xh, tình cảm xh )
xh khác .
Nghèo đói <-> Học vấn
<-> phong tục, tập quán
<-> k/nghiệm, kí năng sx
+ Khái niệm đoàn kết xh: 2 khái niệm quan trọng: sự kiện xh và đoàn kết xh.
Đoàn kết xh: là sự gắn bó, liên kết giữa các cá nhân các nhóm, các cộng
đồng xh với nhau. Ông cho rằng nếu thiếu đoàn kết xh thì xh sẽ ko tồn tại
với tư cách là một chỉnh thể
Có hai loại đoàn kết xh : Đoàn kết Cơ học và Đoàn kết hữu cơ.
* ĐK cơ học
ĐK tôn giáo, cấu kết làng xã là một loại ĐK xh dựa trên sự giống nhau sự
thuần nhất của các cá nhân về một hệ các giá trị chuẩn mực. Những phong
tục tập quán hay một niềm tin vào đó (VD: hiện nay có > 1,3 tỷ tín đồ hồi
giáo rải rác khắp nơi trên thê giới nhưng rất gắn kết).
* ĐK hữu cơ :
Là loại ĐK xh dựa trên sự khác biệt về vị trí chức năng của các cá nhân
trong xh. Sự phân công lao động xh là nhân tố cơ bản tậo nên ĐKHC trong
Xh. Khi phân công cụ thể rõ ràng thì mỗi cá nhân, nhóm tổ chức có những
chức năng của mình buộc phải bổ trợ cho nhau ở cả cộng đồng .
Đây là loại ĐKxh phổ biến trong xh truyền thống còn ĐK hữu cơ là ĐKXH
phổ biến trong xh hiện đại
Kết luận :
XHH của E.Durkheim phản ánh rõ các ý tưởng của H.Spencer về “cơ thể xã
hội”, tiến hoá xã hội, chức năng xã hội. XHH E.Durkheim chủ yếu xoay
quanh vấn đề mối quan hệ giữa con người và xã hội. XHH cần phải xác định
đối tượng nghiên cứu một cách khoa học. Phải coi xã hội, cơ cấu Xh, thiết
chế XH, đạo đức, truyền thống, phong tục, tập quán, ý thức tập thể … như là
các sự kiện Xh, các sự vật, các bằng chứng xã hội có thể quan sát được. Cần
áp dụng các pp nghiên cứu khoa học như quan sát, so sánh, thực nghiệm …
để nghiên cứu, phát hiện ra các quy luật cuả các sự vật, sự kiện Xh. Khi giải
+ Cách giải thích : sự vận động phát triển xh theo nguyên lý tiến hoá xh .
- Ông cho rằng cơ thể xh phát triển theo nguyên lý tiến hoá nên ông đã vận
dụng thuyêt tiến hoá cuả C.Đacuyn để giải thích. Theo ông, xh loài người
p/triển theo quy luật tiến hoá từ xh đơn giản, quy mô nhỏ tiến dần từ chuyên
môn hoá thấp l/kết lỏng lẻo đến cái xh có quy mô lớn, cấu trúc phức tạp,
chuyên môn hoá cao và liên kết bền vững.
- Ông còn khẳng định trong qúa trình tiến hoá .xh loài người cũng phải tuân
thủ theo một số quy luật như đấu tranh sinh tồn, chọn lọc tự nhiên và thích
nghi, cá nhân, t/c nào thích nghi được với môi trường chung quanh nó thì nó
tồn tại, còn ngược lại sẽ bị tiêu vong đào thải .
+ Cách phân loại xh: căn cứ vào đặc điểm của xh trong quá trình tiến hoá.
Ông chia xh thành 2 loại: Xh quân sự và xh công nghiệp.
- XH quân sự là xh có cơ chế tính chất và quản lý độc đoán chuyên quyền,
tập trung quyền lực. Các quan hệ xh diễn ra chủ yếu theo chiều dọc mang
tính mệnh lệnh, phục tùng từ trên xuống, áp đặt theo chiều dọc. Hoạt động
của các cá nhân, tổ chức trong xh chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính
quyền TW.
- Theo ông XH quân sự là trạng thái Xh điển hình trong thời kỳ Xh có chiến
tranh. Có đấu tranh phe phái tranh giành quyền lực chính trị .
- Trong Xh công nghiệp nó lại được tổ chức và quản lý theo cơ chế phi tập
trung, chia sẻ quyền lực. NN và chính quỳên TW không thâu tóm quyền lực.
Quan hệ XH diễn ra đa chiều cả chiều dọc lẫn chiều ngang. Sự kiểm soát
của TW đối với cá nhân, tổ chức trong Xh ko quá chặt chẽ. Nó mở ra nhiều
cơ hội cho cá nhân, tổ chức phát huy năng lực và sở trường của mình .
Trạng thái XHCN rất điển hình trong thời kỳ cả XH tập trung cho mục tiêu
sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, phát triển xh.
+ Quan niệm về thiết chế XH: Ông coi thiết chế XH là một kiểu tổ chức XH
là khuôn mẫu XH, ra đời và vận hành là để áp ứng những nhu cầu xh căn
bản của con người. Để duy trì sự tồn tại XH, cần đáp ứng 5 nhu cầu căn bản:
- Nhu cầu về vật chất .
Kết luận:
Tư tưởng xuyên suốt trong XHH cuả H.Spencer đó là: XH như là cơ thể
sống, với nguyên lý cơ bản là tiến hoá XH. Mặc dù XHH H.Spencer không
tinh vi theo tiêu chuần khoa học thế kỷ XX nhưng những đóng góp của ông
đã để lại nhiều ý tưởng quan trọng và có những ảnh hưởng sâu sắc được tiếp
tục phát triển trong các trường phái, lý thuyết XHH hiện đại. Bóng dáng
XHH Spencer còn in đậm nét trong cách tiếp cận hệ thống, lý thuyết tổ chức
XH, lý thuyết phân tầng XH và các nghiên cứu XHH về chính trị, về tôn
giáo và về thiết chế XH.
5. Những đóng góp của Max Weber (1864–1920) đối với sự phát triển
của XHH.
a. Tiểu sử:
Ông là nhà kinh tế học, là một nhà xh người đức. ông sinh ra trong một gia
đình theo đạo tin lành. Ông được tôn vinh là cha để của xhh lý giải. Bản
thân ông có thời kỳ là mục sư truyền giảng giáo lý ở một số vùng nước đức.
- Vào đầu thế kỷ 20 ở đức diễn ra cuộc tranh luận gay gắt trên lĩnh vực Xhh:
XHH có phải là khoa học đích thực so với khoa học tự nhiên không.
(M.Weber đã tham gia vào diễn đàn này). Nhiều học giả ko coi xhh là khoa
học mà cho khoa học tự nhiên mới là khoa học đích thực
b. Tác phẩm:
- Cuốn “đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản”. (Tác phẩm này
được coi là cuốn sách gối đầu giường của các nhà xhh phương tây )
- Kinh tế học xã hội (Tác phẩm này được coi là bách khoa thư về xh)
- Xhh tôn giáo. (Tác phẩm này chuyên biệt về lĩnh vực tôn giáo )
- Tôn giáo Trung quốc.
- Tôn giáo ấn độ.
Ông đã đưa ra cách giải thích rất độc đáo về sự xuật hiện ra đời của CNTB ở
Châu âu.
c. Đóng góp :
Quan niệm của ông về Xhh và đối tượng nghiên cứu của xhh.
làm theo. VD: Tục lệ ma chay, cưới hỏi là những thủ tục phong tục tập quán
(đã lặp đi lặp lại như một thói quen truyền đến đời sau).
+ Hành động duy cảm: Hành động của con người thực hiện theo cảm xúc
nhất thời, VD: sự tự hào, sự yêu thương, sự căm giận, sự buồn vui
Nhưng ko phải tất cả mọi hành động của con người theo cảm xúc đều là
hành động duy cảm mà chỉ có những hành động mà các cảm xúc đó có l/uan
đến người khác, định hướng đến người khác mới được coi là hành động duy
cảm.
Tiêu chí phân loại : là động cơ hành động .
- Liên hệ bản thân:
Theo Weber, khi nghiên cứu xhh phải lý giải động cơ của hành động xh chứ
ko chỉ miêu tả bên ngoài hành động .
Hành động xh với động cơ gì, nhà xhh phải chỉ ra được.
Mỗi chủ thể hành động theo một động cơ khác nhau nhà xhh phải quan sát
hành vi để lý giải hành động .
* Phương pháp nghiên cứu:
M.Weber cho rằng khoa học xh nói chung và xhh nói riêng phải vận dụng
pp lý giải để nghiên cứu về xh và hành động xh của con người .
- Về bản chất, ông cho rằng pp này rất gần gũi với pp khoa học tự nhiên,
nhưng ở khoa học tự nhiên, nhà nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc quan sát hiện
tượng rồi mô tả những gì đã quan sát được, nếu lặp đi lặp lại nhiều lần thì
rút ra quy luật.
Còn KHXH, nhà nghiên cứu phải vượt qua phạm vi, giớì hạn của sự quan
sát, mô tả để đi sâu lý giải cái bản chất bên trong, cái đặc trưng, ý nghĩa bên
trong mỗi hành động xã hội .
Ông cho rằng, hành động bao giờ cũng phản ánh bản chất nên phương pháp
nghiên cứu của KHXH khác với KHTN, KHXH cũng phải vận dụng PP
thực chứng.
Ông phân biệt 2 loại hình lý giải là: Trực tiếp và gián tiếp.
Lý giải trực tiếp là thông qua mô tả bên ngoài những gì quan sát được.
quan điểm của K.Marx mà không hề khác biệt hay đối lập về sự lý giải hệ
thống phân tầng xh ở một xh cụ thể là xh tư bản đức đầu thế kỷ 20 .
* Giải thích sự ra đời của CNTB:
- Ông đã giải thích sự ra đời của CNTB trong tác phẩm: “Đạo đức tin lành
và tinh thần của CNTB”. Ông cho rằng mọi xh có quan hệ hàng hoá thì đều
có cơ hội phát triển thành XHTB.
Ông cho rằng mọi XH có quan hệ hàng hoá thì đều có cơ hội phát triển
thành XHTB.
XH phương đông từ thế kỷ 16 –17 quan hệ hàng hoá xuất hiện rất sớm (Con
đường tơ lụa hình thành) nhưng CNTB đã ko xuất hiện ở đây mà CNTB lại
ra đời ở Châu âu (Phương Tây)
Ông đã lý giải rằng :
ở Trung quốc, triết học nho giáo thồng trị Xh, chủ trương quản lý Xh bằng
văn chương. Điều đó đã ko tạo ra tâm lý ham muốn vật chất của con người.
Tư tưởng nho giáo chỉ đề cao Văn chương, cuộc sống vô thực ko làm cho
con người coi trọng vật chất .
- ở ấn độ Phật giáo thống trị tư tưởng của toàn xh. Giáo lý nhà phật kêu gọi
con người ta phải diệt dục, phải từ bỏ mọi ham muốn vật chất, coi những cái
đó là xấu xa, tội lỗi.
- Trong khi đó ở phương tây đạo tin lành thống trị xh, nó đã trở thành một
thứ đạo đức xh và nó đã chi phối hành động của con người trong mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống xh, kể cả những người theo tôn giáo hay không
theo 1 tôn giáo nào cũng bị chi phối và ảnh hưởng bởi đạo giáo này .
- Đạo tin lành trở thành đạo lý của cả xh phương tây. Theo Weber, sự gặp
nhau giữa một bên là tinh thần của chủ nghĩa tư bản là tích luỹ, làm giàu, lợi
nhuận với một bên là đạo đức xh của đạo tin lành đã thúc đẩy sự ra đời cuả
CNTB ở phương tây. Đó là cách giải thích quan trọng của ông về nguyên
nhân sự ra đời của CNTB. Nhiều nhà XHH Marxit đã phê phán ông là duy
tâm vì ông đứng trên góc độ tôn giáo, tinh thần .
Kết luận: