Đề cương ôn thi môn Chính trị Lịch sử Đảng - Pdf 24

Câu 1: Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đối với tiến trình cánh mạng Việt Nam. Nội
dung, ý nghĩa của cương lĩnh chính trị lần thứ nhất của Đảng cộng sản Việt Nam?
1. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
1.1. Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
a. Tình hình đất nước những năm đầu thế kỷ XX
Nửa đầu thế kỷ XX, Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất dưới quyền cai quản của
triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Ngày 01-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và từng bước
thôn tính Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp và đi đến đầu hàng hoàn toàn.
Chính sách bóc lột, cai trị của thực dân Pháp đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam:
Về chính trị: thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu
nước của nhân dân; tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa đồng thời vẫn duy trì
chính quyền phong kiến bản xứ làm công cụ tay sai. Thực hiện chính sách “chia để trị”: Chia Việt
Nam thành ba kỳ với các chế độ chính trị khác nhau, nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc.
Tước đoạt tất cả các quyền tự do của nhân dân Xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia
trên bản đồ chính trị thế giới, lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp.
Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi: từ xã hội phong kiến độc lập chuyển thành xã hội thuộc địa
- phong kiến.
Về văn hoá - xã hội: Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị, xây dựng nhà tù
nhiều hơn trường học (trên 90% dân số mù chữ); du nhập văn hoá đồi truỵ, tuyên truyền tư tưởng
khai hoá văn minh, nước "đại Pháp"… nhằm tạo tâm lý phục Pháp và sợ Pháp; khuyến khích tệ
nạn xã hội, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc thế hệ trẻ Việt Nam.
Về kinh tế: thực dân Pháp đã tiến hành kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)
và lần thứ hai (1919-1929) nhằm ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người
bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khoá nặng nề. Biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói
chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính quốc.
Sự chuyển biến các giai tầng trong xã hội Việt Nam: Chính sách thống trị của thực dân Pháp
không chỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như địa chủ phong kiến và
nông dân, mà còn làm xuất hiện các giai cấp mới, như giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và các
tầng lớp mới ra đời. Các giai cấp này có địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính
trị khác nhau trước vấn đề dân tộc.
b. Các phong trào yêu nước trước khi có Đảng và sự khủng khoảng bế tắc về đường lối

Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức “chỉ
có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có
thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Cách mạng giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho
nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước
cách mạng chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc.
Lý luận về Đảng Cộng sản, Người khẳng định: Cách mạng muốn giành được thắng lợi: Trước
hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân
tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như
người cầm lái có vững thuyền mới chạy.
Về tổ chức: Tháng 6-1925, thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Về tổ chức gồm 5
cấp: Tổng bộ, Xứ (kì) bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ. Thành phần lúc đầu gồm 90% là trí thức
tiểu tư sản, chỉ có 10% là công nông, về sau trí thức chiếm 40%.
Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân
tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền
đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam - đẩy bánh xe lịch
sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử.
1.3. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 6-1929, các tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ họp, quyết định thành lập Đông Dương cộng sản
Đảng; Kỳ bộ Nam Kỳ quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng (tháng 11-1929); tại Trung Kỳ,
2
Tân Việt cách mạng Đảng thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, vào tháng 1-1930. Sự ra đời
ba tổ chức cộng sản đã khẳng định bước tiến về chất của phong trào công nhân và phong trào yêu
nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Tuy nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba
miền không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước.
Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái viên của
Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập Hội nghị
hợp nhất các tổ chức cộng sản lại thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam , lấy tên là
Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt của Đảng,

con đường bạo lực cách mạng chứ không thể là con đường cải lương thoả hiệp "không khi nào
nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp". Có sách lược đấu tranh
cách mạng thích hợp để lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, còn "bộ
phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ".
3
Cương lĩnh cũng nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách
mạng vô sản thế giới.
Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho
được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng là
đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ
năng lực lãnh đạo quần chúng.
2.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Giá trị lý luận của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng nhất trí thông qua, đã phản ánh một cách súc tích các
luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ,
sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong
những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam
lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ
giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách của cách mạng
Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của
cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra.
Những nội dung cơ bản ấy đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản
cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu
cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến
lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng đúng đắn,
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Đó
chính là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam: Kết hợp đúng
đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; Kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của

lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.”
Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do,
phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành
người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát
triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày
càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Tóm lại thực hiện đường lối chiến lược trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Việt
Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo
con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ
đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng
trong khu vực và trên thế giới.
5
Câu 2: Nêu bối cảnh trước khi Đại hội Đảng VI. Trình bày những nội
dung cơ bản của đường lối đổi mới. Nêu khái quát kết quả của 25 năm
đổi mới. Liên hệ thực tiễn tại địa phương
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-12-1986.
Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại
hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.
- Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Uỷ viên Bộ Chính trị đọc diễn văn khai mạc Đại hội.
- Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đọc Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng.
- Đồng chí Võ Văn Kiệt - Uỷ viên Bộ Chính trị đọc Báo cáo về phương hướng, mục tiêu
chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (1986-1990).
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách

Nội dung đường lối đổi mới :
6
- Đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn xây dựng chủ nghia xã hội đòi hỏi phải nhận thức rõ hơn
những đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ, những quy luật khách quan, những hình thức, bước đi
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khắc phục những biểu hiện chủ quan, duy ý
chí, nóng vội, làm trái quy luật trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới.
Nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan phù hợp với thực tiễn đất nước là điều kiện
đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
- Đổi mới cơ cấu kinh tế. Khẳng định chính sách phát triển “nền kinh tế có cơ cấu nhiều
thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”
1
. Các thành phần kinh tế bao gồm kinh tế xã hội
chủ nghĩa (quốc doanh và tập thể); kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể);
kinh tế tư bàn tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình thức cao nhất là
công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở
Tây Nguyên và các vùng núi cao khác.
Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: đổi mới tư duy lý luận chính là nhận thức rõ quan điểm của V.I.
Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ, nhận thức và
vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ, của CNXH trong đó có quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao
cấp chuyển sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa phát triển nền kinh tế hàng hóa, sử dụng
đúng đắn quan hệ hàng hóa-tiền tệ. Thực chất cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa
theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Đổi mới vai trò quản lý điều hành của Nhà nước, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế,
chủ quan, duy ý chí. Nhấn mạnh chức năng quản lý nhà nước về kinh tế-xã hội trên cơ sở hoàn
thiện hệ thống chính sách, pháp luật. Nhà nước quản lý đất nước, xã hội bằng chính sách và pháp
luật. Hoàn thiện bộ máy chính quyền Nhà nước các cấp phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế
và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
- Đổi mới chính sách đối ngoại, hợp tác với các nước. Củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các

thống chính trị hoạt động năng động và có hiệu quả hơn.
- Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc XHCN của nhân dân ta. Phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp sự lãnh đạo
của Đảng, đồng thời lắng nghe, tiếp nhận những ý kiến trung thực, phê bình những khuyết điểm
trong sự lãnh đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH. Dân chủ
phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có
lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị
những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội.
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và quốc tế xã hội chủ nghĩa; kết
hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”
2
.
Vượt qua những khó khăn, thách thức trong nước và thế giới, đến năm 1991, tình hình chính
trị của đất nước ổn định. Nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Lạm phát năm 1990 giảm xuống còn 67,4%. Năm 1989 đã xuất khẩu gạo 1,4 triệu tấn, đứng thứ 3
thế giới, sinh hoạt dân chủ trong xã hội được phát huy. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Hoạt
động đối ngoại mở rộng, đẩy lùi tình trạng bị bao vây, cấm vận. Đời sống nhân dân được cải
thiện, lòng tin của nhân dân được khôi phục và củng cố.
3. Thành tựu 25 năm đổi mới:
* Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðại
hội VI (năm 1986), và hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức
quan trọng. Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2

giới. Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt
hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về cao su;…
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảo đảm sự ổn định
chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy được nhiều lợi thế của đất nước, của
từng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế, từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách
quản lý và hệ thống điều hành; cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính,
tiền tệ; phát triển nguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ;…
Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô
nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập thấp đã
trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). GDP bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù bị tác động
của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốn
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao.
Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rất
chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% -
8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực (8).
Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt
7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nói chung;
9
quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 -
2011 bình quân đạt 7,14%/năm) (9).
Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011. Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng
5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mức tăng
trưởng hợp lý. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính tăng 3,4% so với năm 2011;
công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81%. Đầu tư phát
triển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3% (10).
Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với
GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới. Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012
đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết
đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD (11)
Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá, trong đó sự

tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng
trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là
10
cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân
sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành, kinh tế vĩ
mô cơ bản ổn định
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Hoạt động của
các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước
được đổi mới một bước quan trọng. Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt
Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết về Khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200
nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một
bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn
thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hóa thành luật pháp, cơ chế,
chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu
tố thị trường và các loại thị trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có
bước phát triển mạnh.
Việc kiện toàn các tổng công ty, thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đạt một số kết
quả. Giai đoạn 2006 - 2010, số doanh nghiệp tăng hơn 2,3 lần, số vốn tăng 7,3 lần so với giai đoạn
2001 - 2005. Doanh nghiệp cổ phần trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến.
* Về phát triển các mặt xã hội
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt
Thành công nổi bật, đầy ấn tượng qua hơn 25 năm thực hiện đổi mới, đầu tiên phải kể đến việc
chúng ta đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh cho mọi thành phần kinh tế, mọi
tầng lớp dân cư, khuyến khích, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân.

phòng dịch, và bước đầu có một số sáng tạo về công nghệ tin học.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Bảo hiểm y tế được mở rộng đến khoảng
gần 60% dân số. Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi
đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 28% năm 2010; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh
dưỡng đã giảm tương ứng từ 50% xuống còn khoảng 20%. Công tác tiêm chủng mở rộng được
thực hiện, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trước đây đã được thanh toán hoặc khống chế. Tuổi thọ
trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 72 tuổi hiện nay.
Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ qua: từ 0,561
năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690 năm 2000; 0,715 năm 2005
và 0,725 năm 2007 (16). Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạng
HDI của Việt Nam năm 2007 vượt lên 13 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số
182 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 116/182. Điều đó chứng tỏ sự phát triển kinh tế - xã
hội của nước ta có xu hướng phục vụ sự phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội khá hơn một số nước đang phát triển có GDP bình quân đầu người cao hơn Việt Nam. Như
vậy, tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã đạt được ba sự vượt trội:
chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về HDI tăng lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổi
thọ và học vấn cao hơn chỉ số về kinh tế.
Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn,
toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt: chính trị,
xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định. Trong đó có những thành tựu rất đáng
khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát
triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ. Thành tựu đó ngày càng
khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới, khích
lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính
trị - xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn.
Thành tựu này được các nước trong khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa
nhận và xem đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
4. Liên hệ về bài học kinh nghiệm và thực tế tại địa phương
* Bài học kinh nghiệm:
Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ (2010) đã đánh giá Việt Nam là một
trong những nước thành công nhất trong thực hiện xóa đói giảm nghèo.
Kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là kinh nghiệm thành
công trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Đồng thời cũng thể hiện bản chất của chế độ và trách
nhiệm của Đảng, Nhà nước.
Bốn là, đặc biệt chăm lo, củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Xây dựng Đảng về chính trị trước hết là xây dựng, bổ sung phát triển đường lối đổi mới,
Cương lĩnh xây dựng đất nước phù hợp với mục tiêu và yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bảo
đảm cho đất nước không đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, không sai lầm về đường lối. Về tư
tưởng, lý luận, trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Không ngừng tổng kết thực tiễn làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam.
Chú trọng đổi mới và chỉnh đốn Đảng về tổ chức, coi trọng công tác cán bộ, đảng viên. Không
ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị. Sự
13
lónh o ỳng n ca ng l nhõn t hng u quyt nh thng li ca cụng cuc i mi v
ton b s nghip cỏch mng.
Nm l, trong cụng tỏc lónh o v ch o phi rt nhy bộn, kiờn quyt, sỏng to, bỏm sỏt
thc tin t nc, chỳ trng cụng tỏc d bỏo, kp thi ra cỏc gii phỏp phự hp vi tỡnh hỡnh
mi; tng cng cụng tỏc tuyờn truyn, to s ng thun cao, phỏt huy sc mnh ca c h
thng chớnh tr v ton xó hi.
* Thc tin a phng: T liờn h.
Cõu 3: Sự phát triển nhận thức của Đảng về con đờng đi lên CNXH Việt Nam. Nờu
khỏi quỏt kt qu ca 25 nm i mi. Liờn h thc tin ti a phng?
14
CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản,
trọng yếu, liên quan trực tiếp đến đường lối chính trị của Đảng, phương hướng phát triển của
đất nước. Đây là vấn đề trung tâm, cốt lõi trong đường lối cách mạng nước ta; nó chi phối toàn
bộ các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, xây dựng
Đảng. Vì vậy, ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng đều tập trung vào việc xác định mục tiêu

1930 đến nay.
1. 1930 – 1954
Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên (2/1930), Đảng ta đã khẳng định
mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc và CNXH. Cương lĩnh
chỉ rõ "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Bổ
sung cho Chánh cương vắn tắt của Đảng, Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông
15
Dương (10-1930), Đảng ta cũng chỉ ra rằng "Trong lúc đầu, cuộc cách mạng Đông Dương sẽ là
một cuộc cách mạng tư sản dân quyền nhờ giai cấp vô sản chuyên chánh các nước giúp sức
cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN".
Trong giai đoạn 1930 - 1954, hoạt động tư duy của Đảng phải tập trung vào việc thực
hiện những nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
2. 1955-1975.
Hoạt động tư duy về CNXH và con đường xây dựng CNXH của Đảng được tiến hành
khi nhân dân ta bắt tay vào xây dựng CNXH, từ 1955 là ở miền Bắc, sau 1975 là trên cả nước.
Quá trình đó được hình thành trên cơ sở khẳng định những cái đúng, cần kế thừa, những cái
trước kia đúng, nhưng nay không còn phù hợp phải thay đổi, những gì trước đây không đúng
phải kiên quyết khắc phục.
Tháng 8-1955, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 xác định "Đường lối củng cố miền Bắc
là củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên CNXH".
Tháng 1-1956, trong văn kiện về đường lối cách mạng Việt Nam, Bộ Chính trị nhấn mạnh "Từ
khi hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN". Hội nghị
Trung ương lần thứ 13 (12-1957) nhận định: "Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải
phóng, ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH".
Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (11-1958) với việc chủ trương đẩy mạnh công cuộc cải
tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cải tạo XHCN đối
với các thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp; Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (4-1959)
thông qua hai Nghị quyết quan trọng về hợp tác hóa nông nghiệp và về cải tạo công thương
nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc.

+ Tìm tòi con đường đi lên sản xuất lớn: cuộc vận động cải tiến quản lý, tổ chức các
hợp tác xã với quy mô lớn, xây dựng huyện thành huyện nông - công nghiệp
+ Trong quản lý kinh tế, đã đề ra phương hướng: xóa bỏ quản lý hành chính cung cấp,
thực hiện quản lý theo phương thức kinh doanh XHCN.
Tuy nhiên, do điều kiện đất nước lúc đó, mô hình xây dựng CNXH của ta lúc đó qua bộc
lộ hết những nhược điểm, khuyết điểm. Nhưng thực tế đã cho thấy có nhiều cái không phù hợp,
kìm hãm sự phát triển của sản xuất
Như vậy, tư duy của Đảng trong thời kỳ này đã trải qua trên bề rộng và có đi vào chiều
sâu trên một số lĩnh vực chủ yếu, trong đó vấn đề mục tiêu, phương hướng vẫn là cơ bản. Một
số vấn đề mới được phát hiện có giá trị như chỉ ra bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ ở nước
ta. Việc nghiên cứu để đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong điều kiện nước ta là cần thiết,
nhưng một số giải pháp đưa ra không phù hợp. Thiếu sót của ta là chậm nhìn ra nguyên nhân
sâu xa của sự trì trệ trong sản xuất kinh doanh, chậm tìm ra những hình thức kinh tế mới để khắc
phục nhược điểm, khuyết điểm của mô hình cũ, cho phép sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
3.1975 - 1986
Năm 1976, Đại hội IV của Đảng đã phát triển một bước đường lối của Đại hội III, vạch
ra đường lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước: "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát
huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: cách
mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong
đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ
trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN; xây dựng
nền sản xuất lớn XHCN; xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới XHCN; xóa bỏ
chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu ".
Tuy nhiên chúng ta đã phạm một số sai lầm, khuyết điểm trong việc thiết kế các mô
hình cụ thể và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Việc duy trì và áp dụng cơ chế cũ theo kiểu tập trung,
quan liêu, bao cấp không còn phù hợp với tình hình mới. Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta bị
mất cân đối nghiêm trọng, khủng hoảng kinh tế - xã hội đã diễn ra. Cuộc khủng hoảng này thật
sự là một thách thức đối với cả dân tộc và chế độ xã hội ta.
Trong hoàn cảnh đó, Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) đã thông qua 2 Nghị quyết:
Nghị quyết số 20-NQ/TW về tình hình và nhiệm vụ cấp bách và Nghị quyết số 21-NQ/TW về

trong xã hội. Đại hội quyết định chuyển từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, phát huy quyền tự chủ kinh
doanh của đơn vị và cá nhân trong khuôn khổ pháp luật, giải phóng mọi tiềm năng sản xuất.
Với đường lối đổi mới nêu trên, Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới quan trọng
trong nhận thức của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Đại hội VI đã có những nhận thức mới về cơ cấu kinh tế. Đại hội xác định rõ các thành
phần kinh tế ở nước ta gồm: kinh tế XHCN (quốc doanh và tập thể); kinh tế tiểu sản xuất hàng
hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh
tế tư bản, tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức mà hình thức cao nhất là
công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu
số. Với nội dung đổi mới và những quan điểm nêu trên, Đại hội VI không phải là thay đổi mục
tiêu XHCN mà là nhận thức đúng đắn hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.
4. Từ 1986 đến nay
18
Sự phát triển tư duy của Đảng ta ở thời kỳ này diễn ra trong quá trình vừa cụ thể hóa,
bổ sung và phát triển Nghị quyết Đại hội VI, vừa dựa vào những thành tựu tư duy từ trước để
xây dựng Cương lĩnh, hình thành quan niệm về CNXH và con đường xây dựng CNXH trong
thời kỳ quá độ ở nước ta.
- Trong nhiệm kỳ Đại hội VI, Ban Chấp hành Trung ương đã họp nhiều Hội nghị Trung
ương để triển khai Nghị quyết Đại hội VI, đặc biệt Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa VI (3-
1989) đã cụ thể hóa và phát triển nhiều quan điểm của Đại hội VI, nhất là về điều chỉnh cơ cấu
kinh tế theo hướng tập trung thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế; thực hiện
chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm
phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH; đẩy mạnh
hoạt động kinh tế đối ngoại; xây dựng và phát huy dân chủ XHCN, đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đã rút ra nhiều kết luận quan trọng như: chính sách
kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên
CNXH. Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng, nhưng trong hoạt động

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"; "con đường đi lên CNXH ở nước ta
ngày càng được xác định rõ hơn.
Như vậy, đến trước Đại hội IX của Đảng, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở
nước ta theo tinh thần đổi mới đã được xác lập và từng bước được bổ sung, hoàn thiện dần.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001) một lần nữa khẳng định sự kiên định
mục tiêu cách mạng của nhân dân ta là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên
CNXH. Độc lập dân tộc luôn gắn liền với CNXH. Mục tiêu phấn đấu đề ra trong Đại hội IX là
"xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh".
Về thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, Đại hội chỉ rõ: "con đường đi lên CNXH của
nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức bỏ qua việc xác
lập vị trí thống nhất của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng
phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa
đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh
tế hiện đại. Đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường,
nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.
Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế, Đại hội IX xác định: Trong thời kỳ quá độ
ở nước ta tất yếu phải tồn tại các hình thức sở hữu đa dạng, đan xen với 6 thành phần kinh tế
khác nhau: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân;
kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài. Đại hội chỉ rõ các thành phần
kinh tế này đều là những bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X diễn ra trong khi công cuộc đổi mới đã, đang đạt
được những thành tựu rất quan trọng và đất nước có bước phát triển to lớn để hội nhập sâu hơn
vào nền kinh tế thế giới.
Đại hội X nhấn mạnh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ
hơn. Nhận thức sáng tỏ hơn trước hết là mục tiêu và mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với 8
đặc trưng:
+ Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là một xã hội dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
+ Do nhân dân làm chủ.
+ Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất

trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
3
.
- Những phương hướng cơ bản.
Phương hướng cơ bản, Cương lĩnh đề ra nhằm thực hiện thành công các mục tiêu trên:
“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức,
bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao
đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển; chủ động hội nhập quốc tế.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng
cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H, 2011, trang 71
21
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”
4
.
Sự phát triển nhận thức của Đảng thể hiện ở những điểm sau:
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ 3 điểm:
Một là, đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Hai là, về đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng: So với Cương lĩnh
năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có một số điểm mới sau:
- Thêm 2 đặc trưng:
+ Đặc trưng bao trùm, tổng quát: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H, 2011, trang 72
22
Nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm
tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một
thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen.
Chỉ rõ những thuận lợi cơ bản:
- Có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo;
- Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt;
- Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao
động và sáng tạo, luôn luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng;
- Chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng;
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri
thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển.
Bốn là, về mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát: Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 1991) viết: “Mục tiêu tổng quát khi
kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với
kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước
xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. So với Cương lĩnh năm 1991, có điều chỉnh một
vài từ ngữ (thay từ “xong” bằng từ “được”, dùng cụm từ “nền tảng kinh tế” thay cho “những cơ sở kinh
tế”, bổ sung cụm từ “ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, thay cho từ “phồn vinh”).
- Về mục tiêu của chặng đường sắp tới: Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu mục
tiêu đến giữa thế kỷ XXI: toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành
một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về các phương hướng cơ bản
- Cương lĩnh năm 1991 xác định bảy phương hướng cơ bản. Cách xác định như Cương lĩnh năm
1991 đề cập đến cả định hướng phát triển, nên có nhiều nội dung trùng lặp. Kế thừa cách viết như Đại
hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: Để thực hiện thành công các mục tiêu

hội chủ nghĩa;
- Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;
- Giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa;
- Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế;
- Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Nhờ những nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH, công cuộc xây dựng
CNXH của Đảng và của nhân dân ta nói chung, sự nghiệp đổi mới của Đảng ta hiện nay đã và
đang đạt được những thành tựu vô cùng to lớn về mọi mặt, đưa đất nước thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát chấm dứt, đời sống nhân dân ngày
càng được cải thiện. Thành tựu lớn nhất là chúng ta vẫn đứng vững, CNXH ở Việt Nam ngày
càng trở thành hiện thực, trở thành mục tiêu, động lực vươn tới của toàn Đảng toàn dân ta.
2. Nêu khái quát kết quả của 25 năm đổi mới. (Đã có ở Câu 2)
Liên hệ thực tiễn tại địa phương?
* Một số bài học rút ra trong quá trình thay đổi nhận thức:
- Quá trình hoạch định, bổ sung và phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986
đến năm 2011 là quá trình phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận, đổi mới tư
duy. Từ năm 1986 đến nay thực hiện đường lối đổi mới, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi
24
mới trước những vấn đề mới nảy sinh và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Những năm 1986-
2010 là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
- Nếu ở những năm trước đổi mới (1986), Đảng mới đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ
nghĩa với nội dung đường lối chung và đường lối phát triển kinh tế thì trong công cuộc đổi mới từ
năm 1986 Đảng đã tập trung trí tuệ, phát triển nhận thức để hoạch định Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh 1991 là thành quả quan trọng trọng
công tác lý luận của Đảng, là sự nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan, đặc
trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn Việt Nam. Lần đầu tiên, cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam có Cương lĩnh đề cập toàn diện những vấn đề về cách mạng xã hội chủ
nghĩa và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh đó là sự vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa, về

ngừng thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa và đạt được những thành tựu rất quan trọng. Thành
tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội từ công cuộc đổi mới ở Việt Nam và các nước khác phản ánh sự
phát triển phong phú, đa dạng trong nhận thức và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội. Qua hợp tác
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status