Đề cương ôn thi môn chính trị
Câu 1. Phân tích khái niệm vật chất? Rút ra ý nghĩa vè mặt phương pháp luận.
Trả lời:
Quan niệm chủ nghĩa duy vật trước Mác.
Thời cổ đại: Các nhà duy vật phương đông cũng như phương tây đều có xu hướng
đi tìm khởi nguyên vũ trụ từ một dạng vật thể nào đấy
+ ở phương tây ta-lét cho là nước, a-na-xi-men cho là không khí, hê-ra-clit cho là lửa, đêmô-crit cho la nguyên tử
+ ở phương đông: cha-rơ-vác cho là 4 yếu tố: đất,nước, không khí, lửa.Phái ngũ hành cho
là 5 yếu tố: kim, mộc,thủy, hỏa, thổ…
Họ xem đó là vật nguyên thủy, có trước,sinh ra mọi vật gọi đó là vật chất.
Thời cận đại: lịch sử triết học đã xác nhận công lao to lớn của các nhà triết học duy vật
thời kỳ này như: Be-cơn, hốp- xơ, xpi-nô-da, đi-đrốp, hôn- bách…họ đã có những đóng
góp nhất định vào việc phát triển quan niệm về vật chất.Chẳng hạn xpi-nô-da quan niệm
về vật chất như là nguyên nhân về bản thân nó với số những thuộc tính vốn có.Hôn- bách
thì cho rằng vật chất là tất cả những gì tác động vào giác quan ta, những đặc tính khác
nhau của các chất mà ta biết được là nhờ cảm giác.
Cuối thế kỷ 19 đầu thé kỷ 20 người ta phát hiện ra dạng mới của vật chất như dạng trường,
dạng hạt.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác lê- nin.
Mác và Ăng –ghen tuy chưc đưa ra định nghĩa về vật chất nhưng tư tưởng cơ bản về vật
chất đã được 2 ông đề cập đến. Hai ông nêu ra tư tưởng: đối lập giữa vật chất và ý thức,
tình thống nhất của thế giới, tính khái quát của phạm trù vật chất
Trên cơ sở kế thừa và tư tưởng của Mác va Ăng- ghen Lê – nin đã đưa ra một định nghĩa
khoa học về phạm trù vật chất như sau:
“Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cản giác của chúng ta chép lại chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”.
+ “Vật chất là một phạm trù triết học”: Nó không tồn tại cảm tính nghĩa là nó không
tồn tại dạng cụ thể mà ta thường gọi là vật thể.Vật thể là những cái có hạn, có sinh, có diệt,
Sự vật hiện tượng bao giờ cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập lượng và chất, lượng
nào chất ấy, chất nào lượng ấy. Không có chất lượng tồn tại tách rời nhau.
Sự thống nhất giữa lượng và chất được thẻ hiện trong giới hạn nhất định gọi là” độ”. Vậy
độ là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất. Hay “ độ” là giới hạn mà ở đó
đã có sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất. Sự vật, nó còn là nó, nó
chưa là cái khác.
Chất là mặt tương đối ổn định, lượng thì có nhiều biển đổi hơn, lượng biến đổi trong giới
hạn độ thì sự vậtchưa biến đổi. Nhưng lượng biến đổi vượt độ thì nhất định gây nên sự
biến đổi về chất. Chất biến đổi thì sự vật biến đổi. Chất biến đỏi gọi là nhay vọt, nhảy vọt
là bước ngoặt của sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất. Sự vật cũ mất đi sự vật mới
ra đời. Nhảy vọt xảy ra tại điểm mút. Điểm mút là tột đỉnh của giới hạn, tại đó diễn ra sự
nhảy vọt.
Cứ thế quá trình tác động biện chứng giữa hai mặt lượng và chất, tạo lên cach thức vận
động phát triển của sự vật. Thể hiện sự thống nhất giữa tính liên tục và tính đứt đoạn trong
sự vận động phát triển của sự vật là vậy.
Đảng và nhà nước đã vận dụng nó:
Chia lam 2 thời kỳ:
Thời kỳ trước năm 1986 đường lối kinh tế nước ta là đường lối quan liêu, bao cấp, tự
cung, tự cấp.Nhà nước năm quyền, hình thức công hữu tư liệu sản xuất.
Thời kỳ phong kiến kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, thấp kém,áp dụng vào thời kỳ nay
không phù hợp, chính ra phải phát triển hình thức cá thể mời thúc đẩy phát triển kinh tế.
Sau năm 1986, nhận thức của đảng có sự thay đổi, trong thời gian này không thể không
nói đến cuộc khủng hoảng trềm trọng đã diễn ra. Nền kinh tế nghèo nan, có nhiều trình độ
sản xuất khác nhau tương ứng với quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu nhiều thành
phần kinh tế…có các hình thức sở hữu tư nhân sở hữu tập thể…
Khi nó không phù hợp với nhau mới có hình thức công hữu.
Câu 3: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng, rút ra ý nghía phương pháp luận.
Cơ sở hạ tầng là những mối quan hệ sản xuất trong xã hội, ngược lại kiến trúc thượng tấng
có sự tác động của cơ sở hạ tầng.
Câu 4: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? từ đó rút ra
phương pháp luận.
Trả lời:
Mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức:
Vật chất: - Vận động theo nghĩa hẹp là sự di chuyển vị trí trong không gian.
Định nghĩa đầy đủ kho học về vậ động theo quan điểm của ăng ghen: Vận động là một
phương thức tồn tại của vật chất, bao gồm tất cả mọi sự thay đổi mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.Vận động là một phương thức
tồn tại của vật chất nghĩa là vật chất tồn tại bằng phương thức vận động không có vận
động thì vật chất không tồn tại.Mặt khác vận động còn là thuộc tính của vật chất nen vận
động và vật chất không thể tách rời nhau.
Ý thức: là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được sáng tạo lại theo những mục
đích định trước của con người. Hay ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan được di
chuyển vào đầu óc con người và cải biến đi.
-
Vật chất quyết định ý thức:
Vật chất được hiểu đó là cơ sở vật chất, điều kiện vật chất, quy luật khách quan là những
tiền đề cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức.
Điều kiện vật chất như thế nào ý thức như thế đó.
Cơ sở vật chất điều kiện vật chất còn là nơi hình thành các công cụ phương tiện, nối dài
các giác quan của con người để nhận thức thế giới.
Cơ sở vật chất điều kiện vật chất môi trường sống còn là nơi kiểm nghiệm nhận thức của
con người, xác định nhận thức đúng, bác bỏ nhận thức sai.
-
nhận thức của con người về thế giới tuy nhiên đây chỉ là sự ngắm nhìn thế giới.
Quan điểm chủ nghĩa Mác le-nin:
Bản chất của nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người.
Nhưng đó không phải là sự phản ánh giản đơn, thụ động, mà là sự phản ánh chủ động, tích
cực sáng tạo của chủ thể trước khách thể.
Chủ thể nhận thức là con người.: con người cóa hai mặt tự nhien và xã hội.trong hai mặt tự
nhiên và xã hội mạt bản chất của con người là mặt xã hội.
Khách thr nhận thức là hiện tượng khách quan, nằm trong phạm vi hoạt động của con
người.
Nhận thức làsự phản ánh của chủ thể đối với khách thể các nghành khoa học đã chứng
minh chưa biết.
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan nhưng không phải là sự phản ánh thụ động
mà là sự phản ánh chủ động tích cực sáng tạo.Không chỉ phản ánh cái tồn tại mà phản ánh
cái sẽ tồn tại.
Cơ sở nội dung và phương hướng đổi mới nhận thưc của nước ta hiện nay.
Đất nước ta từ sau ngày được giải phóng hoàn toàn, cả nước thống nhất đi vào XHCN.
Dưới sự lãnh đạo của đảng , sự nghiệp cách mạng của nhân dân đã thu được những thành
tựu nhất định. Tuy vậy, trên nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội còn trì trệ, lệch lạc dẫn đến
khủng hoảng trầm trọng nhiều khó khăn chồn chất, lòng tin của nhân dân với đảng giảm
sút. Thực trạng đó đòi hỏi phải xem xét để đổi mới nhận thức, đổ mới tư duy.
Đổi mới nhận thức, còn là yêu cầu của thời đại, thời đại ngày nay đang có nhiều biến đổi
sâu sắc về kinh tế chinha trị, văn hóa xã hội với quy mô lớn chưa từng có. Thực tiễn đó đòi
hỏi đổi mới sâu sắc, toàn diện trong đó đổi mới nhận thức đang là yêu cầu sống còn, là quy
luật tồn tại và phát triển của các nước XHCN.
Ổ hội nghị TW 6 khóa IV(8.1979) với tư tưởng “làm cho sản xuất bung ra” là bước đột
Trả lời:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất cá nhân hay tính chất xã hội trong việc sử
dụng tư liệu lao động, mà chủ yếu là công cụ lao động của con người để chế tạo ra sản
phẩm.
+ Nếu như công cụ lao động chỉ cần một người sử dụng thì tính chất của lực lượng sản
xuất là tính chất ca nhân
+ Còn nếu công cụ là những máy móc liên hoàn thì tính chất của lực lượng sản xuất là tính
chất xã hội.
Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của KHCN KHKT công cụ lao
động, phân công lao động và người lao đọng trong đó phân công lao động đi liền với nó là
trình độ chuyên môn hóa là sự biểu hiện rõ ràng nhất.
Mối quan hệ biện chứng:
-
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
+ Lực lượng sản xuất như thế nào về tính chất và trình độ thì đòi hỏi quan hệ sản xuất như
thế ấy để đảm bảo sự phù hợp.
+ Khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về tính chất và trình độ thì quan hệ sản xuất cũng
phải thay đổi theo để đảm bảo sự phù hợp.
+ Khi lực lượng sản xuất cũ mất đi, lực lượng sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất cũ
cũng phải mất đi và quan hệ sản xuất mới ra đời để đảm bảo sự phù hợp.
-
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất:
+ Nguyên tắc của sự tác động trở lại: là nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy lưc lượng sản xuất phát triển, ngược lại nếu