Anh chị hãy phân tích tác động của con người gây biến đổi khí hậu tác hại của biến đổi khí hậu đến môi trường sống, đề xuất các - Pdf 34

TIỂU LUẬN
Đề bài:
Anh chị hãy phân tích tác động của con người gây biến đổi khí hậu. Tác hại của biến đổi
khí hậu đến môi trường sống, đề xuất các biện pháp giảm thiểu.

Họ và tên : Nguyễn Văn Đồng
MSSV

:718055

Lớp

: 55HK


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

BÀI LÀM
Chúng ta đang sống trong một thế giới với hơn 7 tỷ người trên diện
tích 149.000.000 km². Với quy mô lớn như vậy, con người đang từng bước
làm thay đổi diện mạo của trái đất, gây nên nhiều vấn đề làm tổn thương
nghiêm trọng đến môi trường sống. Chính vì vậy, môi trường đang là vấn đề
được cả thế giới quan tâm.
Trong bài tiều luận này, chúng ta sẽ bàn về các tác động của con
người đến biến đổi khí hậu, một trong những vấn đề lớn nhất mà chúng ta
phải đối mặt hiện nay, tác hại của biến đổi khí hậu đến môi trường sống và
các biện pháp giảm thiểu.
I. Thế nào là biến đổi khí hậu?
Trước tiên chúng ta cần hiểu: Biến đổi khí hậu là gì?
Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên

nhiều ảnh hưởng của BĐKH mà hầu hết là nước thu nhập thấp, trẻ em dưới
18 tuổi lên đến gần một nửa dân số (như 42% ở Băng-la-đét, 51% ở An-giêri, 57% ở U-gan-da). Quan trọng hơn là trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tới 10 20% dân số ở các nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH như Ấn Độ
(11%), Băng-la-đét (12%), An-giê-ri và Mô-dăm-bích (17%), U-gan-da
(21%), trong khi các nước có thu nhập cao, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi chỉ chiếm
4 - 5% dân số.
II. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Vậy nguyên nhân gì đã gây nên Biến đổi khí hậu

3


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trái đất bao gồm cả tự nhiên và nhân tạo.
Đó có thể là do sự chuyển động và thay đổi độ nghiêng của trục quay Trái
Đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất quanh Mặt Trời, vị trí các lục địa
và đại dương và đăc biệt là sự thay đổi các thành phần vật chất trong khí
quyển. Tuy nhiên, nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là
sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ yếu do hoạt động của con
người.

Dân số tăng nhanh, các nhà máy, khu công nghiêp tăng cường hoạt
động để đáp ứng các nhu cầu của con người ( nhu cầu ăn, mặc, ở, thuốc
men,đi lại,…)
Đầu tiên, dân số tăng liên tục cũng là một nhân tố gây Biến đổi khí hậu thế
giới, vì càng nhiều người sinh sống trên Trái Đất sẽ càng thải ra nhiều lượng
khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính.

4


tăng lên hơn 9 tỷ người. Tuy nhiên, nếu hạn chế được dân số ở mức 8 tỷ
người thì sẽ giảm bớt được 2 tỷ tấn khí thải CO2.
Tiếp đến, các hoạt động của các nhà máy, các khu công nghiệp để
phục vụ cho các nhu cầu của con người cũng là nguyên nhân gây Biến đổi
khí hậu. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người
đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu
hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng
các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của
trái đất.

Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các
lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ
băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong
khí quyển chỉ khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng

6


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm
lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào
năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt
xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O)
cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công
nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất
khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng
lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình
lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công

được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao
phủ. Nam cực bị tan chảy, động thực vật ở vĩ tuyến thấp sẽ chịu tác động
lớndo tiếp xúc trục tiếp với ánh sáng Mặt trời. Cây cối ở Nam cực đa số
bị bao phủ quanh năm dưới lớp băng. Nay khi băng tan và mùa xuân đến
sớm khiến chúng lộ ra trên mặt đất, đâm chồi và ra hoa. Nghiên cứu chothấy
sản phẩm của sự quang hợp là clorophyl trong những lớp đất hiện đại có
hàm lượng cao hơn hẳn do với đất cổ, chứng tỏ rằng trong những năm qua
thực vật Nam cực bắt đầu có sự phát triển bột phát.
Nhiệt độ Trái đất tăng, không chỉ làm tan chảy những sông băng, núi băng
mà cả những lớp đất bị đóng băng vĩnh cửu dưới mặt đất. Hiệntượng này

8


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

làm đất bị co lại, khiến cho bề mặt trở nên không bằng phẳngnữa, chỗ lõm
xuống thành hố sâu, chỗ trồi lên thành đồi núi, có thể xa lộ,đường sá, nhà
cửa trên mặt đất bị nứt gãy. Ở vùng núi cao, sự tan chảytầng đất băng giá
vĩnh cứu gây ra hiện tượng trượt đá, trượt bùn. Những phát hiện mới cho
thấy chúng còn làm bùng phát các bệnh tiềm ẩn chẳnghạn bệnh đậu mùa có
thể quay trở lại khi phát lộ những các thi hài cổ xưa bị chảy rữa cùng với đài
nguyên (tundra).
b. Mực nước biển đang dâng lên

Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần
dânglên. Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên
tráiđất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.Các
nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo
băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếpđến các

thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn
hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn
cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ
chịu cảnh đói khát. Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi
đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng
thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước
tính, đếnnăm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi
thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của
lụcđịa này sẽ giảm khoảng 50%.Đợt nắng nóng quét qua Châu Âu hồi năm
2003 đã làm thiệt mạng khoảng 35 ngàn người. Đó thật sự là dấu hiệu đáng
báo động của những thay đổi ngày càng tồi tệ của khí hậu.Các đợt nắng
nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với
trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của
chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay.
Hiện tượng nóng lên toàn cầu còn là nguyên nhân tực tiếp gây nên nhữngvụ
cháy rừng dữ dội. Trong những thập kỷ qua, các vụ cháy rừng ngàycàng phổ

11


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

biến hơn và kéo dài hơn. Các nhà khoa học đã tìm ra mối liên quan giữa
những vụ cháy không thể khống chế được với sự tăng nhiệt độ của môi
trường và hiện tượng tuyết tan sớm trong các năm, khiến rừng trở nên khô
hơn với thời gian lâu dài hơn khiến rừng dễ cháy hơn và cháy mãnh liệt hơn.
e. Mất đa dạng sinh học

Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất

thay đổi dần cách sống cả một quần thể.

13


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

2. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam
a. Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường
Ở nước ta, biến đổi khí hậu thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời
tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng lẫn cường độ. Trong khi tình trạng
nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè kéo theo hạn hán dữ dội trên diện
rộng, thì trong những năm gần đây số cơn bão có cường độ mạnh cũng xuất
hiện nhiều hơn. Nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, phức tạp,
khó dự đoán và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn.

Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên,
kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn.
Năm 2010, nhiệt độ có khả năng tăng khoảng 0,3 - 0,50C và mực nước biển
tăng thêm 9cm; tương tự, từ 1,1 - 1,80 C và 45cm vào năm 2100. Những khu
vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung
Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,30C/thập niên. So với hiện
14


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

nay, vào năm 2070, dòng chảy sông/năm biến đổi trong khoảng từ +5,8 đến
-19% đối với sông Hồng và từ +4,2 đến -14,5% đối với sông Mê Kông; dòng
chảy kiệt biến đổi trong khoảng từ -10,3 đến -14,5% đối với sông Hồng và

mùa màng; hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi
lớn hơn lượng mưa nhiều lần đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, có thể
dẫn tới làm chết cây trồng hàng loạt. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy,
trong mùa khô, độ ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3
so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ, nhiệt độ trên bề mặt đất
có thể tăng cao tới 50-60oC vào buổi trưa hè. Những đặc điểm cơ lý của đất
như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm
lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không
thích hợp với trồng trọt. Hàng triệu héc ta đất trống, đồi trọc mất rừng lâu
năm, đất mặn bị biến đổi cấu tạo và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói lở, rửa trôi
mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết vón và đá ong hoá, đất loại
này hoàn toàn mất sức sản xuất nông, lâm nghiệp. Chỉ tính riêng đợt rét kéo

16


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

dài 33 ngày đầu năm 2008, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, đã có 33.000 con trâu, bò, 34.000 ha lúa đã cấy, hàng
chục ngàn ha mạ non, nhiều đầm nuôi tôm ở tất cả các tỉnh phía Bắc và Bắc
Trung Bộ đã chết và ước tính thiệt hại lên tới hàng ngàn tỉ đồng.
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải, trên 3.000
đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ.. Hiện tượng biến đổi khí hậu với tình
trạng nước biển dâng làm tăng diện tích đất liền bị ngập lụt, gây khó khăn
cho thoát nước, tăng uy hiếp sự an toàn của những vùng có đê biển, làm xói
lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
và sinh hoạt của dân cư vùng ven biển, gây nguy cơ đối với các hoạt động
khai thác và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của ngư dân ven biển. Nơi sinh
sống thích hợp của một số loài thuỷ sinh nước ngọt bị thu hẹp, cùng với

thông thuận lợi, sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức
trong thoát nước do lũ từ sông và nước biển dâng. Các điều kiện khí hậu cực
đoan và thiên tai gia tăng cũng gây khó khăn trong việc cung cấp nguyên, vật
liệu cho các ngành công nghiệp, đồng thời làm giảm tuổi thọ của các công
trình, linh kiện, máy móc, thiết bị
c. Tác động đối với đời sống - xã hội
Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng người mất nhà cửa và kinh tế
lâm vào khó khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn. Điển hình là cơn bão
18


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

số 4 năm 2008 đã làm 162 người chết, làm sập, hỏng 11.500 căn nhà, trường
học, gây ngập úng 27.200 ha lúa và hoa màu, làm sạt trôi và bồi lấp 2,3 triệu
khối đất đá trên các công trình giao thông, thủy lợi và các khu nuôi trồng
thủy sản, làm chết 28.000 gia súc, gia cầm, thiệt hại lên tới 1.900 tỉ đồng.
Hậu quả của thiên tai không chỉ dừng lại ở đó, ảnh hưởng của chúng còn tồn
tại sau một thời gian dài, chất lượng sống con người ảnh hưởng nghiêm
trọng do thiếu ăn, thiếu nhà ở, y tế và giáo dục không đảm bảo.
Mới đây, theo báo cáo của Uỷ ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định,
BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như
sóng nhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác
động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền
qua vật trung gian, như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường
ruột và các bệnh khác… Những bệnh này, đặc biệt phát tán nhanh ở các
vùng kém phát triển, đông dân cư và có tỉ lệ đói, nghèo cao thuộc các nước
đang phát triển. Nước ta, trong thời gian qua cũng đã xuất hiện một số bệnh
mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn tai xanh…), nhiều bệnh có
diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra nhiều thiệt

đổi khi hậu cho nên càng cần thực hiện những giải pháp đồng bộ, vừa góp
phần làm giảm biến đổi khí hậu vừa có những biện pháp thích ứng với tình
trạng biến đổi khí hậu.
a. Để ứng phó với bão, lũ lụt trên toàn lãnh thổ và nước dâng do bão ở các
vùng ven biển
- Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ,
lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
- Tăng cường công tác dự báo thời tiết trên cơ sở hiện đại hoá ngành khí
tượng thủy văn (cả về con người và cơ sở vật chất).
20


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

- Tăng cường công tác thông tin thời tiết trên các phương tiện thông tin đại
chúng, đặc biệt là hệ thống phát thanh để đến được các vùng sâu, vùng xa,
ngư trường, hải đảo…

- Tăng cường cơ sở vật chất và mạng lưới cứu hộ thiên tai bão, lũ, đặc biệt là
vùng núi, ven biển, hải đảo và các ngư trường biển.
- Nhà nước quy hoạch, xây dựng các khu vực tránh bão, tránh lũ, vận động
người dân (có điều kiện kinh tế) xây nhà kiên cố, nhà cao tầng nhằm hạn chế
tối đa tổn thất về người và của. Từng địa phương, vùng có phương án, tổ
chức diễn tập theo phương án và tổ chức tốt cho người dân di chuyển đến
nơi cao và an toàn trước các trận bão và lũ lụt, nước dâng có cường độ lớn.
- Nhà nước có kế hoạch từng bước nâng cấp hệ thống đê biển, đê sông, trồng
cây chắn sóng, trồng rừng ngập mặn ngoài đê để hạn chế tác động của bão,
lũ và nước dâng.
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục vận đồng người dân nâng cao nhận
thức và áp dụng các kĩ thuật giảm nhẹ, thích ứng với tình huống.

+ Giảm thiểu hiện tượng nhiễm mặn đồng bằng thông qua chính sách quản
lý và bảo vệ lưu vực sông.

22


Nguyễn Hữu Hải- Lớp 55HK

Trong đó, đặc biệt quan tâm đến hợp tác quốc tế trong quản lý lưu vực sông
Mê Kông, sông Hồng.
+ Đối với các sông miền Bắc và miền Trung cần xây dựng quy trình vận
hành điều phối các hồ chứa thủy lợi, thuỷ điện đầu nguồn.
+ Thúc đẩy nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng chống, chịu mặn,
ngập úng nhằm chuẩn bị để thích ứng với những biến đổi trong tương lai.
Đồng thời, tìm kiếm, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm (đặc biệt là các kiến
thức bản địa) về thích ứng với khả năng BĐKH và thích nghi với nhiễm
mặn, nhiễm phèn…
+ Đưa vấn đề BĐKH vào chương trình học tập ở cấp trung học trở lên, phổ
biến thông tin về BĐKH và các giải pháp thích ứng, ứng phó khẩn cấp và
nâng cao nhận thức về các thảm hoạ liên quan đến thiên tai, khí hậu.
c. Hợp tác quốc tế ứng phó với BĐKH trái đất
- Việt Nam cần thoả thuận kí kết các hiệp định đa phương, song phương về
hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới, thân thiện với môi trường và
phối hợp, xây dựng, thực hiện các dự án CDM nhằm phục vụ phát triển bền
vững và giảm phát thải khí nhà kính.
- Nhà nước cần tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong
lĩnh vực BĐKH và thoả thuận hợp tác về cơ chế phát triển sạch, đẩy mạnh
hợp tác tài chính, công nghệ và xây dưng năng lực trong giai đoạn mới sau
Nghị định thư Kyoto, tích cực tham gia các cuộc hội thảo, hội nghị và đàm
phán quốc tế về các vấn đề liên quan đến BĐKH.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status