ANH (CHỊ) hãy PHÂN TÍCH về sự BIẾN ĐỘNG của tỷ GIÁ hối đoái - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: THANH TOÁN QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH VỀ SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ THỊ TRƯỜNG TỰ DO TRONG 5 NĂM
QUA, THEO ANH (CHỊ) THÌ NHỮNG BIẾN ĐỘNG ĐÓ CÓ ẢNH HƯỞNG GÌ
ĐẾN TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: T.S. NGUYỄN XUÂN DƯƠNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ PHƯƠNG PHÚ
MSSV : 11010543
Lớp : DHKT7ATH
THANH HÓA, THÁNG 03 NĂM 2014
Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
quốc gia, tỷ giá ảnhcủa các đồng ngoại tệ mạnh như USD hay EUR đã ảnh
hưởng khônghỏ đến hoạt động kinh doanh của các công ty kinh doanh xuất nhập
khẩu. Nếu không đánh giá đúng và lượng hóa được những ảnh hưởng đó các
công ty xuất nhập khẩu sẽ là người phải hứng chịu rủi ro.
Nhận thức tầm quan trọng của thị trường ngoại hối nhà nước ta đã có
những chính sách nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhưng vì đó là sự quản lý vĩ
mô không thể sát sao được với từng công ty xuất nhập khẩu, vì vậy nghiên cứu
ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến hoạt động kinh doanh của công ty xuất nhập
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:4

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
khẩu là việc cần thiết.
Điều đó làm hạn chế tác động của tiêu cực và tận dụng mặt tích cực của
biến động tỷ giá đến xuất, nhập khẩu của các công ty kinh doanh.
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:5

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI, THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI VÀ THỊ TRƯỜNG TỰ DO
1.1. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái
Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
- Khái niệm 1: Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên
thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất
định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền
tệ nước kia gọi là tỷ giá hối đoái.
- Khái niệm 2: Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở một khía cạnh khác,
đó là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau theo tiêu chuẩn nào
đó.
+ Trong chế độ bản vị vàng, tiền tệ trong lưu thông là tiền đúc bằng vàng

tại các ngân hàng và là cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.
Tỷ giá thư hối(M/T): Tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
- Nếu dựa vào phương tiện thanh toán quốc tế:
Tỷ giá séc và hối phiếu trả tiền ngay: được mua bán theo một tỷ giá mà cơ
sở để xác định nó bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi một đơn vị ngoại tệ trong
toàn bộ trị giá của séc và hối phiếu phát sinh theo số ngày cần thiết của bưu điện
để chuyển séc từ nước này sang nước khác và theo số ngày kể từ lúc ngân hàng
bán hối phiếu đến lúc hối phiếu được trả tiền.
Tỷ giá hối phiếu có kì hạn: Bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh
từ lúc ngân hàng bán hối phiếu đến lúc hối phiếu đó được trả tiền. Thời gian này
thường là bằng thời hạn trả tiền ghi trên hối phiếu cộng với thời gian chuyển tờ
hối phiếu đó từ ngân hàng bán hối phiếu đến ngân hàng đồng nghiệp của nó ở
nước của người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu. Thông thường lãi suất được tính
theo lãi suất của nước mà đồng tiền được ghi trên hối phiếu.
+ Tỷ giá bán: Là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối ra.
Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:7

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
- Nếu căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ :
+Tỷ giá đóng cửa: Thông thường ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá
của các hợp đồng đã kí kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng
kí cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi là tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa
được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày đó.
Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá của chuyến giao dịch ngoại hối đầu tiên trong một
ngày.
Nếu căn cứ vào hình thức ngoại hối:
Tỷ giá tiền mặt.
Tỷ giá chuyển khoản.

- Áp dụng TGHĐ cao đối với những hàng hoá cần phải hạn chế nhập khẩu,
còn đối với hàng hoá cần khuyến khích nhập khẩu thì áp dụng TGHĐ thấp.
- Áp dụng TGHĐ ưu đãi đối với khách du lịch, kiều hối và các tư nhân gửi
tiền vào trong nước.
- Cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào khu vực thị trường nào thì áp dụng
TGHĐ cao.
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái.
Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971, quan hệ tiền tệ giữa
các nước được “thả nổi”, trong đó, điển hình nhất là cơ chế "tỷ giá thả nổi" của
các đồng tiền quốc gia tư bản chủ nghĩa. Với cơ chế này, hàng ngày trên thị
trường do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
Mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ
giá.
Giả sử trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, năng suất lao động của hai
nước tương đương như nhau, quản chế ngoại hối tự do, một loại hàng hoá A ở
Mỹ có giá trị 1 USD và tại Nhật là 120 JPY, có nghĩa là ngang giá sức mua đối
nội của hai tiền tệ này là USD/JPY = 120. Nếu ở Mỹ có mức lạm phát là 5% và
ở Nhật là 10% thì giá loại hàng A ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD, ở Pháp tăng lên là
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:9

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
132 JPY. Do đó, ngang giá sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD = 132 JPY.
Hay là :
JPYJPYUSD 71,125
05,1
132
/ ==

Tỷ giá trước lạm phát USD/JPY = 120
Tỷ giá sau lạm phát USD/JPY = 125,71 JPY.

1.2. THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI
K/n: Thị trường ngoại hối là thị trường nơi diễn ra việc mua bán trao đổi
các ngoại tệ giữa các thể nhân và pháp nhân
Đặc điểm : có 2 đặc điểm :
- Thị trường ngoại hối là thị trường giao dịch mang tính chất quốc tế phạm
vi hđ của nó lan rộng khắp toàn cầu nhằm phục vụ cho những nhu cầu mua bán
giao dịch về ngoại tệ
- Thị trường hđ liên tục do sử dụng những phương tiện hiện đại trong giao
dịch,do chênh lệch về múi giờ
Chức năng của thị trường ngoại hối :
- Cung cấp dịch vụ cho kh để thực hiện các giao dịch kinh tế đối ngoại giúp
luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế
- Thông qua cơ chế TT ngoại hối hình thành giá cả trao đổi ngoại tệ , tỉ giá
hối đoái hình thành một cách khách quan theo quy luật KTTT
- Cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi roc ho các chủ thể tham gia trên thị
trường
- Là nơi để NHTW can thiệp vào tỷ giá theo hướng có lợi đối với nền kinh
tế
Thị trường hối đoái là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán
ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác. Đây cũng là nơi
hình thành tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu, là một bộ phận của thị trường
tài chính có trình độ phát triển cao.
Thị trường hối đoái là nơi giao dịch mua bán các đồng tiền chuyển đổi. Các
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:11

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
đồng tiền mạnh, có tính chuyển đổi cao được giao dịch nhiều nhất là Đôla Mỹ,
Yên Nhật Bản, Mác Đức. Thị trường hối đoái là thị trường phi tập trung. Ba thị
trường hối đoái lớn nhất thế giới là London, Tokyo, New York.Thị trường hối
đoái có quy mô giao dịch trong một ngày trên một nghìn tỷ đôla, ví dụ năm 1998

giá giá cả, hoặc phân phối như thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân.
Những người ủng hộ thị trường tự do về mặt truyền thống xem thuật ngữ này
ngụ ý rằng các phương tiện sản xuất là thuộc tư nhân, không phải thuộc kiểm
soát của nhà nước. Đây là cách sử dụng đương đại cụm từ "thị trường tự do" bởi
các nhà kinh tế và văn hóa đại chúng; thuật ngữ này trong lịch sử đã có các cách
sử dụng khác.
Một nền kinh tế thị trường tự do là một nền kinh tế nơi mà tất cả các thị
trường bên trong nó không được kiểm soát bởi các bên khác hơn so với những
người tham gia trên thị trường. Ở dạng thuần khiết nhất của nó chính phủ đóng
một vai trò trung lập trong việc quản lý và điều ban hành pháp luật về hoạt động
kinh tế không giới hạn và cũng không tích cực thúc đẩy nó (ví dụ như điều tiết
các ngành công nghiệp cũng như trợ cấp cung cấp cho các doanh nghiệp cho
phép một mình bảo vệ họ khỏi áp lực thị trường nội / ngoại). Một nền kinh tế
như vậy dưới hình thức cực đoan nhất của nó không tồn tại trong nền kinh tế
phát triển, tuy nhiên những nỗ lực tự do hóa nền kinh tế hoặc nỗ lực làm cho nó
"tự do hơn" để hạn chế vai trò của chính phủ theo cách như vậy.
Lý thuyết này cho rằng trong một thị trường lý tưởng tự do, quyền sở hữu
được trao đổi một cách tự nguyện trao đổi ở một mức giá được thỏa thuận chỉ
bằng sự đồng ý lẫn nhau của người bán và người mua. Theo định nghĩa, người
mua và người bán không ép buộc lẫn nhau, theo nghĩa là họ có được quyền sở
hữu của nhau mà không sử dụng vũ lực, đe dọa của lực lượng vật chất, hoặc
gian lận, cũng không phải là họ bị cưỡng chế do bên thứ ba (như của chính phủ
thông qua các khoản thanh toán chuyển giao)và họ tham gia vào thương mại đơn
giản chỉ vì họ đều đồng ý và tin rằng những gì họ đang nhận được là giá trị
nhiều hơn hoặc càng nhiều càng tốt những gì họ bỏ đi. Giá là kết quả của các
quyết định mua bán hàng loạt như được mô tả bởi các lý thuyết về cung và cầu.
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:13

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG THỊ

đồn ,…
Giai đoạn 2 (từ 25/11 đến hết năm 2009)
tỷ giá bắt đầu giảm về quanh mức 18.500 đồng /USD. Chênh lệc tỷ giá
giữa NHTM và thị trường và thị trường tự do đã giảm đáng kể từ mức kỷ kỷ lục
20000vnd xuống còn trên dưới 1000vnd vào thời điểm cuối tháng 11. Từ ngày
10/12, NHTM còn giữ nguyên tỷ giá bình quân lien ngân hàng ở mức
17.941VND/USD và tỷ giá bán của các NHTM đạt mức trần là
18.479VND/USD.
Nguyên nhân là do NHNN thực hiện các biện pháp bình ổn tỷ giá, đặc biệt
có sự chung góp sức của các NHTM đã làm giảm tỷ giá sau 1 giai đoạn đầy biến
động.
Như vậy , diễn biến tỷ giá VND/USD trên thị trường chính thức cũng như
thị trường tự do trong năm 2009, đặc biệt vào 2 tháng cuối năm có nhiều biến
động thường cho dù nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi khá ấn tượng sau cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu.
2.2. BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ NĂM 2010
Giá USD đã tăng khá mạnh trong 2 năm 2008 và 2009, sang đến tháng
1.2010 lại giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479 đồng/USD cho đến
giữa tháng 2/2010.Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể sẽ tăng khá từ
các nguồn: Từ nước ngoài, lượng USD vào nước ta sẽ tăng khá so với năm
trước, kể cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp (thực hiện tháng 1 tăng 33,3%); Vốn hỗ
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:15

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết, ký kết đạt mức kỷ lục; Vốn đầu
tư gián tiếp khi các nhà đầu tư nước ngoài liên tục mua ròng trên thị trường
chứng khoán; Nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài
gia tăng; Nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng
20,4%); Kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng
dương…Bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ

03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức
kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh
khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng
USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% - 4,5%/năm. Quy định này
được bình luận là đặt các tổ chức đó vào thế “tự xử”, phải tính toán lợi ích và
xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn.
Khớp với chính sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD
mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này.
Thứ tư, chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các
doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Lãi suất vay VND tăng
cao đầu năm 2010, lên từ 15% - 17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất
vay USD chỉ khoảng 6% - 9%/năm. Chênh lệch này khiến một bộ phận doanh
nghiệp chọn “đường vòng” vay USD rồi bán lại lấy vốn VND, tăng cung ngoại
tệ cho thị trường. Ngoài chênh lệch lãi suất lớn, lựa chọn này được hỗ trợ bởi kỳ
vọng tỷ giá USD/VND sẽ ổn định, hoặc rủi ro biến động không quá lớn trong kỳ
vay vốn. Thực tế, tỷ giá USD/VND gần như cố định kể từ tháng 2 đến nay.
Thêm vào đó, ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư
số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt
là các đối tượng xuất khẩu.
Tác động này được dẫn chứng ở tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng
đột biến tới 14,07% trong quý 1/2010, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm
2,24%.
Những tác động chính trên tạo sự cộng hưởng từ loạt chính sách điều hành
với diễn biến thực tế thị trường. Và thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước liên
tục phát đi thông điệp thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực.
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:17

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Các doanh nghiệp đã
bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng thương mại, tính thanh khoản của thị

Tháng 10-2010, thị trường ngoại hối bắt đầu đón một cơn sốt thực sự của tỷ
giá USD/VND trên thị trường tự do và kéo dài cho đến hết năm. Lần đầu tiên
trong lịch sử chênh lệch giữa giá USD trên thị trường tự do với giá USD niêm
yết của các ngân hàng thương mại có thời điểm lên tới gần 10%!
Phía sau những căng thẳng đó là sự chảy máu của dự trữ ngoại hối với yêu
cầu bình ổn. Và như một phản ứng thông thường, thị trường nảy sinh những tin
đồn, hay đúng hơn là sự chờ đợi một lần điều chỉnh tỷ giá nối tiếp của Ngân
hàng Nhà nước. Sự đồn đoán lúc đó tính đến một khả năng rằng, nhà điều hành
sẽ tăng mạnh tỷ giá vào cuối tháng 1-2011, thời điểm trước kỳ nghỉ Tết Nguyên
đán, tranh thủ một kỳ nghỉ dài để “pha loãng” hiệu ứng tâm lý. Nhưng không.
Bên lề nhật ký theo dõi quãng biến động này của tỷ giá USD/VND, có một
sự kiện được ghi lại: thời điểm chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng lần thứ XI. Có ý
kiến cho rằng chính trị luôn là một yếu tố quan trọng và hiển nhiên của mọi hình
thái kinh tế - xã hội. Nó gắn với những biến động của nền kinh tế. Và trong
những tình huống nhất định, sự lựa chọn được đặt ra. Việc điều chỉnh tỷ giá đã
không được thực hiện trong thời điểm đó.
Sự căng thẳng của tỷ giá USD/VND cuối năm 2010 được chuyển tiếp sang
đầu năm 2011 như vậy. Và điều thị trường chờ đợi rồi cũng đến với sự kiện ngày
11-2-2011: lần đầu tiên trong lịch sử Ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng tỷ
giá mạnh đến như vậy, với 9,3% đi cùng với việc siết biên độ từ +/-3% xuống
còn +/-1%.
Có nhiều lý giải đặt ra quanh con số 9,3% đó. Thứ nhất, đó là sự giải phóng
áp lực dồn nén quá lớn sau một thời gian tương đối dài. Thứ hai, nhà điều hành
muốn một bước để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa hai tỷ giá. Thứ ba,
nhà điều hành đã sòng phẳng hơn và theo yêu cầu của thị trường… Và một điểm
quan trọng của nó là xóa bớt kỳ vọng sẽ tiếp tục phá giá trong năm 2011 ở giới
đầu cơ, hay trong tâm lý thị trường. Giá trị này đến nay đã đúng.
Mọi điều chỉnh của chính sách thường có độ trễ. “Sự kiện 11/2/2011” cũng
vậy. Phải đến đầu tháng 4-2011 tỷ giá mới bắt đầu có dấu hiệu bình ổn. Cùng
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:19

Ngày 7-9-2011, một tháng sau khi tân Thống đốc tiếp nhận nhiệm vụ điều
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:20

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
hành, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội nghị ngành, và tại đây thông điệp được
đưa ra: nếu điều chỉnh tỷ giá USD/VND thì từ nay (tại ngày 7-9) đến cuối năm
không quá 1%.
Tương tự như sự kiện ngày 11-2-2011, thông điệp trên đã xóa bỏ nhất định
kỳ vọng tỷ giá tăng trên thị trường, cũng như trong tâm lý dân cư. Giá trị của nó
gắn với sự kiện ngày 29-4-2011. Bởi sau sự kiện Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà
nước nâng mạnh giá mua vào USD ngày 29-4 và liên tiếp mua vào sau đó, dự
trữ ngoại tệ tăng mạnh trở lại, thông điệp trên trở nên có trọng lượng. Rõ ràng
Ngân hàng Nhà nước sẽ khó thuyết phục niềm tin của thị trường với cam kết
“không quá 1%” của mình nếu trong tay không có sự gia tăng trở lại của dự trữ
ngoại tệ trước đó.
Thực tế, cho đến những ngày cuối năm 2011 này, Ngân hàng Nhà nước đã
giữ vững được cam kết. Dù trong quãng êm đềm của “nửa sau” 2011 có chuỗi
tăng dồn dập 14 lần liên tiếp của tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong tháng 10,
hay “cú ném ao bèo” ngày 14-12 vừa qua. Và cũng là lần đầu tiên kể từ sau
nhiều năm có khả năng mức tỷ giá kết thúc năm nay thấp hơn điểm cuối của
năm trước.
Đi cùng với cam kết trong “nửa sau” đó, liên quan đến biến động của tỷ
giá, nhật ký năm 2011 cũng ghi nhận lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước có
những giải pháp xử lý những tác động từ thị trường vàng mà không phải dùng
đến “liều thuốc” ra tin cấp hạn ngạch nhập khẩu, chi ngoại tệ cho nhập khẩu
vàng. Còn việc bình ổn được thị trường vàng hay không đến nay lại là một vấn
đề khác.
Điểm lại, nửa sau năm 2011 Ngân hàng Nhà nước đã thành công trong bình
ổn tỷ giá và thị trường ngoại hối. Bên cạnh công tác quản lý điều hành, nhật ký
biến động tỷ giá 2011 đã chứng kiến một sự hậu thuận lớn từ những yếu tố vĩ

thị trường.
Khi thị trường ngoại tệ và tỷ giá có biến động bất thường, NHNN kịp thời
đánh giá và xác định rõ nguyên nhân, trên cơ sở đó chủ động thực hiện công tác
thông tin, truyền thông để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về các giải pháp
điều hành của NHNN.
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:22

Bài tiểu luận môn thanh toán quốc tế GVHD: Nguyễn Xuân Dương
Tại những thời điểm cung cầu ngoại tệ trên thị trường căng thẳng cục bộ,
NHNN sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản ngoại tệ, phối hợp với việc điều hành lãi
suất và thanh khoản VND ngắn hạn nhằm nhanh chóng ổn định thị trường.
NHNN chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường quản lý,
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về quản lý ngoại hối, quản lý hoạt động kinh
doanh vàng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hợp lý của người dân và doanh nghiệp
được đáp ứng thông qua hệ thống các TCTD.
Dựa trên những đánh giá, phân tích cung cầu trên thị trường cũng như diễn
biến của các yếu tố kinh tế vĩ mô, NHNN đã chủ động điều hành một cách linh
hoạt tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá mua, bán ngoại tệ cũng như hoạt
động mua, bán ngoại tệ của NHNN.
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh linh hoạt trong giai đoạn
từ tháng 8/2011 và duy trì ổn định ở mức 20.828 VND/USD từ cuối năm 2011.
Tuy nhiên, từ cuối tháng 5/2013, thị trường ngoại tệ có biến động, tỷ giá tăng và
diễn biến phức tạp mặc dù NHNN đã bán ngoại tệ can thiệp thị trường, điều
chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 20.828 VND/USD tăng 1% lên
mức 21.036 VND/USD vào ngày 28/6/2013. Đồng thời ban hành các thông tư
quy định giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại
TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa
của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ
một số lĩnh vực, ngành kinh tế, giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD

VIỆT NAM.
3.1. NHỮNG BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ẢNH HƯỞNG TỚI TÌNH
HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM.
Việc điều chỉnh tỷ giá thêm 1% ngày 28/6/2013 khiến một số người lạc
quan kỳ vọng Việt Nam sẽ có những bứt phá như Nhật Bản. Hành động phá giá
đồng Yen đến 25% của Thủ tướng Shinzo Abe đã thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu
và tăng trưởng GDP, giúp nước này vượt qua được tình trạng suy thoái, trì trệ
kéo dài và đã bắt đầu phục hồi.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng bản thân tỷ giá riêng lẻ không quyết định
cho tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Tỷ giá hối đoái chỉ là một yếu tố. Theo nghiên
cứu của chúng tôi, hàng xuất khẩu của Việt Nam ít phụ thuộc vào tỷ giá hối
đoái, mà phụ thuộc nhiều vào các yếu tố, như: thị trường, công nghệ, tiếp thị và
uy tín của nhà sản xuất Bên cạnh đó, xét về cơ cấu hàng xuất khẩu hiện nay, thì
các mặt hàng như điện thoại di động, điện tử máy tính, dệt may, da giày có kim
ngạch xuất khẩu lớn nhất, nhưng hầu hết linh phụ kiện đều phải nhập khẩu để
gia công tại Việt Nam,. Vì vậy, khi tỷ giá tăng sẽ làm đội giá các sản phẩm, linh
kiện nhập khẩu và gây khó khăn cho cạnh tranh trong xuất khẩu.
Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, doanh nghiệp FDI
chiếm đến 65%, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 35%. Xuất
khẩu của doanh nghiệp FDI chủ yếu là tận dụng lao động giá rẻ ở Việt Nam, lắp
ráp các linh kiện nhập khẩu từ nước ngoài để xuất khẩu. Điển hình là Samsung
Vina nhập khẩu 100% linh kiện từ Samsung ở Trung Quốc để sản xuất điện
thoại thông minh Galaxy; giá trị gia tăng của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10%
trong tổng số 12 tỷ USD xuất khẩu của Samsung Vina trong năm 2012. Dự kiến
xuất khẩu của doanh nghiệp này sẽ vượt ngưỡng 20 tỷ USD trong năm 2013.
Đối với những doanh nghiệp FDI xuất khẩu các sản phẩm lắp ráp này, điều
SVTH: Nguyễn Thị Phương Phú – MSSV: 11010543 Trang:25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status