Dư luận xã hội về vấn đề nhiễm chất độc hóa học tại thành phố biên hòa ( nghiên cứu trường hợp tại phường trung dũng và phường tân phong) - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS Mai Quỳnh Nam, người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt
cho tôi những kiến thức cơ bản cũng như đóng góp những ý kiến quý báu
giúp tôi hoàn thành bản Luận văn này.
Các thầy, cô giáo trong khoa Xã hội học đã tạo mọi điều kiện tốt nhất
để tôi có thể tham gia học tập và hoàn thành tốt Luận văn Thạc sỹ.
Ban lãnh đạo Văn phòng Ban chỉ đạo 33, Bộ Tài Nguyên môi trường
đã đồng ý cho tôi sử dụng số liệu của cuộc Điều tra, khảo sát và đánh giá
thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc
hóa học/Dioxin. Đề xuất giải pháp khắc phục làm cơ sở nghiên cứu cho Luận
văn.
TS. Bác sỹ Vũ Chiến Thắng, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo 33,
Tổng biên tập Tạp chí Độc học; TS. Vũ Anh, Hội Y tế công cộng; Bác sỹ
Trần Hữu Hậu, trưởng phòng Y tế thành phố Biên Hòa và người dân ở
phường Trung Dũng và phường Tân Phong đã cung cấp thông tin, số liệu
trong quá trình thực hiện Luận văn.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp và những người đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ, tạo điều kiện,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này.
Hà nội, ngày

tháng

năm 2014

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

1


2


1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.............................................................. 29
1.3.1 Thành phố Biên Hòa ...................................................................... 29
1.3.2 Phường Trung Dũng ...................................................................... 31
1.3.3. Phường Tân Phong ....................................................................... 32
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC VÀ HOẠT
ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHẤT ĐỘC HÓA HỌC/DIOXIN TẠI
BIÊN HÕA ..................................................................................................... 34
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trƣờng ......................................................... 34
2.2 Số lƣợng nạn nhân chất độc hóa học/dioxin ...................................... 38
2.3 Hoạt động truyền thông chất độc hóa học/dioxin ............................. 41
2.3.1 Hoạt động truyền thông về chất độc hóa học/dioxin qua các
phương tiện truyền thông đại chúng. ..................................................... 42
2.1.2 Hoạt động truyền thông trực tiếp về chất độc hóa học/dioxin ..... 44
2.3.3 Nội dung thông điệp người dân thường được nhận liên quan chất
độc hóa học/dioxin ................................................................................... 47
Chƣơng 3. ĐÁNH GIÁ CỦA NGƢỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ NHIỄM CHẤT
ĐỘC HÓA HỌC/DIOXIN TẠI BIÊN HÕA .............................................. 50
3.1 Đánh giá của ngƣời dân về thực trạng nhiễm chất độc hóa
học/dioxin .................................................................................................... 50
3.2 Dƣ luận xã hội của ngƣời dân về các con đƣờng phơi nhiễm dioxin
trong môi trƣờng vào cơ thể con ngƣời ................................................... 53
3.3 Dƣ luận xã hội về ảnh hƣởng của chất độc hóa học/Dioxin đời với
đời sống của nạn nhân chất độc da cam .................................................. 58
3.3.1 Đời sống vật chất của nạn nhân chất độc da cam ........................ 58
3.3.2 Đời sống tinh thần của nạn nhân chất độc da cam ...................... 63
3.4 Dƣ luận xã hội về vai trò của chính quyền địa phƣơng và các đoàn


NNCDDC:

Nạn nhân chất độc da cam

TCDD:

2,3,7,8 – Tetrachlorodibenzo-dioxin

TEQ:

Nồng độ độc dioxin tương đương tổng số (Total
dioxin toxic equeivalence) (tính độc hại tổng thể của
một hỗn hợp được tính tương đương được quy cho
TCDD nguyên chất)

UNDP:

Chương trình phát triển liên hợp quốc

Ủy ban 10-80:

Ủy ban quốc gia điều tra các hậu quả chiến tranh
hóa học của Mỹ ở Việt Nam.

4


DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU, HỘP
DANH MỤC HÌNH


68

nạn nhân chất độc dioxin
Bảng 3.2: Đánh giá của ngƣời dân về các hoạt động hỗ trợ

69

cụ thể
DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1: Số liệu nạn nhân chất độc màu da cam theo báo cáo

40

tại hai phƣờng Tân Phong và Trung Dũng và số nạn nhân
của mẫu nghiên cứu
Biểu 2.2: Nhận thông tin về dioxin qua các phƣơng tiện

43

thông tin đại chúng
Biểu 2.3: Bàn bạc dioxin tại các cuộc họp tổ dân phố

46

Biểu 3.1: Đánh giá của ngƣời dân về việc nhiễm dioxin tại địa

50

5

nhiễm chất độc hóa học/dioxin
Biểu 3.8: Đánh giá của ngƣời dân về các giải pháp nhằm

72

nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nạn nhân chất độc dioxin
DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1: Nạn nhân chất độc da cam gặp khó khăn trong việc
đề xuất đƣợc hƣởng trợ cấp

6

63


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chiến dịch dùng hóa chất trong chiến tranh ở Việt Nam của quân đội
Mỹ là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới. Từ năm 1961 đến năm
1971, quân đội Mỹ đã sử dụng gần 80 triệu lít chất độc hóa học ở miền nam
Việt Nam. Những chất độc hóa học đó bao gồm chất da cam, chất xanh da
trời (chứa cyanide để hủy diệt các cánh đồng lúa), chất xanh lá cây, chất
trắng, chất tím, chất hồng tùy thuộc vào loại sinh vật mà nó được chế tạo để
hủy diệt. Trong đó, độc hại nhất là chất độc da cam/dioxin (2,3,7,8 – TCDD).
Theo Stellman (2003) và NAS (2003) tổng số lượng Dioxin mà Việt Nam
phải hứng chịu là 366 kg và số người bị phơi nhiễm trong khoảng thời gian
chiến tranh vào khoảng 2,1 – 4,8 triệu người.
Sân bay Biên Hòa là một căn cứ chính của chiến dịch Ranch Hand tại
miền Nam Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây cho thấy mức độ ô nhiễm
dioxin tại Biên Hòa là rất cao (Dự án Z1, Bộ Quốc Phòng, Công ty Hatfield

thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc
hóa học/dioxin, đề xuất giải pháp khắc phục” do Ban chỉ đạo 33 nghiên cứu
tại thành phố Biên Hòa năm 2008 đã chỉ ra rằng, trong số 10 gia đình có nạn
nhân chất độc da cam thì chỉ có 1 hộ gia đình cư trú tại địa bàn vào thời điểm
trước năm 1975. Có 7 hộ chuyển từ nơi khác đến địa bàn này trong thời gian
từ 1976 đến 1997 và có 2 hộ gia đình nạn nhân có thời gian cư trú tại khu vực
này từ năm 1998 đến thời điểm nghiên cứu [3].
Trong các lĩnh vực nghiên cứu nói trên thì việc nghiên cứu về đánh giá
của người dân của các khu vực bị ảnh hưởng CĐHH/dioxin nói chung và
người dân thành phố Biên Hòa nói riêng về tác hại và cách phòng tránh phơi
nhiễm CĐHH/dioxin còn rất hạn chế. Cho tới thời điểm này, tại sân bay Biên
Hòa phát hiện thêm nhiều điểm ô nhiễm mới với mức độ ô nhiễm vượt cao
hơn gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Việc ngăn chặn lan tỏa dioxin tại sân

8


bay Biên Hòa ra môi trường xung quanh vẫn chưa được xử lý triệt để, do đó
nghiên cứu về đánh giá của người dân thành phố Biên Hòa về CĐHH/dioxin
trở nên đặc biệt cấp thiết. Xuất phát từ nhu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên
cứu Dư luận xã hội về vấn đề nhiễm chất độc hóa học tại thành phố Biên
Hòa (Nghiên cứu trường hợp tại phường Trung Dũng và phường Tân
Phong) để tìm hiểu đánh giá của người dân mức độ ô nhiễm, con đường phơi
nhiễm dioxin và về đời sống của nạn nhân chất độc màu da cam. Thông qua
hệ thống chức năng của dư luận xã hội, các kết quả nghiên cứu có thể là
những gợi ý hữu ích trong việc nâng cao nhận thức của người dân về tình
trạng nhiễm CĐHH/dioxin tại Biên Hòa.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chiến dịch rải chất diệt cỏ của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (Chiến
dịch Rank Hand) là cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất, quy mô nhất và kéo

đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến
tranh Việt Nam (gọi tắt Ban chỉ đạo 33) thay thế Ủy ban 10-80. Từ năm 1999
-2005, Nhà nước đã tổ chức và chi kinh phí cho 22 đề tài Khoa học và công
nghệ nhằm khắc phục hậu quả chất độc hóa học/Dioxin dùng trong chiến
tranh. Đây được gọi là Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ Quốc
gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh, gọi
tắt là Chương trình 33. Chương trình 33 bao gồm 22 đề tài với tổng kinh phí
là 47 tỉ VNĐ (tương đương hơn 3 triệu USD). Các chương trình và đề tài
nghiên cứu nói trên đã tiếp cận dưới góc độ y học, di truyền hoc, sinh hóa học
và các dự án khắc phục hậu quả chất độc trong chiến tranh đối với môi
trường, các hệ sinh thái sức khỏe con người (Nguyễn Hữu Thụ, 2012). Điều
đáng lưu ý là ở nước ra, nếu hậu quả về môi trường và sức khỏe con người do
CĐHH/dioxin để lại đã và đang được nghiên cứu, làm sang tỏ thì hậu quả về
tâm lý ở các nạn nhận vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Có thể nói, cho

10


đến thời điểm hiện tại thì chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu một
cách hệ thống và chuyện sâu về các vấn đề sức khỏe tâm lý ở nạn nhận
CĐHH/dioxin hay ảnh hưởng của các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong
chiến tranh đối với sức khỏe tâm lý của con người.
Năm 2002, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban tư tưởng
Văn hóa trung ương đã tiến hành một cuộc thăm dò dư luận xã hội về Khắc
phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Mục đích của cuộc thăm dò này là thu thập thông tin về quy mô và mức độ
ảnh hưởng của chất độc mầu da cam ở 2000 người được hỏi. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, có 98% người được hỏi biết về chất độc mầu da cam, 94% số
người được hỏi trả lời là các nguyên nhân chính làm gia tăng các hiện tượng
tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh và các loại bệnh nan y là do chất độc hóa

nhiễm, cách phòng chống phơi nhiễm và mối nguy hại của Dioxin tới sức
khỏe con người (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần).
Hội Y tế công cộng đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành
vi (KAP) của người dân thành phố Biên Hòa trước (năm 2007) và sau khi tác
động (năm 2009). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, kiến thức của người dân về
sự tồn tại dioxin trong môi trường và con đường xâm nhập dioxin từ môi
trường vào cơ thể đã được nâng lên đáng kể.
Báo cáo “Đánh giá mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường và sức
khỏe con người tại sân bay Biên Hòa và vùng phụ cận” (2011) do Văn phòng
ban chỉ đạo 33 và công ty Hatfield đã trình bày những kết quả, kết luận của ba
nghiên cứu gần đây do Hatfield và Chính phủ Việt Nam thực hiện (1.Ủy ban
10-80 năm 2004 -2005, 2. Trung tâm nhiệt đới Việt Nga năm 2008, Văn
phòng 33 chịu trách nhiệm nghiên cứu hiện tại) nhằm xác định phạm vi và
mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường và trong nhóm dân cư sống trong và
xung quanh khu vực sân bay Biên Hòa, Việt Nam. Báo cáo đã chỉ ra rằng:
“Kể từ năm 2010, dioxin vẫn tiếp tục gây ô nhiễm cho hệ sinh thái nước, môi

12


trường và chuỗi thức ăn ... Những người bi ̣ảnh hưởng nhấ t khi phơi nhiễm
trực tiế p với dioxin từ các điể m nóng trong sân bay Biên Hòa là những người
đánh bắ t cá và canh t ác thủy canh và nông nghiệp ở Hồ Z 1, và các hồ Paer
Ivy, và các hồ ao ở hữu tư nhân nằm trong sân bay

(và các vùng nước mở

rô ̣ng của các thủy vực trên ). Những người khác có thể bi ̣ảnh hưởng do ăn cá ,
các động vật thủy s inh đươ ̣c đánh bắ t từ Hồ trong sân bay , mă ̣c dù con số
chính xác vẫn chưa được biết”. [5]

nâng cao nhận thức của người dân về cách phòng tránh phơi nhiễm dioxin.
4. Mục đích nghiên cứu
- Hiệu quả hoạt động cung cấp thông tin cho người dân của chính
quyền địa phương, của các tổ chức, đoàn thể xã hội đối với vấn đề
nhiễm CĐHH/dioxin tại địa phương.
- Nghiên cứu những đánh giá của người dân về mức độ và các con
đường xâm nhập dioxin.
- Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của CĐHH/dioxin đến đời
sống của họ và những gia đình có nạn nhân chất độc màu da cam.
- Đề xuất các chính sách nhằm nâng cao nhận thức cho người dân để
họ phòng tránh phơi nhiễm một cách hiệu quả.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng
Dư luận xã hội của người dân thành phố Biên Hòa về vấn đề nhiễm
chất độc hóa học/Dioxin (Nghiên cứu trường hợp phường Trung Dũng và
phường Tân Phong)
5.2 Khách thể
Đại diện hộ gia đình tuổi từ 25 – 65 tuổi
Các bộ các cấp (cán bộ chính quyền, đoàn thể)
5.3 Phạm vi
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 - 2014

14


- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại phường Trung
Dũng và phường Tân Phong của thành phố Biên Hòa. Đây là 2 phường
có vị trí nằm gần với sân bay Biên Hòa và đã được xác định là địa bàn
nằm trong vùng nhiễm chất độc hóa học của thành phố Biên Hòa.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Tài Nguyên và Môi trường tiến hành năm 2007 – 2008.
Kết quả xử lý số liệu 400 bảng hỏi của hộ gia đình tại phường Trung
Dũng và phường Tân Phong.
Đối tượng điều tra là đại diện hộ gia đình có độ tuổi từ 25 - 65 tuổi.
7.1.2 Sử dụng kết quả nghiên cứu của dự án: “Đánh giá sự thay đổi kiến thức,
thái độ và thực hành của người dân phường Trung Dũng và Tân Phong,
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về dự phòng phơi nhiễm Dioxin qua thực
phẩm, sau 1 năm can thiệp”. Khảo sát sau can thiệp 2009 được tiến hành với
426 người trong độ tuổi 16 – 60 tuổi.
7.1.3 Sử dụng một số số liệu thống kê, báo cáo của địa phương và các tài liệu
có sẵn liên quan đến chủ đề nghiên cứu: Ấn phẩm, tài liệu hội thảo, luận văn
Thạc sỹ và các tư liệu về vấn đề nhiễm chất độc hóa học đã công bố trên các
phương tiện truyền thông đại chúng, v.v.
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi đã tiến hành thêm các phỏng vấn sâu để bổ sung cho nghiên
cứu định lượng được sử dụng trong luận văn này. Chúng tôi tiến hành 5
phỏng vấn sâu vào tháng 8 năm 2013 và 4 phỏng vấn sâu vào tháng 9 năm
2014. Cụ thể như sau:
PVS lãnh đạo Phòng y tế:

1 người

PVS cán bộ trạm y tế phường/Dân số:

2 người (1người/địa điểm)

PVS hộ gia đình:

6 hộ (3 hộ/địa điểm)


đời sống tinh thần


Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Dư luận xã hội
Định nghĩa
Thuật ngữ dư luận xã hội được nhà văn và cũng là nhà hoạt động nhà
nước người Anh J.Solsbery sử dụng lần đầu vào thế kỷ 12 (năm 1159). Tuy
nhiên, chính Jean – Jacques Rousseau mới được coi là người đầu tiên sử dụng
nó vào năm 1744 theo nghĩa hiện đại khi ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Pháp.
Dư luận xã hội (công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen
thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia) trong cuộc sống hàng
ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Phần đông các nhà nghiên cứu
dư luận xã hội Liên – xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội là sự phán xét, đánh
giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội với các vấn đề họ quan tâm.
Theo B.K.Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu
là các ý kiến thể hiện sự phán xét, đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc
không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự
kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc
che đậy của các nhóm xã hội lớn, nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã
hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”. [25]
Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ đưa ra nhận định tương tự. Ví dụ “Công luận
là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm
quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young,
1923). Nhà nghiên cứu Mỹ khác lại định nghĩa: “Công luận là kết quả tổng
hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều
kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản,
nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý

xuất hiện các tranh luận tập thể. Dấu hiện thứ hai để xem xét khách thể dư

19


luận xã hội là tranh luận, những tranh luận này gắn với lợi ích xã hội được
mọi người cũng có nhu cầu quan tâm.
Chủ thể dƣ luận xã hội
Chủ thể dư luận xã hội là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân
dân, là các tổ chức đảng hoặc các tổ chức đoàn thể xã hội. Lập trường giai cấp
được xem là cơ sở để xác định chủ thể của DLXH, vì giai cấp là vật mang của
dư luận xã hội được hình thành với những lợi ích và mục đích giai cấp. Do
đó, khi xem xét DLXH, người ta không chỉ đặt nó trong cấu trúc ý thức xã hội
nói chung, mà phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ xã hội, vì bản chất
của dư luận xã hội phản ánh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân
và các nhóm xã hội được tạo nên bởi quan hệ xã hội và các lợi ích của họ.
[29]
1.1.2 Chất độc hóa học/dioxin
Chất độc hóa học dùng để chỉ các chất độc hóa học mà Mỹ đã sử dụng
trong chiến tranh tại Việt Nam trong chiến dịch Rank Hand. Chất độc hóa
học/dioxin là cụm từ chỉ các chất độc hóa học có chứa Dioxin như
Poiclophenon và các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt
Nam như da cam, đỏ, trắng, xanh, xanh lá mạ. [8, tr.17]
Dioxin
Dioxin là một hợp chất hữu cơ không mùi, không màu, chứa Cacbon,
Hyđro, Oxy và Chlorin. Dioxin được Kraus G (1941) tình cờ phát hiện ra
trong một thí nghiệm. Đây là những hormone có khả năng làm ngưng trệ sự
tăng trưởng của cây cỏ. Một trong những loại hormone này là chất 2,4D khi
phun lên cây, nó sẽ làm trụi lá trong khoảng từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ rồi
sau đó, cây sẽ chết. Chất 2,4D đã được người Mỹ dùng để tiêu diệt cỏ dại mọc

gây chết người [19,tr.17], (2) Những người bị phơi nhiễm dioxin có thể để lại
dấu vết và truyền sang thế hệ tiếp theo, (3) Dioxin có thể thâm nhập và gây

21


nguy hại thông qua tất cả các điểm tiếp xúc trực tiếp qua da, qua đường hô
hấp, qua nước uống, qua thức ăn có hàm lượng Dioxin cao.
Chất độc hóa học/dioxin khi đi vào cơ thể người có thể gây ra 17 bệnh:
1/Ung thu phần mềm, 2/U lympho không Hodgkin, 3/U lympho Hodgkin,
4/Ung thư phế quản, phổi, 5/Ung thư khí quản, 6/Ung thư thanh quản, 7/Ung
thư tiền liệt tuyến, 8/Ung thư gan nguyên phát, 9/Bệnh đa u tủy xương ác
tính, 10/Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tinh, 11/Tật gai sống
chẻ đôi, 12/Bênh chứng cá do clo, 13/Bệnh đái tháo đường type 2, 14/Bệnh
Phophyrin xuất hiện chậm, 15/Các bất thường sinh sản, 16/Các dị dạng, dị tật
bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm CĐHH/Dioxin), 17/Rối loạn tâm
thần. [9]
1.1.3 Nạn nhân chất độc màu da cam
Trong chương 2, Mục 8, Điều 26, khoản 1 Pháp lệnh ưu đãi người có
công với Cách mạng số 26/2005/PL – UBTVQH, ngày 29/6/2005 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: “Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH/dioxin là người được
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ
chiến đấu tại vùng mà quân đội Mỹ sử dụng CĐHH/dioxin, bị mắc bệnh làm
suy giảm khả năng lao động, sinh con bị dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu
quả của CĐHH/Dioxin”. Cũng ở chương 2, Mục 8, Điều 27, Khoản 1 của
Pháp lệnh này lại quy định: “Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm CĐHH/Dioxin là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận bị dị
dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động do hậu
quả của CĐHH/dioxin”

sự sống hay không. Khái niệm này không chỉ ứng dụng cho các quy trình hóa
học, các trường lực vật lý, các quá trình tâm lý mà con cho các phương thức
hành vi trong xã hội.

23


Quá trình truyền thông nhằm thực hiện sự trao đổi qua lại về kinh
nghiệm, tri thức, tư tưởng, ý kiến, tình cảm. Người ta có thể sử dụng các
hệ thống ký hiệu khác nhau theo dạng phi ngôn từ hoặc ngôn từ để thông
báo.
M.Weber cho rằng có thể hiểu truyền thông như là phương tiện của
tương tác xã hội, làm sáng tỏ các ý nghĩa chủ quan của một bên là hành động
xã hội và bên kia là định hướng xã hội.
Theo thống kê có khoảng 160 định nghĩa khoa học xã hội cho thuật ngữ
truyền thông (Merton) và đã phân chia truyền thông theo cấu trúc: loại có cấu
trúc một chiều, truyền thông như là truyền dẫn, như là hành động kích thích
phản ứng. Loại có quá trình cấu trúc đối xứng, truyền thông như là thông
hiểu, như là trao đổi, như là tham gia, như là quan hệ. Ở đây vấn đề tương tác
rất được coi trọng.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm truyền thông như
sau: Truyền thông là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được
hình thành và phát triển. Do có truyền thông mà các thành tố xã hội, hệ thống
con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống con, hệ thống lớn liên
tiếp được cải biến và phân hóa. [35]
1.1.5 Truyền thông đại chúng
Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói dầu
của Hiến chương Liên hiệp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục
(UNESCO) năm 1946. Thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển

nghiên cứu các quy luật chung của sự phát triển xã hội loài người và quy luật
nhận thức. Chủ nghĩa Mác đã khám phá ra quy luật này, điều đó cho phép mở
đầu những nghiên cứu bản chất của dư lunạ xã hội một cách khoa học. Cụ thể
hóa những vấn đề cơ bản của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status