1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN ĐỨC NAM
DƯ LUẬN XÃ HỘI
VỀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC Ở BẬC HỌC PHỔ
THÔNG
(NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH)
DƯ LUẬN XÃ HỘI
VỀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC Ở BẬC HỌC PHỔ
THÔNG
(NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH) LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội - 2013
4
DỊCH VỤ GIÁO DỤC Ở BẬC HỌC PHỔ THÔNG 28
1.1. Cơ sở lý luận 28
1.2. Các khái niệm 30
1.2.1. Dư luận xã hội 30
1.2.2. Các kênh truyền thông 31
1.2.3. Dịch vụ giáo dục 32
1.2.4. Tiếp cận dịch vụ giáo dục 33
1.2.5. Chi phí dịch vụ giáo dục 34
1.2.6. Cơ sở vật chất dịch vụ giáo dục 34
1.2.7. Chất lượng giáo dục 34
1.3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 35
1.3.1. Đặc điểm kinh tế-xã hội 35
1.3.2. Tình hình giáo dục phổ thông 37
Chƣơng 2: DƢ LUẬN XÃ HỘI VỀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC Ở BẬC HỌC PHỔ
THÔNG TẠI HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH 42
2.1. Dƣ luận xã hội nói chung về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông 42
2.1.1. Tại sao giáo dục được các bậc cha mẹ quan tâm? 42
2.1.2. Các kênh thông tin về dịch vụ giáo dục 46
2.1.3. Những vấn đề của dịch vụ giáo dục được quan tâm 46
2.1.4. Những vấn đề cấp bách của dịch vụ giáo dục 49
2.1.5. Nội dung và hình thức trao đổi, bàn luận về dịch vụ giáo dục 53
2.1.6. Tiểu kết 59
2.2. Dƣ luận xã hội về cơ sở vật chất dịch vụ giáo dục 60
6
2.2.1. Điều kiện cơ sở vật chất 60
2.2.2. Đánh giá về cơ sở vật chất dịch vụ giáo dục 62
2.2.3. Tiểu kết 66
2.3. Dƣ luận xã hội về tiếp cận dịch vụ giáo dục 67
HĐND:
Hội đồng Nhân dân
HGĐ:
Hộ gia đình
THCS:
Trung học cơ sở
THPT:
Trung học phổ thông
UBND:
Ủy ban Nhân dân DANH CÁC MỤC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu-xã hội của ngƣời đƣợc hỏi trong mẫu nghiên cứu
định lƣợng…………………………………………………………………………
20
Bảng 2.1. Mức độ quan tâm đến các vấn đề trong đời sống gia đình hiện nay của
các bậc cha mẹ (đơn vị: %)…………………………………………………………
41
Bảng 2.2. Những vấn đề của nhà trƣờng thƣờng đƣợc các HGĐ trao đổi…………
50
Bảng 2.3. Hình thức trao đổi thông tin của HGĐ về những vấn đề của giáo dục….
51
Bảng 2.4: Đánh giá của HGĐ về chi phí học tập so với chất lƣợng giáo dục nhận
đƣợc ở 3 bậc học (%)……………………………………………………………….
89
ứng được đòi hỏi mới của phát triển kinh tế-xã hội, trong đó chủ yếu là giáo dục đại
học và giáo dục phổ thông đang làm dấy lên yêu cầu về việc đổi mới giáo dục. Kết
luận số 242-TB/TƯ ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị về “Phương hướng phát triển
9
GD&ĐT đến năm 2020” cũng nhấn mạnh, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo
dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ.
Các vấn đề của dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông như chất lượng giáo dục,
cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, học thêm dạy
thêm, thi cử, các khoản đóng góp cho giáo dục của các hộ gia đình, là những sự
kiện xã hội, chúng phản ánh các quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, việc dư luận xã hội ở
Việt Nam hết sức quan tâm theo dõi từng bước đi của hệ thống giáo dục, trong đó
dịch vụ giáo dục (công lập) ở bậc học phổ thông thu hút nhiều sự quan tâm của mọi
người chứng tỏ rằng có nhiều vấn đề, khía cạnh của dịch vụ này cần được nghiên
cứu, giải quyết nhằm làm cho giáo dục phát triển phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của
quá trình xây dựng, phát triển xã hội công bằng, dân chủ và văn minh nói chung và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế.
Giáo dục là chủ đề đã lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, song,
các nghiên cứu này chủ yếu được khai thác dưới góc độ giáo dục học. Việc áp dụng
xã hội học trong nghiên cứu về các vấn đề mà xã hội đang đặt ra đối với giáo dục là
hoàn toàn có thể và cần thiết (Lê Ngọc Hùng, 2009). Tuy nhiên, các nghiên cứu về
giáo dục dưới góc độ xã hội học mới chỉ được quan tâm trong vài thập kỷ trở lại đây,
trong đó nghiên cứu dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông đến nay
vẫn còn là điều khá mới. Vậy dư luận xã hội quan tâm đến dịch vụ giáo dục ở bậc học
phổ thông như thế nào? Dư luận xã hội của các nhóm xã hội ra sao? Người ta thể hiện
dư luận xã hội bằng cách nào? Các đặc điểm và chức năng của dư luận xã hội về dịch
vụ giáo dục ở bậc học phổ thông được thể hiện rao sao? Sự hình thành dư luận xã hội
về giáo dục ở Việt Nam. Nhìn chung, hướng nghiên cứu này đều khẳng định giá trị
học vấn và chỉ rõ vai trò của cha mẹ đối với việc học tập của con cái.
Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng, học vấn là một giá trị của người nông
dân, vì thế họ rất quan tâm đến việc học tập của con (ví dụ: Bùi Quang Dũng, 1984;
Nguyễn Thị Văn, 1996, 1998; Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007; Đặng Bích
Thủy, 2008; v.v…). Nhận thức về giá trị của việc học tập là một trong những yếu tố
quan trọng tác động đến mức độ quan tâm và đầu tư cho việc học tập của con cái [56,
tr. 151]. Người nông dân Việt Nam, nhất là dân cư ở lưu vực sông Hồng có truyền
thống tôn sư trọng đạo, coi trọng người có chữ [56, tr. 91]. Học vấn không chỉ được
xem xét dưới góc độ kinh tế (chẳng hạn, phân tích của Nguyễn Thị Văn (1996) về
định hướng nghề nghiệp cho con khi trưởng thành, cho thấy, những chỉ số được ưu
tiên nhất trong bảng giá trị thuộc về những ngành nghề đòi hỏi có học vấn cao), mà
11
còn được xem xét dưới góc độ văn hóa. Với Bùi Quang Dũng (1984), việc “con cái
học cao” đều được coi là một trong những chuẩn mực để xem xét những triển vọng
của gia đình. Sự học không cho chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho đứa trẻ “thành
người” mà nó còn bao hàm chính ngay ước muốn “thăng tiến” của bố mẹ “con hơn
cha là nhà có phúc” [12, tr. 45]. Tương đồng với quan điểm này, Nguyễn Thị Văn
(1998) cho rằng, đối với một cá nhân, học vấn được coi là phẩm chất quan trọng nhất
mà qua đó người đó được đánh giá là có triển vọng hay không [80, tr. 5].
Một số kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò của yếu tố trình độ học vấn
của cha mẹ đối với việc học tập của con cái (ví dụ: Đặng Thanh Trúc, 1994; Lê Mạnh
Năm, 1999; Khuất Thu Hồng, 1996; Đặng Bích Thuỷ, 2008; Nguyễn Đức Vinh,
2011). Một luận điểm rất phổ biến trong nghiên cứu về giáo dục là địa vị cũng như
học vấn của cha mẹ là yếu tố quyết định nhất đến kết quả học tập của trẻ em [86, tr.
163]. Bố mẹ có trình độ học vấn càng cao thì kết quả học tập của con cái cũng cao
[54, tr. 94; 33, tr. 19]. Trình độ học vấn của bố mẹ là yếu tố tác động mạnh nhất đến
tình trạng giáo dục của con cái trong các gia đình nông thôn [86, tr. 186]. Bố mẹ có
qua quyền quyết định của cha mẹ đối với việc học tập của con cái, việc kiểm soát con
trong giờ học và chơi, họp phụ huynh, giúp con học ở nhà.
Tìm hiểu về vai trò của cha mẹ trong việc học hành của con cái, Đặng Bích
Thủy (2008) khẳng định các gia đình có nhận thức khá tích cực về giá trị của việc học
đối với con cái. Vì lẽ đó, họ rất quan tâm đến những hoạt động liên quan đến đời
sống học tập của con như: họp phụ huynh cho con, giúp con học thêm ở nhà, dạy bảo,
đưa con vào nề nếp kỷ luật học tập, định hướng nghề nghiệp cho con. Trong những
hoạt động này, người mẹ có xu hướng thực hiện nhiều hơn người cha, tuy nhiên, chưa
có cơ sở để khẳng định người cha quan tâm đến các hoạt động này ít hơn người mẹ.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về kinh tế nhưng các gia đình đã cố gắng ưu tiên đầu tư
cho việc học hành của con, như cho con học thêm, khuyến khích con cái chăm chỉ
học hành và tạo điều kiện về thời gian cho con học tập.
Tuy nhiên, tìm hiểu về những đặc điểm chính của tình hình giáo dục ở nông
thôn đồng bằng Sông Hồng trong khoảng 1 thập niên từ Đổi mới, nghiên cứu của
Nguyễn Thị Văn (1996, 1998) lại cho thấy, giá trị học vấn, dù được người nông dân
đồng bằng sông Hồng rất coi trọng, chưa phát huy được vai trò của nó trong hoạt
động kinh tế ở thời kỳ quá độ ở nông thôn. Theo tác giả, đây là một trong những
nguyên nhân làm giảm niềm tin của các bậc cha mẹ và trẻ em vào việc học tập.
2.2. Biến đổi giáo dục
Một trong những vấn đề trung tâm của xã hội học là nghiên cứu về biến đổi xã
hội. Các nghiên cứu về biến đổi giáo dục xem xét giáo dục với tư cách là một thiết
chế xã hội. Cũng như các thiết chế xã hội khác, từ khi Đổi mới, thiết chế giáo dục
cũng đã trải qua những biến đổi đáng kể.
13
Ở góc độ vĩ mô, trong chủ đề nghiên cứu xã hội học về biến đổi giáo dục, đáng
chú ý nhất là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Văn về "Những biến đổi của giáo
dục phổ thông trong thời kỳ Đổi mới và sự thích ứng của các gia đình nông thôn
đồng bằng sông Hồng" năm 1998, được trình bày dưới hình thức luận văn cao học.
của hệ thống này như sự bất bình đẳng về giới và kinh tế trong tiếp cận giáo dục
(những khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục của các gia đình nghèo và trẻ em gái),
sự xuống cấp của chất lượng giáo dục, sự giảm sút của giá trị học vấn trong hoạt
động kinh tế,…
Ngoài ra, ở góc độ vi mô, mảng giáo dục cũng được đề cập đến trong một số
nghiên cứu xã hội học, trong đó có thể kể đến những biến đổi về chi phí đầu tư cho
giáo dục hay những biến đổi trong quan niệm về giá trị của học vấn,…
Nhìn chung, các nghiên cứu về biến đổi giáo dục cho đến nay còn khá mỏng.
Trong quá trình tổng quan tài liệu, tác giả luận văn không tìm thấy nghiên cứu nào về
biến đổi xã hội có đề cập trực tiếp đến sự biến đổi trong lĩnh vực giáo dục.
Biến đổi giáo dục còn bao hàm các biến đổi của các thành phần trong cấu trúc
của nó. Do đó, một mặt, các nghiên cứu xem xét sự biến đổi của hệ thống giáo dục
trên bình diện chung nhất, đồng thời cần phải chỉ ra cụ thể các biến đổi trong cấu trúc
của hệ thống giáo dục, chẳng hạn sự biến đổi về quan hệ, tương tác xã hội giữa thày
và trò, sự biến đổi về các giá trị, chuẩn mực với tư cách như là một thành tố “phần
cứng” của thiết chế này,…
2.3. Bất bình đẳng giáo dục
Bằng cách tiếp cận cấu trúc, các nhà xã hội học phân tích và giải thích hiện
tượng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục. Các nghiên cứu đã mô tả, phân tích mối
quan hệ giữa các nhóm xã hội và hệ thống giáo dục ở khía cạnh đạt được các cơ hội
giáo dục.
Bất bình đẳng giới trong giáo dục biểu hiện rõ ở tỷ lệ nam nữ không ngang
bằng nhau trong số học sinh, sinh viên, giáo viên và cán bộ lãnh đạo quản lý giáo dục
[23, tr. 3-11]. Tình trạng bất bình đẳng giáo dục theo giới tính lại thường đem lại
những thiệt thòi cho học sinh nữ nhiều hơn. So với học sinh nam, tỉ lệ học sinh nữ ở
cấp học cao thường ít hơn và các em cũng có ít cơ hội hơn trong việc đạt được bằng
cấp. Khoản chi tiêu cho giáo dục bình quân 1 người đi học trong 1 năm đối với nam
là cao hơn so với nữ (Đỗ Thiên Kính, 2008).
15
sở vật chất. Các học sinh ở thành thị được hưởng nhiều cơ sở vật chất hơn học sinh ở
vùng nông thôn và học sinh vùng sâu, vùng xa [33, tr. 14-15].
16
Dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2006, 2007, Đỗ Thiên Kính
(2008) cho rằng, sự bất bình đẳng về cơ hội giáo dục giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
có xu hướng tăng dần khi càng học lên bậc cao hơn. Những học sinh xuất thân từ
những gia đình khá giả sẽ có được thành tích học tập cao hơn so với những học sinh
con nhà nghèo. Điều này có ý nghĩa rằng, những người xuất thân từ những gia đình
khá giả sẽ có nhiều cơ hội đạt được bằng cấp cao hơn so với những người có hoàn
cảnh gia đình nghèo khó. Kết quả của nghiên cứu của Trịnh Duy Luân (2004) cho
thấy yếu tố kinh tế là nguyên nhân chính của sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ giáo
dục ở bậc học phổ thông, cụ thể nghiên cứu chỉ ra trẻ em nghèo tiếp tục chịu nhiều
thua thiệt trong tiếp cận giáo dục phổ thông, đặc biệt ở những bậc học cao. Nghiên
cứu của Nguyễn Đức Vinh (2011) cũng chỉ ra, điều kiện kinh tế hộ gia đình cũng
thường là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp cũng như gián tiếp đến việc đi học của
giới trẻ, nhất là ở những nơi chính sách miễn giảm học phí còn hạn chế và chi phí cho
giáo dục là đáng kể so với mức thu nhập của các hộ gia đình. Kết luận này cho thấy
sự thay đổi tích cực trong thái độ của các bậc cha mẹ trong những năm gần đây đối
với chuyện học hành của con cái xét ở khía cạnh bình đẳng giới trong giáo dục.
Bất bình đẳng giáo dục giữa các dân tộc, trong đó chủ yếu là nhóm dân tộc
Kinh và Hoa so với các dân tộc khác. Sự bất bình đẳng này được thể hiện qua nhiều
chỉ báo như tỷ lệ đi học,… Tỷ lệ đi học của người Kinh và người Hoa luôn cao hơn
rất nhiều so với tỷ lệ đi học của đồng bào dân tộc thiểu số (Đỗ Thiên Kính, 2008).
Nghiên cứu của Đỗ Thiên Kính (2008) cho thấy, dù phân tích ở góc độ và
phép đo lường nào, tình trạng bất bình đẳng cơ hội về giáo dục ở Việt Nam đang
giảm dần theo thời gian (1993-2006) và xu hướng là càng học lên cao (theo cấp học),
sự bất bình đẳng có xu hướng tăng dần.
2.4. Chất lượng giáo dục
lượng của hệ thống giáo dục. Đánh giá về mức độ hài lòng của người dân đối với hệ
thống giáo dục ở thành phố của họ cho thấy, luôn có khoảng gần một nửa các HGĐ
cho rằng chi phí hiện nay cao hơn so với chất lượng giáo dục mà con em họ nhận
được. Về vấn đề học thêm, nghiên cứu khẳng định tỷ lệ rất cao các gia đình đã trả
tiền cho việc học thêm của con cái họ với lý do phổ biến là "thấy cần thiết", đồng thời
đa số các HGĐ đều cho rằng mức chi phí hiện nay là hợp lý. Nhìn chung, các HGĐ
thể hiện những đánh giá khá tích cực về hệ thống giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, kết
quả điều tra cũng cho thấy những đề xuất cải thiện chất lượng dịch vụ của người dân,
18
phản ánh những kỳ vọng mà hiện nay hệ thống này chưa đáp ứng. Mặc dù nghiên cứu
chỉ tập trung ở khu vực đô thị, song những kết quả đạt được về một số nội dung và
giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của
việc cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục phổ thông tại 3 thành phố từ ý kiến
của người dân, cũng như kết quả đánh giá về mức độ hài lòng của người dân về chất
lượng của dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông khi họ phải trả một khoản phí cho
dịch vụ này là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho luận văn.
Về các yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục tại địa bàn nông thôn đồng
bằng sông Hồng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Văn (1998) cho thấy, chất lượng của
giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng giảng dạy, trong đó yếu tố giáo viên giữ
vai trò quan trọng hàng đầu. Những vấn đề liên quan đến giáo viên là trình độ đào tạo
và số lượng học sinh mà một giáo viên phụ trách (tỷ lệ giữa học sinh và giáo viên).
Một vấn đề khác cũng khá nghiêm trọng là nguồn đầu tư vào giáo dục phổ thông cơ
sở còn quá ít ỏi so với đầu tư cho phổ thông trung học và đại học. Tác giả cũng chỉ ra,
giáo viên không đạt trình độ đào tạo đòi hỏi ở tất cả các cấp. Lương giáo viên quá
thấp được xem là yếu tố ảnh hưởng tới động cơ và hành vi của hoạt động dạy thêm
của giáo viên.
Như vậy, thực tế cho đến nay, có bốn chủ đề nghiên cứu chính về giáo dục: giá
trị học vấn và vai trò của cha mẹ đối với việc học tập của con cái, biến đổi giáo dục,
cung cấp thêm nhận thức, đánh giá của dư luận xã hội về vấn đề dịch vụ giáo dục
(công lập) ở bậc học phổ thông hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu tình trạng của dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ
thông.
- Thông qua việc tìm hiểu dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ
thông, đề tài phân tích nhu cầu, sự kỳ vọng về hệ thống dịch vụ giáo dục của cha mẹ
học sinh và học sinh ở bậc học phổ thông; khả năng đáp ứng của hệ thống dịch vụ
giáo dục ở bậc học phổ thông đối với những nhu cầu, kỳ vọng này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu dư luận xã hội
về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông.
- Phân tích tình trạng của dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông,
xem xét cách đánh giá của các nhóm xã hội về dịch vụ giáo dục phổ thông ở các nội
dung sau: tiếp cận dịch vụ của người sử dụng; cơ sở vật chất của dịch vụ; chi phí dịch
vụ; và chất lượng dịch vụ.
20
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm các nhóm xã hội đang sử dụng hoặc
liên quan đến loại hình dịch vụ này, bao gồm:
- Đối tượng người học: học sinh và cha mẹ học sinh các cấp học thuộc bậc học
phổ thông.
- Đối tượng nhà trường: giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục các cấp học
thuộc bậc học phổ thông.
Khung lý thuyết nghiên cứu dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục
Hệ thống các biến số:
Các biến số độc lập:
- Trình độ học vấn, mức sống, nghề nghiệp
- Nhu cầu, sự kỳ vọng về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông.
- Dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông.
Các biến số can thiệp:
- Bối cảnh kinh tế - xã hội huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, các sự kiện giáo
dục ở bậc học phổ thông.
- Các kênh thông tin về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phát vấn bảng hỏi:
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong đề tài là phát vấn
bảng hỏi (anket). Một bảng hỏi cấu trúc soạn sẵn được sử dụng để thu thập thông tin
ở cấp độ HGĐ. Đối tượng phát vấn bảng hỏi là cha/mẹ học sinh ở bậc học phổ thông.
Đây là nghiên cứu trường hợp tại một huyện của một tỉnh Đồng bằng Sông Hồng
(Thái Bình), trong đó, chúng tôi chọn 1 trường Tiểu học, 1 trường THCS của 1 xã (xã
Văn Lang) và 1 trường THPT trên địa bàn huyện, cụ thể là các trường học sau:
Trường Tiểu học xã Văn Lang, Trường THCS xã Văn Lang và Trường THPT Bắc
Duyên Hà.
- Chọn mẫu:
Việc chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Các
mẫu được lựa chọn đại diện cho các cấp học ở bậc học phổ thông bao gồm: lớp 5
(Tiểu học); lớp 9 (THCS) và lớp 12 (THPT). Đề tài lựa chọn ngẫu nhiên 2 lớp 5, 2
lớp 9 và 2 lớp 12. Sỡ dĩ mẫu nghiên cứu được luận văn lựa chọn như trên bởi đây là
những khối lớp cuối cùng của các cấp học giáo dục phổ thông. Những thông tin về
các khối lớp học này có ý nghĩa quan trọng cho việc xem xét đánh giá của dư luận xã
hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ thông. Dựa trên danh sách học sinh ở các cấp
học thuộc bậc học phổ thông do các trường cung cấp ở 6 lớp học trên, đề tài lập danh
sách hộ gia đình những học sinh này, đối tượng phát vấn là đại diện hộ gia đình
(cha/mẹ học sinh). Tổng dung lượng mẫu là 277. Cụ thể như sau:
+ Tiểu học: 60 HGĐ
+ THCS: 100 HGĐ
+ THPT: 117 HGĐ
48.0
73
62.4
141
50.9
Nữ
40
66.7
52
52.0
44
37.6
136
49.1
b. Tuổi:
30-40 tuổi
30
50.0
37
37.0
22
18.8
89
32.1
>40 tuổi
30
50.0
63
63.0
95
28.5
CĐ, ĐH
9
15.0
10
10.0
13
11.1
32
11.5
d. Nghề nghiệp:
Nông nghiệp
44
73.3
74
74.0
69
59.0
187
67.5
Công nhân
viên chức
5
8.3
8
8.0
18
15.4
31
11.2
66.7
66
66.0
78
66.7
184
66.4
Nghèo
8
13.3
11
11.0
4
3.4
23
8.3
Nhận xét chung về đặc điểm mẫu nghiên cứu:
- Nhóm tuổi chủ yếu > 40 tuổi (67.9%).
- Giới tính tương đối cân bằng (nam: 50.9%, nữ: 49.1%).
- Trình độc học vấn chủ yếu là THCS và THPT (52% và 28.5%).
- Nông nghiệp là nghề chính (67.5%).
- Mức sống các HGĐ chủ yếu là trung bình (66.4%).
24
8.2. Phương pháp nghiên cứu định tính
21 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân đại diện cho 3 bậc học (Tiểu học, THCS và
THPT) đã được thực hiện. Đối tượng phỏng vấn sâu được lựa chọn có chủ định trên
cơ sở xác định phù hợp với mục đích nghiên cứu, cụ thể đối với từng đối tượng như
- Đại diện của Hội phụ huynh: 3 phụ huynh/3 bậc học
Hội phụ huynh học sinh giữ vai trò cầu nối liên kết giữa nhà trường và gia
đình trong các vấn đề liên quan đến việc học tập của các em học sinh. Ban đại diện
cha mẹ học sinh thực hiện việc tham gia giám sát một số hoạt động của nhà trường và
huy động sự tham gia của các cha mẹ khác.
8.3. Phương pháp phân tích tài liệu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu. Các tài liệu thu thập được sử
dụng cho phân tích là:
- Các số liệu thống kê về tình hình giáo dục của tỉnh, huyện và xã.
- Báo cáo kinh tế-xã hội năm 2010 của UBND xã, huyện.
- Các tài liệu, sách báo đã được công khai, kết quả nghiên cứu của một số đề
tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Viện, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ thuộc
lĩnh vực xã hội học và các lĩnh vực có liên quan (giáo dục học, ). Ngoài ra
là một số tài liệu báo cáo nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ liên
quan đến nội dung đề tài.
9. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
9.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đóng góp vào các nghiên cứu dư luận xã hội về giáo dục. Ở khía
cạnh của mối quan hệ giữa các lĩnh vực khoa học xã hội học, luận văn đóng góp ở
mức độ nhất định vào các nghiên cứu của chuyên ngành xã hội học giáo dục.
Thông qua việc vận dụng lý thuyết dư luận xã hội, đề tài đưa những cách giải
thích quá trình phát triển của dư luận xã hội và cho thấy nguyện vọng, các nhu cầu để
cải thiện dịch vụ giáo dục.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc tiến hành tìm hiểu dư luận xã hội về dịch vụ giáo dục ở bậc học phổ
thông cung cấp những bằng chứng và là cơ sở quan trọng cho các nhà quản lý và
những người liên quan đến công tác phát triển giáo dục tham khảo và hoạch định
chính sách phù hợp với nhu cầu của người sử dụng dịch vụ và thực tế của phát triển
kinh tế-xã hội.
về cách thức triển khai các chương trình, chủ trương của ngành giáo dục của huyện.
Mặc dù thiết kế ban đầu của luận văn bao gồm việc thu thập thông tin đại diện chính
quyền địa phương và cán bộ quản lý Phòng giáo dục, tuy nhiên, do hạn chế về thời
gian của cả người phỏng vấn và người được phỏng vấn, hoạt động này đã không được
thực hiện. Ngoài ra, luận văn cũng thiếu các thông tin thu nhận được từ phương pháp
thảo luận nhóm.