Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Hưng Hà, Tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYÊ
̃
N VĂN KHUNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIN ĐI NG GIÁO VIÊN TRUNG HO
̣
C CƠ SƠ
̉

HUYÊ
̣
N HƯNG HA
̀
, TNH THÁI BNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


BIỆN PHÁP PHÁT TRIN ĐI NG GIÁO VIÊN TRUNG HO
̣
C CƠ SƠ
̉

HUYÊ
̣
N HƯNG HA
̀
, TNH THÁI BNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đng B Lãm
HÀ NI – 2011


1.4.2. Yêu cầu về phát triển đội ngũ giáo viên 24
1.4.3. Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên THCS 27

2
Tiểu kết chƣơng 1 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH 35
2.1. Một số đặc điểm TN- KT-XH của huyện Hƣng Hà tỉnh Thái Bình 35
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, dân số và hành chính 35
2.1.2. Đặc điểm kinh tế; văn hoá - xã hội 35
2.2. Tình hình giáo dục huyện Hƣng Hà tỉnh Thái Bình 37
2.2.1. Mạng lƣới trƣờng lớp và quy mô học sinh 37
2.2.2. Chất lƣợng giáo dục 37
2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên 38
2.2.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học 40
2.2.5. Đánh giá chung về GD&ĐT huyện Hƣng Hà 40
2.3. Tình hình giáo dục THCS huyện Hƣng Hà 41
2.3.1. Hệ thống trƣờng lớp và quy mô học sinh 41
2.3.2. Phổ cập giáo dục 42
2.3.3. Chất lƣợng giáo dục 42
2.4. Thực trạng đội ngũ giáo viên THCS huyện Hƣng Hà 45
2.4.1. Sự phát triển về số lƣợng của đội ngũ giáo viên THCS 45
2.4.2. Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS 47
2.4.3. Chất lƣợng đội ngũ giáo viên THCS 48
2.4.4. Đánh giá chung 49
2.5. Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ GVTHCS huyện Hƣng Hà 50
2.5.1. Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS 50
2.5.2. Tuyển chọn; đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ đội ngũ GVTHCS 52
2.5.3. Sử dụng đội ngũ hiện có 54
2.5.4. Tạo môi trƣờng, động lực làm việc và khuyến khích sự phát triển đội ngũ

GVTHCS 78
3.3.5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề
nghiệp GV THCS 80

4
3.4. Thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 84
3.4.1. Quy trình thăm dò 84
3.4.2. Kết quả thăm dò 85
Tiểu kết chƣơng 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1. Kết luận 91
2. Khuyến nghị 92
2.1. Đối với Nhà nƣớc, Bộ Giáo dục và Đào tạo 92
2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 93
2.3. Đối với UBND huyện Hƣng Hà 93
2.4. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo 94
2.5. Đối với các trƣờng THCS 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………….……… 95
PHỤ LỤC
được nghiên cứu, phát triển lên một tầm cao mới. Tính cấp thiết phụ thuộc
vào quá trình phát triển KT-XH.

6
Trước những yêu cầu mới, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng, hoạch
định chiến lược phát triển đội ngũ GV và CBQL, nhằm phát triển GD&ĐT
trong thời kỳ CNH-HĐH. Cụ thể là: Nghị quyết Trung ương II (khóa VIII)
của BCH TW Đảng nêu ra 4 giải pháp cơ bản về xây dựng đội ngũ GV phải
tập trung thực hiện để phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH-HĐH: một là
củng cố và tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm, trong đó có các
trường sư phạm trọng điểm; hai là thực hiện chế độ thu hút nhân tài vào
ngành sư phạm; ba là bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn hóa và nâng cao phẩm
chất, năng lực cho đội ngũ; bốn là có chính sách đãi ngộ đối với GV và tôn
vinh nghề dạy học. Những tư tưởng đó tiếp tục được khẳng định tại Nghị
quyết TW 6 (lần II, khóa IX), Kết luận số 242 của Bộ Chính trị về tiếp tục
thực hiện NQTW II khoá VIII. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục cũng chỉ rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng,
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính
trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên
môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục
trong công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” [18].
Trong các nhiệm vụ trên đã nhấn mạnh việc: “Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán
bộ quản lý giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của
toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội
ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các
mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Trong Chiến

Hưng Hà là một Huyện có nền kinh tế thuần nông, kinh tế chưa phát
triển so với các huyện trong Tỉnh. Song trong những năm qua Huyện uỷ,

8
UBND Huyện đã xác định rõ vai trò của giáo dục nói chung và vai trò của đội
ngũ GV và CBQL nói riêng, đối với sự phát triển KT-XH của Huyện.
Những năm qua, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ
2005-2010, ngành GD&ĐT huyện Hưng Hà đã đạt được một số thành tựu cơ
bản: Huyện đã hoàn thành vững chắc phổ cập Tiểu học và phổ cập giáo dục
THCS. Chất lượng giáo dục có sự chuyển biến, tiến bộ cả về chất lượng đại trà
và chất lượng HS giỏi. CSVC được tăng cường xây dựng theo hướng chuẩn
hoá. Công tác xã hội hoá giáo dục đạt kết quả tốt. Năm học 2010-2011, phong
trào GD&ĐT xếp vị trí thứ hai trong Tỉnh, được UBND tỉnh tặng bằng khen.
Đội ngũ GV các bậc học của huyện Hưng Hà trong những năm qua
được quan tâm xây dựng và phát triển về mọi mặt, song vẫn còn có những
hạn chế, bất cập về cơ cấu đội ngũ, về trình độ và năng lực. Nguyên nhân của
tình trạng trên là ngành GD&ĐT huyện Hưng Hà chưa xây dựng được quy
hoạch, kế hoạch chiến lược, chưa dự báo được nhu cầu GV và đề ra các biện
pháp có căn cứ khoa học, làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ
GV một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu mới.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo
viên Trung học cơ sở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện
nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành QLGD, với mong muốn đóng
góp công sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV
THCS của huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, nơi tôi đang công tác.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng đội ngũ GV
THCS huyện Hưng Hà đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ GVTHCS
huyện Hưng Hà đến năm 2016, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
tại địa phương.

ý kiến chuyên gia về mức độ cần thiết, khả thi của các biện pháp.

10
7.3. Nhóm phương pháp khác: sử dụng các phương pháp thống kê, phương
pháp dự báo, phương pháp so sánh.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ GV.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ GVTHCS huyện Hưng Hà
tỉnh Thái Bình.
Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ GVTHCS huyện Hưng Hà tỉnh Thái
Bình đến năm 2016.
quá trình hội nhập quốc tế” (Chủ nhiệm đề tài: Vũ Trọng Rỹ) với mục đích:

12
Xác định được tầm nhìn giáo dục đến năm 2020 trên cơ sở những luận cứ
khoa học xác đáng, từ đó phác thảo những định hướng phát triển giáo dục,
đào tạo trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế. Một trong những giải
pháp là: Đổi mới cơ bản công tác QLGD; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ QLGD đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng [38].
- Tác giả Nguyễn Thị Bình với bài viết “Vấn đề khoa học giáo dục và
sự cần thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm về giáo dục” (tạp chí Khoa
học giáo dục số 66, tháng 3 năm 2011). Theo tác giả, để đất nước ta tồn tại
và phát triển trong bối cảnh thế giới ngày nay thì phải nâng cao trí tuệ và
năng lực của con người Việt Nam; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng và đãi ngộ GV [4].
- Luận văn Thạc sĩ: “Các biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên Trung
học cơ sở thành phố Hà Đông nhằm tăng cường chất lượng dạy học trong
giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Văn Huấn [31].
Ở các mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án trên đều
đề cập đến vấn đề xây dựng phát triển đội ngũ GV. Tuy nhiên các công trình
đó chủ yếu đi sâu vào những nội dung nhất định để có các biện pháp phát triển
đội ngũ GV và GVTHCS ở những địa phương khác nhau.
Hằng năm, các Sở GD&ĐT và các Phòng GD&ĐT đều có những nghiên
cứu khoa học hoặc thực hiện những giải pháp nhất định để xây dựng phát
triển đội ngũ GV. Trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, do quy
mô học sinh tăng nhanh, dẫn đến mất cân đối về nhiều mặt trong đó có đội
ngũ GV. Hầu hết các địa phương phải đối mặt với việc tăng nhanh đội ngũ
GV bằng nhiều giải pháp tình thế như: Đào tạo GV cấp tốc, đào tạo lại GV
những môn thừa để chuyển sang dạy nhưng môn còn thiếu. Tuyển dụng
những GV trái chuyên môn hoặc những người không tốt nghiệp ở trường Sư
phạm…. đã làm cho chất lượng đội ngũ giáo GV bị giảm sút. Nhiều loại hình

hội.

14
Quản lý còn là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, quản lý còn được
xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp tác động vào đối tượng để phát huy
khả năng của đổi tượng nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức
để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [35].
Như vậy có thể xem quản lý là một quá trình tác động có mục đích có kế
hoạch nhằm gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, thông
qua cơ chế quản lý, nhằm đạt được mục đích của quản lý.
Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý khác nhau nhưng chúng
đều có một điểm chung thống nhất như sau: Quản lý là một quá trình tác động
có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ
hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường
luôn biến động, chủ thể quản lý tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về
nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách đường lối
chủ chương trong các phương pháp quản lý và công vụ quản lý để đạt mục
tiêu quản lý.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành trên nền tảng
của khoa học quản lý nói chung. Cũng giống như khái niệm quản lý, khái
niệm QLGD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây tác giả chỉ đề cập
tới khái niệm QLGD trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục mà hạt
nhân của hệ thống là các cơ sở trường học.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ
theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục

(2) Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:

16
a. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt
b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
c. Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp
d. Lý lịch bản thân rõ ràng” [36].
Luật giáo dục cũng đã quy định rất cụ thể về tên gọi đối với từng đối
tượng giáo dục theo cấp, bậc giảng dạy và công tác. Nhà giáo dạy ở các cơ sở
giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo
viên. Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại
học gọi là giảng viên.
Phạm vi nghiên cứu ở đề tài này là nhà giáo ở cấp THCS thuộc bậc
Trung học. GV dạy ở cấp THCS gọi là GVTHCS, GV dạy ở cấp THPT gọi là
giáo viên THPT. Trình độ chuẩn được đào tạo của GVTHCS, theo điều 77
Luật giáo dục 2005 quy định: “Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có
bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm”.
1.2.2.2. Đội ngũ giáo viên
Để hiểu về đội ngũ GV, trước hết phải hiểu thế nào là đội ngũ? Có nhiều
quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay, khái niệm đội ngũ
được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán bộ,
công chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ y, bác sỹ… đều xuất phát theo cách hiểu của
thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là: “khối đông người được tập hợp lại một cách
chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu”. Theo một nghĩa khác: “đó
là một tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một
lực lượng”.
Theo từ điển Giáo dục học thì: “Đội ngũ giáo viên là một tập thể
những người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo
đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [40]. Đây là lực lượng quyết định
hoạt động giáo dục của nhà trường, cho nên cần được đặc biệt quan tâm xây

GD&ĐT, ở các tỉnh là Sở GD&ĐT…

18
Đối với cấp THCS, đội ngũ GVTHCS là tập hợp những người làm
công tác giảng dạy ở cấp THCS, phối hợp với nhau và phối hợp với lực lượng
giáo dục khác để giáo dục học sinh, phát triển nhận thức, năng lực mà các em
đã đạt được ở Tiểu học lên một tầm cao mới, giúp cho các em có đủ trình độ,
năng lực để tiếp tục học lên học THPT hoặc vào học ở các cơ sở giáo dục
Nghề nghiệp. Theo Điều lệ trường trung học năm 2007 và Thông tư số
35/2006/ TTLT-BGDĐT-BNV, ngày 23 tháng 8 năm 2006 của Bộ GD&ĐT-
Bộ Nội vụ thì đội ngũ GV ở trường THCS bao gồm GV dạy 14 môn học,
tổng phụ trách và cán bộ QLGD (HT, PHT). Tập hợp những GV trong một
trường gọi là đội ngũ GV của trường đó. Tập hợp GV toàn ngành của một
huyện, tỉnh, cả nước gọi là đội ngũ GVTHCS của huyện, tỉnh, nước
Như vậy, khi nói đến đội ngũ giáo viên, phải hiểu và xem xét trên
quan điểm toàn diện và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà
các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ
chế, quy ước nhất định. Vì vậy, mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của
hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên toàn thể. Nếu xét trên
phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ GV chính là nguồn nhân lực của
nhà trường.
1.2.3. Phát triển
Theo từ điển Triết học thì: “Phát triển là một phạm trù triết học dùng để
chỉ sự vận động của sự vật hiện tượng theo chiều hướng tiến lên, từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái
lạc hậu” [41]. Tất cả các sự vật, hiện tượng, con người và xã hội hoặc tự thân
biến đổi, hoặc do bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc
chất lượng đó chính là sự phát triển. Như vậy “phát triển” là một khái niệm
rất rộng. Nói đến “phát triển” là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật,
hiện tượng, con người trong xã hội. Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số


20
Tuy nhiên, trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, khi theo đuổi mục
đích đó, trọng tâm và mục tiêu phát triển lại không hoàn toàn như nhau. Nửa
thế kỷ trở lại đây, phát triển đã trở thành cơ hội thực sự cho nhiều quốc gia,
nhiều cộng đồng trên thế giới và cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về
lý luận phát triển.
Trước sự phát triển bùng nổ của các thành tựu khoa học và công nghệ
trong giai đoạn hiện nay, một cách tiếp cận khác về phát triển có tính hệ
thống, mang đậm chất nhân văn đã được định hình rõ nét trong tư duy phát
triển của nhiều quốc gia, đó là phát triển bền vững, trong đó con người được
coi là trung tâm của sự phát triển, là chìa khóa của mọi sự phát triển. Người ta
quan niệm: “Phát triển là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt
đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con
người”. Theo quan điểm này có hai khía cạnh: Mở rộng cơ hội lựa chọn, nâng
cao năng lực lựa chọn và thực hiện sự lựa chọn của con người để học thực sự
được hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững. Cách tiếp cận mới này
đã nhận được sự ủng hộ của đa số các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt
Nam.
Ở nước ta, trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây
dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên trì con đường phát triển mang
lại hạnh phúc cho toàn thể nhân dân và luôn khẳng định: Con người là trung
tâm của sự phát triển, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển. Tư trưởng này một lần nữa được nhấn mạnh và cụ thể hóa tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển
con người (HDI) của nước ta trong so sánh quốc tế. Chất lượng đời sống, văn
hóa, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong xã hội an toàn, lành mạnh với môi
trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện” [17]. Trong đường lối kinh tế và
chiến lược phát triển của nước ta, Đảng ta xác định: “Phát triển nhanh, có hiệu


Các tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan cho rằng “phát triển
nguồn nhân lực là tạo ra sự tăng trưởng bền vững về hiệu năng của mỗi thành
viên người lao động và hiệu quả chung của tổ chức gắn liền với việc không
ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ” [15].
Theo từ điển Giáo dục học thì: “phát triển nguồn nhân lực là đào tạo
nghề nghiệp, hình thành những khả năng chiếm lĩnh kiến thức, tay nghề và
năng lực; quá trình nhằm cung cấp những nguồn nhân lực cho phát triển KT-
XH cho đất nước” [40].
Qua những khái niệm trên, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực là
làm gia tăng các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần, các giá trị thể chất, giá
trị đạo đức để mọi người lao động có thái độ lao động tốt, có năng lực làm
việc tốt, hoàn thành nhiệm vụ của mình và hợp tác với các thành viên khác
phục vụ sự phát triển của tổ chức.
Đội ngũ GV là nguồn nhân lực của ngành GD&ĐT; phát triển đội ngũ
GV chính là phát triển nguồn nhân lực cho GD&ĐT, đó là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của công tác QLGD, của các cấp QLGD.
1.3. Vị trí của giáo dục THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1. Vị trí, vai trò của cấp THCS
Theo điều 26 Luật giáo dục năm 2005 quy định: “Giáo dục Trung học
cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh
vào lớp sáu phải hoàn thành chương trình Tiểu học, có độ tuổi là 11 tuổi” [36].
Có thể nói, trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp THCS có vị trí, vai
trò đặc biệt quan trọng vì đây là cấp học nối tiếp bậc tiểu học lứa tuổi bắt đầu
bước vào độ tuổi lao động tối thiểu. Đó cũng là bậc học tạo nên sự liên thông
và bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống với các cấp, bậc học khác nhau trong hệ
thống giáo dục quốc dân ở nước ta.
Giáo dục THCS là cấp học cơ sở của bậc trung học phổ thông, nó có vị
trí quan trọng vì: “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước, là

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status