ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG NAM HẢI
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THU NHẬP
CỦA NGƢỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG NAM HẢI
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THU NHẬP
CỦA NGƢỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.Vũ Công Giao
Hà Nội – 2015
1.3.1. Kiểm soát thu nhập trong một số công ước của Liên hợp quốc ........ 24
1.3.2. Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn của một số
quốc gia ........................................................................................................... 27
1.3.2.1. Xác định đối tượng chịu sự kiểm soát thu nhập ………………………27
1.3.2.2. Về xác định phạm vi và nội dung kiểm soát thu nhập……..…………29
1.3.2.3. Về xác định trách nhiệm và hình thức xử lý vi phạm đối với việc kê
khai tài sản, thu nhập………………………………………………………………34
1.3.2.3. Về thu hồi tài sản tham nhũng…………………………………………..
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT THU NHẬP CỦA NGƢỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN
HẠN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................................. 40
2.1. Khái quát các quy định về kiểm soát thu nhập của ngƣời có chức vụ,
quyền hạn trong pháp luật Việt Nam hiện nay .......................................... 40
2.2. Khái quát tình hình thu nhập của ngƣời có chức vụ, quyền hạn ở
nƣớc ta trong thời gian qua .......................................................................... 49
2.3. Thực hiện pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập ở nƣớc ta trong
thời gian qua .................................................................................................. 51
2.3.1. Kê khai tài sản, thu nhập và việc công khai bản kê khai tài sản, thu
nhập của cán bộ, công chức .......................................................................... 51
2.3.1.1. Về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập……………...…...51
2.3.1.2. Về tài sản, thu nhập phải kê khai………………………………….……54
2.3.1.3. Về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập……………………………56
2.3.1.4. Nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm……………………..58
2.3.1.5. Đánh giá chung về tình hình triển khai các biện pháp kê khai tài sản,
thu nhập………………………………………………………………….…………..59
2.3.2. Thanh toán không dùng tiền mặt ........................................................ 62
2.3.3. Tặng quà và nộp lại quà tặng .............................................................. 68
2.4. Thuế thu nhập cá nhân của ngƣời có chức vụ, quyền hạn................. 70
kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn............................... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 106
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Hoàng Nam Hải
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AU
Công ước của Liên minh Châu Phi về PCTN
(Afican Union Regional Anti-Corruption Convention).
BLHS
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế.
(Organization for Economic Co-operation and Development).
PCTN
Phòng, chống tham nhũng.
POS
Máy chấp nhận thanh toán thẻ
(Point of Sale).
TNCN
Thu nhập cá nhân.
UBND
Ủy ban nhân dân.
UNCAC
Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng.
(United Nations Convention against Corruption).
UNTOC
Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia
(United
cả về nhận thức, hành động và đã đạt được những kết quả bước đầu.
Tuy nhiên, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
PCTN, lãng phí đồng thời đánh giá:
“….công tác PCTN, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra là
ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng, lãng phí vẫn
còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh
vực, nhiều cấp, nhiều ngành..., gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn
đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước” [07].
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó bao gồm việc
thiếu những cơ chế, biện pháp hiệu quả, đồng bộ để theo dõi những biến động
về tài sản, đặc biệt là chưa có cơ chế giám sát, phát hiện, xác minh và xử lý các
khoản thu nhập có nguồn gốc bất hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn.
Thấy được bất cập đó, cũng trong Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI đã nêu ra một định hướng mới để ngăn chặn, đẩy lùi tham
nhũng, đó là “…nghiên cứu ban hành quy định về kiểm soát thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn”[07].
Liên quan đến vấn đề trên, Điều 53 Luật PCTN năm 2005 đã quy định:
“Chính phủ trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn”, tuy nhiên, đến nay đã qua gần 10
năm thực hiện, Chính phủ vẫn chưa ban hành bất kỳ văn bản pháp quy hay xây dựng
bất kỳ dự án luật nào trình Quốc hội về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ,
1
quyền hạn. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu luật hóa cơ chế kiểm soát thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn ở nước ta hiện nay là rất cần thiết.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có văn bản nào quy
- Cuốn “Việc công, lợi ích tư: Bảo đảm trách nhiệm giải trình thông
qua công khai thu nhập, tài sản” của Ngân hàng Thế giới, đề cập đến hệ
thống phòng ngừa hành vi làm giàu bất chính, chế tài đối với vi phạm về công
khai thu nhập, tài sản, phối hợp liên ngành để cưỡng chế, thu hồi tài sản… Tài
liệu này cung cấp nhiều số liệu, thực tiễn minh họa ở nhiều quốc gia trên thế
giới về minh bạch tài sản, thu nhập.
- Cuốn “Sai lầm công, hành động tư: Áp dụng thủ tục luật dân sự để
thu hồi tài sản thất thoát” của Ngân hàng Thế giới, trong đó tổng hợp, phân
tích và đưa ra 04 cách thức chủ yếu mà các quốc gia thường lựa chọn áp dụng
đối với việc thu hồi tài sản; khuyến nghị những biện pháp thu hồi tài sản đạt
hiệu quả cao.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Đấu tranh PCTN ở nước ta” của Ban
Nội chính Trung ương. Công trình này nghiên cứu thực trạng tham nhũng,
phân tích những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tham nhũng ở Việt
Nam, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm đấu tranh PCTN ở nước ta.
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Những nghĩa vụ chủ yếu và vấn đề đặt ra
đối với Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước UNCAC” do Thanh tra Chính
phủ thực hiện, 2005. Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định của
Công ước UNCAC, trong đó đặc biệt chú ý đến các quy định về nghĩa vụ của
Công ước đặt ra đối với các quốc gia thành viên. Trên cơ sở rà soát, đối chiếu
các quy định của Việt Nam, đề tài đã đưa ra kiến nghị các nội dung cần sửa
đổi, bổ sung của pháp luật Việt Nam.
- Đề tài khoa học cấp bộ “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ,
quyền hạn” do Cục chống tham nhũng - Thanh tra Chính phủ thực hiện năm
2012. Công trình này nghiên cứu những vấn đề lý luận, đồng thời đánh giá
3
thực trạng thực thi pháp luật về phòng ngừa tham nhũng hiện nay, qua đó đề
về PCTN. Công trình này nghiên cứu quá trình xây dựng, nội dung của Luật
PCTN và thực trạng hệ thống pháp luật về PCTN, từ đó đề xuất một số quan
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN của Việt Nam.
- Luận văn thạc sỹ Luật học “Pháp luật về PCTN của Singapore và bài
học cho Việt Nam” của Lã Văn Huy (bảo vệ tại Khoa luật Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2013). Công trình này tập trung nghiên cứu về mô hình cơ quan
chống tham nhũng của Singapore, từ đó gợi mởmột số giải pháp có thể áp
dụng nhằm xây dựng cơ quan chuyên trách chống tham nhũng ở Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu phân tích làm
rõ khái niệm, bản chất tham nhũng, đặc điểm của tham nhũng, phân tích
khuôn khổ pháp luật và thực trạng về PCTN và nêu ra một số phương hướng,
giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN ở Việt Nam. Trong số đó đã có một
số công trình nghiên cứu về các biện pháp kiểm soát thu nhập, tuy nhiên chưa
có công trình nào phân tích một cách toàn diện các vấn đề lý luận, thực tế và
đưa ra nhữnggiải pháp có tính hệ thống và cụ thể để hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở nước ta. Ngay cả Đề
tài khoa học cấp bộ của Cục chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ về
“Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” cũng mới chỉ phân
tích lý luận và thực tiễn các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được quy định
trong Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007) mà chưa cập nhật
các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ
sung Luật PCTN năm 2012, ví dụ như công khai bản kê khai tài sản, thu
nhập; nghĩa vụ giải trình đối với tài sản tăng thêm của cán bộ, công chức
thuộc diện kê khai, thu hồi tài sản tham nhũng…
Xuất phát từ bối cảnh trên, tác giả lựa chọn đề tài: Pháp luật về kiểm
soát thu nhập của ngƣời có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay để
thực hiện luận văn thạc sỹ của mình nhằm góp phần làm rõ những vấn đề lý
luận, thực tế và pháp lý còn chưa được nghiên cứu kỹ, qua đó đề xuất các giải
6
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm sáng tỏ quan niệm về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ,
quyền hạn;
- Hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành và phân tích tình
hình thực hiện một số biện pháp liên quan đến việc kiểm soát thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn như: minh bạch tài sản và thu nhập, trả lương
qua tài khoản, thanh toán không dùng tiền mặt, nộp lại quà tặng, nghĩa vụ giải
trình, thuế thu nhập cá nhân của người có chức vụ, quyền hạn và thu hồi tài
sản tham nhũng, qua đóchỉ ra những tồn tại, hạn chế, vướng mắc của pháp
luật về kiểm soát thu nhập của người có chức, vụ, quyền hạn hiện nay.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở nước ta trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết vấn đề được sử dụng
trong luận văn bao gồm: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ và đánh giá các quy định của pháp luật
hiện hành của Việt Nam liên quan đến kiểm soát thu nhập của người có chức
vụ, quyền hạn, trên cơ sở đó gợi mở khả năng áp dụng các biện pháp khác để
nâng cao hiệu quả kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở
nước ta, bao gồm các biện pháp mà pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa
trong các công trình nghiên cứu, nhưng vẫn chưa có một quan điểm thống
nhất, đầy đủ, tổng quát về khái niệm này. Tùy thuộc vào mục đích nghiên
cứu, các học giả đã nêu ra những quan niệm khác nhau về thu nhập.
Hai nhà kinh tế học người Anh là R.M. Haig và H.C. Simons vào đầu thế
kỷ thứ XX định nghĩa: “Thu nhập là giá trị tiềm năng thực tế trong khả năng
từng cá nhân để tiêu dùng trong suốt một khoảng thời gian nào đó” [01, tr7].
Đây được coi là một cách tính thu nhập lý tưởng. Việc cộng giá trị tăng thêm
vào thu nhập bởi vì chúng thể hiện sự gia tăng tài sản trong tương lai, nhưng
trong thực tế khó thực hiện được vì giá trị tăng thêm mới chỉ ở dạng tiềm
năng và thông thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhà
kinh tế học người Mỹ là Samuelson thì đưa ra định nghĩa về thu nhập một
cách giản dị hơn: “Thu nhập là tổng số tiền mà một người kiếm được hoặc thu
góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm)” [36, tr 11].
Còn theo từ điển Tiếng Việt thì “thu nhập” là “..nhận được tiền nong,
của cải từ một hoạt động nào đó để chi dùng cho cuộc sống” [70, tr 234]; hay
“là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, một doanh
nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định
từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó” [69, tr 725, 726].
Các định nghĩa nêu trên mặc dù chưa phản ánh được đầy đủ các khía
cạnh của thu nhập nhưng tổng hợp lại cho thấy một số đặc điểm chung như:
thu nhập thuộc về một chủ thể trong xã hội; thu nhập biểu hiện mức độ sở hữu
9
tài sản của một chủ thể, được xác định trong một khoảng thời gian nhất định,
được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ; thu nhập được hình thành thông qua
quá trình phân phối và phân phối lại do thị trường và nhà nước thực hiện.
Từ những đặc điểm chung nêu trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng
quát về thu nhập, theo đó: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nhận
được, thu được trong một khoảng thời gian nhất định, không phân biệt nguồn
thì các nguồn thu nhập bao gồm: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền
lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn;thu
nhập từ chuyển nhượng bất động sản;thu nhập từ trúng thưởng;thu nhập từ
bản quyền;thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế là
chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động
sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ
nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh
doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử
dụng; thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước
giao đất; thu nhập từ kiều hối; thu nhập từ học bổng; thu nhập từ bồi thường
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động,
khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của
pháp luật....
Nhìn chung, những nguồn thu nhập nêu trên là những nguồn thu nhập
hợp pháp, còn trên thực tế cá nhân còn có thể có những thu nhập từ nguồn bất
hợp pháp, ví dụ như tiền, tài sản có được từ các hành vi tham ô, nhận hối lộ,
lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi; tiền, tài sản do phạm tội mà có...
Mặc dù có nhiều cách phân loại thu nhập nhưng chung quy thu nhập
chỉ tồn tại dưới hai hình thức là bằng tiền và tài sản có giá trị. Tiền có thể là
tiền Việt Nam, ngoại tệ, tiền mặt, tiền séc... Tài sản có giá có thể là bất cứ của
cải, vật chất nào có giá trị hoặc các chứng chỉ có giá khác.
11
1.1.2. Người có chức vụ, quyền hạn
Khái niệm người có chức vụ, quyền hạn được đề cập chính thức lần đầu
tiên trong Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao ngày 06/8/1982 hướng dẫn
giải thích việc vận dụng Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, theo đó: “Người có
chức vụ, quyền hạn bao gồm những người được cơ quan Nhà nước hoặc tổ
doanh nghiệp nên có nhiều cơ hội thực hiện hành vi tham nhũng. Những
người thuộc nhóm này được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Cán bộ, công
chức năm 2008 và Điều 2 Luật Viên chức năm 2010. Theo hai luật này, thì:
(1) Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
(2) Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư
Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
13
(3) Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc
làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc,
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
Do đó, cùng là người có chức vụ, quyền hạn nhưng địa vị pháp lý của
họ có thể khác nhau, dẫn đến cơ chế quản lý họ cũng phải khác nhau.Vì vậy,
để kiểm soát tài sản, thu nhập của họ cần phải có sự phân biệt trong từng
trường hợp mà không nhất thiết phải áp dụng những hình thức kiểm soát
thống nhất cho tất cả các đối tượng là người có chức vụ, quyền hạn.
1.1.3. Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn
Theo Từ điển tiếng Việt, “kiểm soát” là “xem xét để phát hiện, ngăn
chặn những gì trái với quy định” [70, tr 674]. Tức là khi thực hiện chức năng
kiểm soát, pháp luật sẽ xây dựng các tiêu chí nhận diện hành vi được coi là vi
phạm pháp luật và nhận diện các chủ thể có khả năng thực hiện hành vi đó.
Từ khung pháp lý chung, các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm kiểm soát sẽ đối
chiếu vào thực tế để xác định chủ thể thỏa mãn những điều kiện, tiêu chí trở
thành đối tượng thuộc phạm vi kiểm soát; đồng thời chủ động tiến hành theo
dõi các hành vi của chủ thể nhằm phát hiện những dấu hiệu vi phạm các quy
tắc đã thừa nhận. Nếu chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh
hưởng đến các nguyên tắc kiểm soát đã đặt ra thì tùy từng trường hợp sẽ bị áp
dụng các chế tài hình sự, hành chính, kỷ luật, hoặc dân sự để xử lý.
Ở góc độ lý luận, khái niệm “kiểm soát” được nhận diện gần giống với
khái niệm “giám sát”. Giám sát được hiểu là "sự theo dõi, kiểm tra việc thực
hiện những điều đã quy định” [70, tr 507], hay là “sự theo dõi mang tính chủ
động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân với hoạt động của các
đối tượng chịu sự giám sát và tắc động bằng các biện pháp tích cực để hướng
các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả
đã được xác định từ trước” [69, tr 292]. Cả hai khái niệm này đều cho thấy
việc quan sát, theo dõi mang tính chủ động của chủ thể có quyền với các chủ
15
thể chịu sự giám sát, kiểm soát [64, tr. 219, 220]. Qua kiểm soát, giám sát mà