Đặc điểm thành thục sinh dục và ứng dụng hormon steroid trong sinh sản nhân tạo cá rô biển (pristolepis fasciata bleeker, 1851 (TT) - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHAN PHƢƠNG LOAN

ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ
ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN
Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)

Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 62620301
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY SẢN

2016

i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHAN PHƢƠNG LOAN

ĐẶC ĐIỂM THÀNH THỤC SINH DỤC VÀ
ỨNG DỤNG HORMON STEROID TRONG
SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ RÔ BIỂN
Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851)

Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 62620301


iii


Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ LUẬN ÁN
1.1 Giới thiệu
Cá rô biển Pristolepis fasciata (Bleeker, 1851) là loài cá bản địa đặc
trưng của miền Nam, Việt Nam. Đây là loài rộng muối, phân bố cả trong
nước ngọt và lợ. Cá rô biển có phẩm chất thịt ngon và không có xương
giăm nên được người dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ưa thích.
Trong vài năm gần đây đối tượng này trở nên khan hiếm do tình trạng lạm
thác nên sản lượng đánh bắt không đủ đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng. Giá bán hiện tại trên thị trường của cá rô biển khá cao, từ 120.000150.000 đồng/kg ở kích cỡ 10-12 con/kg (Phan Phương Loan, 2014). Chính
vì vậy, cá rô biển sẽ là đối tượng rất có tiềm năng để phát triển nuôi trong
các hệ thống nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL cũng như khắp cả nước.
Để có thể đưa cá rô biển trở thành đối tượng nuôi quan trọng trong
tương lai thì việc sản xuất ra con giống nhân tạo đủ về số lượng và tốt về
chất lượng là yêu cầu đầu tiên. Hiện nay, các công trình nghiên cứu về cá
rô biển được công bố còn rất hạn chế. Để phát triển nuôi cá rô biển trong
tương lai thì cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học, đặc biệt
về sinh lý sinh sản, về các biện pháp thuần dưỡng, nuôi vỗ cá bố mẹ, kích
thích sinh sản nhân tạo, ương giống,…
Trong nghiên cứu và thực tế sinh sản nhân tạo các loài cá ở Việt Nam
nói chung và ĐBSCL nói riêng, các chất kích thích sinh sản có nguồn gốc tự
nhiên như kích dục tố trong não thùy thể cá và chế phẩm HCG (Human
Chorionic Gonadotropin) hoặc những chất được tổng hợp từ công nghệ sinh
học như LHRHa (Luteinizing Hormone-Releasing Hormone analogue)
thường được sử dụng (Nguyễn Tường Anh, 1997).
Ngoài những chất kích thích sinh sản trên, một số nghiên cứu sinh sản
nhân tạo trong và ngoài nước trên cá cho thấy các hormon steroid C21 như

trọng góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá rô biển, tạo
ra khả năng cung cấp con giống và góp phần đưa cá rô biển thành một đối
tượng nuôi mới đầy tiềm năng và hiệu quả kinh tế.
1.4 Những điểm mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp mới về lý
thuyết và ứng dụng trong sản xuất.
- Cung cấp các dẫn liệu mới về các đặc điểm sinh học sinh sản của cá rô
biển như kích thước thành thục lần đầu, đặc điểm phát triển tuyến sinh dục, hệ
số thành thục, sức sinh sản, mùa vụ sinh sản của cá. Những dẫn liệu này làm
cơ sở khoa học cho việc xây dựng giải pháp bảo vệ nguồn lợi, thuần dưỡng và
góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này.
- Xác định được phương pháp nuôi, loại thức ăn phù hợp và khả năng
thành thục của cá rô biển trong điều kiện nuôi nhốt. Kết quả này góp phần xây
dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này.
- Đã đánh giá được khả năng và xác định phương pháp sử dụng 3
loại steroid là 17,20P; 17P và P để kích thích cá rô biển sinh sản: có thể
kích thích cá sinh sản thành công với 17,20P trong liều quyết định sau liều
sơ bộ với HCG hay LRH-A3. Việc sử dụng các hormon steroid kích thích
cá rô biển sinh sản là hoàn toàn mới và kết quả này góp phần đa dạng chất
kích thích sinh sản trong quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này.
- Nghiên cứu đã xác định được quá trình phát triển phôi, ấu trùng và
cá con của cá rô biển như thời gian ấu trùng dinh dưỡng bằng noãn hoàng,
thời gian hoàn thiện quá trình phát triển ống tiêu hoá cũng như thời điểm cá

2


bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Những kết quả này góp phần quan trọng
trong việc ương giống thành công đối tượng này.
Chƣơng 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

dục. Mẫu cá được giữ sống và chuyển về phòng thí nghiệm Bộ môn Dinh
dưỡng và Chế biến thuỷ sản để tiếp tục phân tích.
3.3.2.2 Các chỉ tiêu phân tích

3


- Các chỉ tiêu máu: số lượng hồng cầu; tỷ lệ huyết cầu (hematocrit),
thể tích trung bình hồng cầu được xác định theo phương pháp của Larsen
and Snieszko (1961; trích bởi Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư,
2010).
- Protein cơ và gan cá được xác định theo phương pháp của Lowry et
al. (1951), sử dụng Bovine serum albumin (BSA, Sigma) làm đường chuẩn.
- Hàm lượng vitellogenin được xác định thông qua hàm lượng
phosphate protein huyết tương.
3.3.3 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá rô biển bằng các loại
thức ăn khác nhau
3.3.3.1 Hệ thống thí nghiệm
Thí nghiệm nuôi vỗ thành thục sinh dục cá rô biển được bố trí trong
9 giai bằng lưới (30 m2/giai) đặt trong ao đất. Mực nước trong giai sâu 1,8
m. Nước trong ao được trao đổi một tháng 2 lần theo thuỷ triều. Trong ao,
hệ thống phun mưa được thiết kế ở các vị trí đặt giai nhằm tăng cường ôxy.
3.3.3.2 Cá dùng trong thí nghiệm
Cá dùng trong thí nghiệm được đánh bắt từ tự nhiên. Cá được thích
ứng trong các giai để làm quen với điều kiện nuôi nhốt và thức ăn chế biến
(3 tháng). Tiến hành chọn những cá có kích cỡ tương đồng và khoẻ mạnh
để bố trí thí nghiệm.

Hình 1. Vi bụng cá đực (trái) và cá cái (phải)



Béo (%)
3,56
2,79

Tro (%)
3,50
8,74

3.3.3.4 Cho ăn và chăm sóc
Cá được cho ăn ngày 2 lần vào lúc 8 giờ và 17 giờ với mức thỏa mãn
theo nhu cầu. Các chỉ tiêu thủy lý – hóa (nhiệt độ, ôxy hoà tan, pH, amôn
tổng số (TAN) và nitrite): định kỳ 1 tuần đo 1 lần vào lúc 6 giờ sáng và 14
giờ chiều theo các phương pháp chuẩn.
3.3.3.5 Các chỉ tiêu phân tích
- Hệ số thành thục (GSI) và tỷ lệ thành thục của cá được đánh giá 1
tháng/lần từ khi bố trí thí nghiệm nuôi vỗ. Thời gian bắt đầu thí nghiệm
nuôi vỗ đến khi kết thúc là 3 tháng.
3.3.4 Nghiên cứu xác định loại, liều lƣợng, phƣơng pháp tiêm hormon
steroid kích thích cá rô biển chín và rụng trứng
3.3.4.1 Cá thí nghiệm
Cá rô biển dùng trong thí nghiệm này được chọn từ những cá thành
thục sinh dục trong thí nghiệm nuôi vỗ. Cá được chọn là những cá khoẻ
mạnh, thành thục sinh dục tốt (tuyến sinh dục ở giai đoạn IV), khối lượng
từ 50-100 g/con.
3.3.4.2 Các loại hormon sử dụng trong nghiên cứu
* Progesterone (P) và 17-hydroxyprogesterone (17P): của Công ty
Sigma (Pháp), dạng bột, màu trắng. 17α, 20β – dihydroxyprogesterone
(17,20P) được điều chế từ 17P bằng phản ứng khử bởi NaBH4 theo
Norymberski and Woods (1955).

3
3
3

Liều steroid (mg/kg cá cái)
17P
7
10
15

P
10
15
20

17,20P
3
4
5

- Tác động gây chín noãn bào của các steroid sẽ được đánh giá vào
lúc 8 giờ sau khi tiêm hormon. Phương pháp đánh giá sự chín noãn bào
(Final oocyte maturation-FOM) theo Brzuska (1979); Mishra and Joy
(2006); Tokumoto et al. (2011) và Żarski et al. (2011).
Các chỉ tiêu phân tích trong TN1
+ Sự thay đổi kích thước trứng sau khi tiêm các loại steroid.
+ Tỷ lệ chín trứng: tỷ số trứng chín trên tổng số trứng quan sát.
Thí nghiệm 2 (TN2): Kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P;
17P và P trong liều tiêm quyết định sau liều sơ bộ bằng HCG
- Thí nghiệm 2 được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức


Thí nghiệm 3 (TN3): Kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P;
17P và P trong liều tiêm quyết định sau liều sơ bộ bằng LRH-A3+DOM
- TN3 được bố trí tương tự như TN2. NTĐC sử dụng hoàn toàn
LRH-A3+DOM. Liều quyết định cho NTĐC là 56 μg LRH-A3+6 mg DOM
/kg cá cái và liều quyết định cho các NT còn lại là liều steroid tối ưu có tác
dụng gây chín noãn bào từ TN1 (Bảng 4).

6


Bảng 4. Thí nghiệm kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P, 17P và P sau liều
sơ bộ bằng LRH-A3+DOM
NT
1 (ĐC)
2
3
4

Số cá cái
15
15
15
15

Liều sơ bộ
(tính cho 1 kg cá cái)
14 μg LRH-A3 + 2 mg DOM
14 μg LRH-A3 + 2 mg DOM
14 μg LRH-A3 + 2 mg DOM

ngày tuổi
- Mẫu cá được thu vào các ngày tuổi 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 15 20,
25 và 30 sau khi nở. Quan sát sự biến đổi hình thái ống tiêu hóa trực tiếp
dưới kính hiển vi. Tiêu bản mô học ống tiêu hóa được thực hiện theo
phương pháp mô tả bởi Drury and Wallington (1967) và Kiernan (1990).
3.3.5.3 Khả năng chịu đựng của cá giai đoạn ấu trùng đến 30 ngày tuổi
đối với một số yếu tố môi trường
Nghiên cứu được thực hiện với cá rô biển 1, 5, 10, 20 và 30 ngày tuổi
sau khi nở.

7


a) Xác định nhiệt độ cao và thấp gây chết cá: theo phương pháp của
Lahdes and Vainio (2003).
b) Xác định ngưỡng ôxy và cường độ tiêu hao ôxygen: theo phương
pháp bình kín (Wokoma and Marioghae, 1996).
c) Xác định pH cao và thấp gây chết cá: theo Wokoma and
Marioghae (1996).
d) Xác định độ mặn gây chết cá: theo phương pháp của Bringolf et
al. (2005) và Schofield et al. (2006).
4. Phƣơng pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập ở tất cả các thí nghiệm được tính toán giá trị
trung bình (TB), độ lệch chuẩn (STD), lớn nhất, nhỏ nhất và được trình bày
dưới dạng TB±STD. Phân tích thống kê (One-way ANOVA với phép thử
DUNCAN) được áp dụng để tìm ra sự khác biệt giữa các trung bình các
nghiệm thức ở mức ý nghĩa p
4.1.3 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục cá rô biển cái và đực
4.1.3.1 Đặc điểm tuyến sinh dục cái (buồng trứng)
Dựa vào các tiêu chuẩn phân chia các giai đoạn thành thục tuyến
sinh dục của Xakun and Buskaia (1968), thì buồng trứng cá rô biển có
những đặc điểm phát triển như sau:
- Giai đoạn I (GĐI): buồng trứng chỉ là hai dạng sợi ngắn, nhỏ, màu
trắng trong. Về mặt tổ chức học, noãn sào chỉ bao gồm tế bào sinh dục là
các noãn nguyên bào. Noãn nguyên bào có nhiều góc cạnh, kích thước rất
nhỏ, tế bào chất ưa kiềm nên bắt màu tím của hematoxylin mạnh, nhân ưa
kiềm yếu nên bắt màu nhạt và số tiểu hạch ít. Giai đoạn này chỉ xuất hiện
đối với những cá rô biển thành thục lần đầu.
- Giai đoạn II (GĐII): buồng trứng có kích thước lớn lên, bề mặt có
nhiều mạch máu, màu hồng nhạt. Lúc này, noãn bào có kích thước khá lớn,
màng của noãn bào mỏng và tổ chức liên kết nhiều. Thể tích tế bào chất
tăng lên. Nhân tròn rõ, ưa kiềm và bắt màu nhạt, trong nhân lớn có nhiều
tiểu hạch.
- Giai đoạn III (GĐIII): thể tích buồng trứng tăng lên, chiếm 1/2
xoang bụng, bề mặt buồng trứng có màu vàng nhạt. Noãn bào chuyển sang
giai đoạn sinh trưởng chất dinh dưỡng, bắt đầu quá trình tích lũy noãn
hoàng. Trong tế bào chất xuất hiện nhiều không bào (không bắt màu), nhân
lớn bắt màu tím nhạt. Tế bào chất vẫn còn ưa kiềm nhưng rất yếu. Khối

9


lượng noãn hoàng tăng, noãn hoàng xuất hiện nhiều bắt màu hồng của
eosin rất rõ, các hạt noãn hoàng to nằm phía ngoài trong khi các hạt nhỏ
nằm sát nhân.
- Giai đoạn IV (GĐIV): buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng,
căng phồng, nhìn rõ hạt trứng; hạt trứng tròn và căng, màu vàng nhạt, các

- Giai đoạn III (GĐIII): buồng tinh có màu trắng hồng, mạch máu
phân bố nhiều.
- Giai đoạn IV (GĐIV): buồng tinh đạt kích thước lớn, có màu trắng
phớt hồng.
- Giai đoạn V (GĐV): buồng tinh đạt kích thước lớn nhất, có màu
trắng sữa. Tinh trùng chứa đầy trong ống dẫn tinh. Cá đang ở trạng thái
sinh sản, sẵn sàng phóng tinh khi có hoạt động sinh sản. Khi ấn nhẹ vào lỗ
sinh dục cá đực có buồng tinh ở giai đoạn này, tinh dịch sẽ chảy ra.
- Giai đoạn VI (GĐVI): buồng tinh teo nhỏ lại và mềm nhão; bề mặt
buồng tinh có màu đỏ bầm.

Hình 5. Hình dạng của buồng tinh cá rô biển đực ở các giai đoạn phát triển I, II,
III, IV, V và VI (từ trái sang phải)

4.1.4 Sự biến đổi giai đoạn thành thục sinh dục (GĐTT) cá rô biển đực
và cái qua các tháng thu mẫu
4.1.4.1 Sự quan hệ giữa GĐTT sinh dục và kích thước cá theo thời gian
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá rô biển cái thu được có chiều dài
tổng cộng (TL) nhỏ nhất là 6,5 cm và lớn nhất là 25,4 cm và cá rô biển đực
thu được có chiều dài tổng cộng (TL) nhỏ nhất là 6,3 cm và lớn nhất là 20,8
cm. Các giá trị này của cá đực là thấp hơn cá cái. Theo Baran et al. (2007),
cá rô biển cái có thể đạt thành thục sinh dục với chiều dài tổng cộng từ 7-10
cm. Dựa trên kích thước cá rô biển có tuyến sinh dục giai đoạn IV thì có
thể thấy có 2 nhóm cá cái: nhóm cá nhỏ có TL≤15 cm và nhóm cá lớn có
TL>15 cm; tương tự, có 2 nhóm cá đực: nhóm cá nhỏ có TL≤14 cm và
nhóm cá lớn có TL>14 cm. Cá kích thước nhỏ thường chiếm tỷ lệ cao hay
tuyệt đối trong các nhóm cá có giai đoạn thành thục sinh dục khác nhau,
đặc biệt ở giai đoạn phát dục thấp (GĐI, II và III); trong khi cá kích thước
lớn thường chiếm tỷ lệ đáng kể hay cao trong các nhóm cá có giai đoạn
thành thục sinh dục cao (GĐIV). Đặc biệt, có sự gia tăng chiều dài theo giai

(40%) đến tháng 7/2012 (55,6%) và với tỷ lệ thấp ở giai đoạn cuối của
nghiên cứu, 14,3% vào tháng 3 và 13,3% vào tháng 4/2013. Khác với cá
cái, cá có buồng tinh giai đoạn V (GĐV, là giai đoạn cá sinh sản) đã được
tìm thấy vào tháng 5, 7 và 8/2012 với tỷ lệ lần lượt là 50, 33,3 và 100%. Cá
đực đã sinh sản và ở giai đoạn hồi phục (GĐVI) chỉ tìm thấy vào tháng
11/2012 với tỷ lệ 53,8% (Hình 6).

12


Từ những khảo sát về sự biến động giai đoạn thành thục sinh dục cá
rô biển trong thời gian thu mẫu cho thấy có sự tương đồng trong quá trình
phát dục của cá rô biển đực và cá cái. Có thể nhận định cá rô biển có thời
gian sinh sản kéo dài, bắt đầu phát dục từ tháng 1 và sinh sản tập trung vào
nửa đầu mùa khô ở vùng ĐBSCL (từ tháng 5 đến tháng 8).
4.1.5 Sự biến đổi hệ số thành thục (GSI) của cá rô biển cái và đực qua
các tháng thu mẫu
Hệ số thành thục của cá rô biển cái bắt đầu tăng dần từ tháng 12 năm
trước (2,51%), đạt giá trị cao nhất vào các tháng 6 (14,68%), giảm dần vào
các tháng sau đó (12,89% vào tháng 7 và 10,19% vào tháng 8). Vào tháng
9, tháng 10 thì hệ số thành thục của cá bắt đầu giảm nhanh (5,06 và 1,40%)
và đạt thấp nhất vào tháng 11 (0,36%) (Hình 7).
Tương tự, hệ số thành thục của cá rô biển đực cũng thấp nhất vào
tháng 11 (0,19%) và cao nhất là vào tháng 8 (4,75%) (Hình 7).

Hình 7. Biến động hệ số thành thục cá rô
biển theo thời gian

Hình 8. Đường cong thể hiện mối tương
quan giữa tỷ lệ thành thục và chiều dài cá

theo khối lượng cơ thể và khối lượng buồng trứng cá rô biển cái (Hình 9).

Hình 9. Tương quan giữa sức sinh sản với khối lượng cơ thể (trái) và khối lượng buồng
trứng (phải) của cá rô biển cái (n=30)

4.2. Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của cá rô biển
4.2.1 Mối tƣơng quan giữa khối lƣợng và chiều dài

Hình 10. Tương quan giữa khối lượng (W) và chiều dài (L) của cá rô biển cái (n=226)
(trái) và của cá rô biển đực (n=143)

14


Các phương trình tương quan giữa khối lượng và chiều dài được tính
cho cá cái là W=0,1829L2,2685 và cho cá đực là W=0,2775L2,0547. Hệ số
tương quan R2=0,8748 và R2=0,7721 cho thấy sự tương quan giữa khối
lượng và chiều dài của cá cái và cá đực là chặt chẽ (Hình 10).
4.2.2 Biến đổi tỷ lệ huyết cầu (Hematocrit), số lƣợng hồng cầu và thể
tích trung bình hồng cầu (MCV) theo các giai đoạn phát triển của
tuyến sinh dục cá rô biển
Tỷ lệ huyết cầu (hematocrit, %) ở cá rô biển đực (dao động trong
khoảng 31,83-44,93%) cao hơn cá cái (dao động trong khoảng 26,5830,61%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa
hematocrit và các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục trên cá rô biển.
Số lượng hồng cầu ở cá rô biển cái (biến động 0,80x106-4,07x106 tế
bào/mm3) và thấp hơn giá trị của cá đực (biến động 2,37x106-2,75x106 tế
bào/mm3). Số lượng hồng cầu ở cá rô biển cái có buồng trứng giai đoạn I, II
và III khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) nhưng cao hơn một
cách có ý nghĩa so với cá rô biển cái có buồng trứng giai đoạn IV (p
tuyến sinh
dục
I
II
III
IV

Protein cơ

Cá cái
Protein gan

32,1±1,16b
41,2±0,78c
29,6±0,82ab
23,2±0,82a

51,1±1,30ab
63,5±0,78b
53,4±1,07ab
43,1±1,76a

Hàm lượng
vitellogenin
74,01±23,36a
94,60±8,01a
125,43±20,29b
148,42±35,83b

Protein cơ

theo thời gian nuôi vỗ
Vào tháng 2, khi mới bắt đầu bố trí thí nghiệm thì tất cả cá rô biển cái
được khảo sát đều có tuyến sinh dục ở giai đoạn II.
Đến tháng 5, phần lớn cá được khảo sát trong quá trình nuôi vỗ ở cả
3 nghiệm thức đều đã thành thục sinh dục, trong đó cá có tuyến sinh dục
giai đoạn IV ở 3 nghiệm thức dao động trong khoảng 60-66,67% (Bảng 6).
Bảng 6. Biến động GĐTT sinh dục (%) của cá rô biển cái theo thời gian nuôi vỗ
Thời gian
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5

II
100
86,7
46,7
6,7

NT1
III
13,3
26,7
26,7

IV
26,7
66,7

II

66,7


Sự thành thục sinh dục của cá rô biển cũng tuân theo quy luật chung
của đa số các loài các nước ngọt vùng ĐBSCL là thành thục sinh dục vào
đầu mùa mưa, được bắt đầu vào cuối tháng 4 đầu tháng 5.
4.3.2.2 Biến động hệ số thành thục sinh dục của cá rô biển cái theo thời
gian nuôi vỗ
Hệ số thành thục sinh dục của cá rô biển cái tăng dần qua các tháng
nuôi vỗ và khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05) giữa các
nghiệm thức (Bảng 7).
Bảng 7. Sự biến động hệ số thành thục của cá rô biển cái qua các tháng nuôi vỗ
Nghiệm
thức
NT1
NT2
NT3

Tháng 2
0,69±0,23a
0,89±0,37a
0,71±0,32a

Hệ số thành thục (GSI, %)
Tháng 3
Tháng 4
1,85±2,26a
5,05±5,31a
1,24±0,89a
3,05±2,02a

biến (trái dưới) và tỷ lệ noãn bào chín sau khi cá được tiêm các
hormon steroid với các liều khác nhau (phải)

Nhìn chung, tỷ lệ chín noãn bào gia tăng theo liều hormon của cả 3
loại steroid thí nghiệm (Hình 12).
Tỷ lệ chín noãn bào đạt cao nhất với hormon 17P ở liều 10 mg/kg cá
và với hormon P ở liều 20 mg/kg là khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05) và thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p
147±12a

Hình 13. Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ
sống của cá bột khi sinh sản bằng
hormon steroid sau liều sơ bộ bằng
HCG

Chất lượng sinh sản dựa trên kết quả thụ tinh, nở và sức sống cá bột
của 3 loại hormon steroid có khuynh hướng giảm dần từ 17,20P, 17P và P;
trong đó chất lượng sinh sản của 17,20P là tương đương HCG (Hình 13).
Điều này cho thấy có thể sử dụng 17,20P để kích thích cá rô biển sinh sản
trong liều quyết định sau liều sơ bộ với HCG. Tuy nhiên, liều tối ưu của
17,20P có thể cao hơn liều thử nghiệm.
4.3.3.3 Kết quả kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P, 17P và P
trong liều tiêm quyết định với liều sơ bộ bằng LRH-A3+DOM
Tương tự thí nghiệm 2, hiệu quả sinh sản của 3 loại hormon steroid
cũng sẽ được so sánh với cá đối chứng được tiêm LRH-A3+DOM.
Bảng 9. Kết quả kích thích sinh sản cá rô biển bằng 17,20P (NT2), 17P (NT3), P
(NT4) trong liều quyết định sau liều sơ bộ bằng (LRH-A3+DOM) (NT1, ĐC)
NT)

Tỷ lệ cá
đẻ (%)

1 (ĐC)
2
3
4

93,33b

thấp nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) về sức sinh sản
tương đối thực tế giữa các nghiệm thức (Bảng 9).
Chất lượng sinh sản dựa trên kết quả thụ tinh, nở và sức sống cá bột
của 3 loại hormon steroid trong thí nghiệm này cũng có khuynh hướng
giảm dần từ 17,20P, 17P và P; trong đó chất lượng sinh sản của 17,20P cao
hơn LRH-A3 (Hình 14). Điều này cho thấy có thể sử dụng 17,20P để kích
thích cá rô biển sinh sản trong liều quyết định sau liều sơ bộ với LRH-A3.
Tuy nhiên, liều tối ưu của 17,20P có thể cao hơn liều thử nghiệm.
4.3.4 Quá trình phát triển phôi, thời gian cá dinh dƣỡng bằng noãn
hoàng, kích cỡ miệng và chiều dài cá
3.4.1 Quá trình phát triển phôi của cá rô biển
Trong điều kiện nhiệt độ dao động từ 27-31oC, pH 6,8-7,0, hàm
lượng ôxy hòa tan >5 ppm, thời gian phát triển phôi của cá rô biển là 13-14
giờ. Sau khi nở, ấu trùng rất yếu, cơ thể nổi trên mặt nước. Cá mới nở có
chiều dài trung bình 1,84±0,02 mm; sau khi tiêu hết noãn hoàng cá có chiều
dài trung bình 3,17±0,08 mm và chiều cao thân trung bình 0,93±0,05 mm.

Trứng vừa thụ
tinh

Giai đoạn 2 tế
bào – 0g40ph

Giai đoạn 4 tế
bào – 0g50ph

Giai đoạn 8 tế
bào - 1g05ph


nhiều –
12g15ph

Cá mới nở –
13g30ph-14g
(1,84±0,02mm)

Hình 15. Các giai đoạn phát triển phôi của cá rô biển (không theo tỷ lệ kích thước)

20


4.3.4.2 Thời gian cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng
Thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng của cá rô biển là 72 giờ.
4.3.4.3 Kích cỡ miệng và chiều dài cá
Có sự tương quan thuận và chặt chẽ giữa chiều dài cơ thể và cỡ
miệng cá theo phương trình y=354,17L0,0634 (R2=0,9086); kích cỡ miệng cá
tăng dần theo sự tăng chiều dài cơ thể (Hình 16).
Ngày
tuổi

Chiều dài
thân (mm)

Cỡ miệng
ở 90o (µm)

3
4
5

464,26±39,09
569,14±63,20
652,80±68,05
1.284,38±180,56
1.368,05±299,83

Cỡ miệng ở 90 độ (µm)

Bảng 10. Tương quan giữa chiều dài cơ thể và cỡ miệng cá rô biển (n=30)
2500

y = 354,17L0,0634
R² = 0,9086

2000
1500
1000
500
0
0

5

10
15
20
25
Chiều dài thân (mm)

30

thành khi cá 20 ngày tuổi (tuyến dạ dày, tế bào tiết chất nhầy,…. ở dạ dày
và ruột) (Hình 17).

Lát cắt dọc cá rô biển 3 ngày tuổi
(10X): (A) Khoang miệng, (B)
thực quản, (C) Dạ dày; (D) Ruột,
(E) Hậu môn, (F) Noãn hoàng.

Hình cắt dọc cá rô biển 15 ngày
tuổi (4X): (A) Khoang miệng; (B)
Hầu; (C) Thực Quản; D) Dạ dày;
(E) Ruột; (F) Hậu môn; (J) Nếp
gấp.

Khoang miệng cá rô biển 5 ngày
tuổi (40X): (A) Niêm mạc; (B)
Khoang miệng.

Thực quản cắt dọc của cá rô biển
3 ngày tuổi (40X): (A) Tế bào
dạng cốc; (B) Khoang thực quản.

Thực quản của cá rô biển 15 ngày
tuổi (40X): (A) Lớp niêm mạc; (B)
Lớp dưới niêm mạc; (C) Lớp cơ;
(D) Tế bào dạng cốc

Hình dạ dày cắt ngang cá rô biển
3 ngày tuổi (40X): (A) Lớp
màng mỏng; (B) Lớp niêm mạc;

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status