CHÍNH SÁCH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA CÁC CÔNG TY
XUYÊN QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM
Nguyễn Việt Nga, Nguyễn Đắc Long, Phạm Diệu Linh, Phạm Nguyễn Huyền Linh
Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân
Môn học :Kinh Tế Quốc Tế
Người hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Thường Lạng
TÓM TẮT: Hệ thống hoá lý luận chung về chính sách chuyển giao công nghệ
của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh
tế thế giới. Nghiên cứu quá trình CGCN của các TNCs và tác động của nó đối với
nền kinh tế Việt Nam, đồng thời rút ra bài học và đề xuất một số giải pháp nhằm
khai thác có hiệu quả chính sách chuyển giao công nghệ của các TNCs để thúc
đẩy kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ khoá: công ty xuyên quốc gia, chuyển giao công nghệ, đầu tư, kinh tế, Việt
Nam.
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, cách mạng
khoa học-công nghệ, hoạt động của các công ty xuyên quốc gia (Transnational
Coporations - TNCs) đang và sẽ là lực lượng chủ đạo thúc đẩy quá trình toàn cầu
hoá, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội trên phạm vi quốc tế.
TNCs là lực lượng chủ chốt trong lĩnh vực chuyển giao khoa học công nghệ tiên
tiến hiện đại từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển như VIệt
Nam. Sự tăng lên nhanh chóng của các công nghệ được chuyển giao từ TNCs trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là một xu hướng tất yếu, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế; đồng thời, cũng đặt nền kinh tế Việt Nam
trước nhiều thách thức. Với các câu hỏi đặt ra như: Chính sách chuyển giao công
nghệ của TNCs diễn ra như thế nào, tác động ra sao tới Việt Nam ? Vì sao TNCs
- Hệ thống hóa lý luận về TNCs và chính sách chuyển giao công nghệ của
TNCs.
- Nghiên cứu quá chuyển giao công nghệ của TNCs và tác động của chúng
đối với nền kinh tế
Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tác động tích cực và hạn
chế tác động tiêu cực từ hoạt động chuyển giao này đối với nền kinh tế Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu :
- các chính sách chuyển giao công nghệ của TNCs ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu :
- Nghiên cứu chính sách chuyển giao công nghệ của TNCs đến nền kinh tế
Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn năm 1987 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời, kết hợp
sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, logíc kết hợp với lịch sử
để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài.
6. Dự kiến đóng góp mới của bài thảo luận
- Hệ thống hoá lý luận về TNCs và chính sách chuyển giao công nghệ của
chúng.
3
- Góp phần phân tích và làm rõ chính sách chuyển giao công nghệ của TNCs
và tác động của chúng đến nền kinh tế Việt Nam.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả sự chuyển giao này để
thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
Công ty mẹ là công ty thực hiện quyền kiểm soát toàn bộ tài sản của các thực thể
kinh tế khác ở nước ngoài thuộc quyền quản lý của chúng thông qua hình thức sở
hữu vốn tư bản cổ phần. Có tỷ lệ góp vốn cổ phần là 10% so với cổ phần gốc hoặc
cao hơn, hay mức cổ phần khống chế đối với các công ty liên doanh, hoặc tương
ứng đối với các công ty độc lập, thường được xem là ngưỡng để giành quyền kiểm
soát tài sản của các công ty khác.
Cũng theo định nghĩa này, có những loại công ty con sau đây:
-Công ty phụ thuộc hay còn gọi là công ty con (Subsidiary Enterprises): là
công ty TNHH (trách nhiệm hữu hạn) ở nước chủ nhà (Host Country – nước có
công ty con của TNCs hoạt động), trong đó chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu
hơn 50% tài sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành viên
trong bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty.
-Công ty liên kết (Associate Enterprisies): là công ty TNHH ở nước chủ
nhà, trong đó chủ đầu tư sở hữu ít nhất là 10% nhưng không lớn hơn một nửa
quyền biểu quyết của các cổ đông, quyền hạn ít hơn công ty phụ thuộc.
5
-Công ty chi nhánh (Branch Enterprises): là công ty hoạt động ở nước ngoài
với 100% tài sản thuộc sở hữu của công ty mẹ.
1.1.1.2.Nguồn gốc hình thành của các công ty xuyên quốc gia.
Sự ra đời của TNCs trên thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản
xuất lớn TBCN (Tư bản chủ nghĩa). Các công ty xuyên quốc gia là hình thức phát
triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, và là kết quả trực tiếp của quá
trình tích tụ và tập trung sản xuất qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản
dưới sự tác động của các qui luật thị trường : là sự vận động mở rộng của quan hệ
sản xuất TBCN thông qua các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh giản đơn đến
kết cấu tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế.
Các TNCs ra đời và phát triển đã đem lại cho CNTB một hình thức tổ chức
sản xuất mới, phản ánh sự thích ứng giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản
của cách mạng khoa học và công nghệ bùng nổ. Quá trình tích tụ sản xuất trong
nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh dẫn đến việc xuất hiện các hình thức công ty liên
hiệp nông-công nghiệp, nông-thương nghiệp (ở Mỹ những năm 1980, liên hiệp
nông-công nghiệp chiếm trên 30% sản lượng nông sản). Cùng với quá trình tích tụ
sản xuất trong nông nghiệp, mối liên hệ giữa công-nông nghiệp ngày càng tăng,
đẩy mạnh xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng như
trong tổng sản phẩm quốc nội (hiện nay chỉ còn khoảng 2-10% ở các nước tư bản
phát triển cao).
Quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền
mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạng khoa học và công nghệ. Sự liên kết
giữa các xí nghiệp lớn dẫn đến quá trình liên kết đa ngành, trong đó lĩnh vực du
lịch, ngân hang được các tổ chức độc quyền quan tâm và bành trướng quyền lực.
Tình hình đó dẫn đến sự tập trung tư bản, tập trung sản xuất kinh doanh hết sức to
lớn.
Tóm lại, tích tụ tư bản và tập trung sản xuất lâu dài đã dẫn đến việc hình
thành các TNCs, bởi đó chính là quá trình tạo ra cơ sở vật chất cho sự bành trướng,
giúp cho các tập đoàn tư bản có khả năng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thực
hiện việc đầu tư vào các nước dưới nhiều hình thức và thu được lợi nhuận cao.
1.1.1.3.Các loại hình công ty xuyên quốc gia (TNCs)
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các TNCs, tuy nhiên, theo các nhà
nghiên cứu thì các phân loại phổ biến nhất hiện nay là phân loại theo trình độ phát
triển, là sự thay đổi về hình thức sở hữu tư bản của các TNCs
-Cartel: loại hình liên kết giữa các công ty độc quyền trong cùng một ngành,
có thể cùng nhau ký hiệp định lập ra thị trường tiêu thụ, xác định giá cả hang hóa
và số lượng bán ra nhằm mục tiêu hạn chế cạnh tranh, phân chia lợi ích cụ thế. Ví
dụ: OPEC (tổ chức các nước xuất khấu dầu lửa) là một loại Cartel có quy mô quốc
tế, các thành viên OPEC thường thỏa thuận với nhau về số lượng dầu cung cấp và
giá bán trên thế giới. Các công ty này về mặt pháp lý là những công ty độc lập
trong sản xuất cũng như thương mại.
-Syndicate: cũng là loại hình liên kết giữa các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa,
ty mẹ thực hiện việc mua cổ phiếu của các công ty đang hoạt động tốt ở tất cả các
ngành có tỷ suất lợi nhuận cao và thâu tóm dần. Vì thế, cơ cấu ngành kinh doanh
trong Conglomerate luôn biến đổi theo hướng đa dạng, hỗn hợp và cơ cấu quản lý,
điều hành phải linh hoạt. Ví dụ, ABS-CBN corporation là một conglomerate lớn
mạnh ở Philippin, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình,sản
xuất chương trinh, viễn thong, website,…,với doanh thu năm 2011 đạt trên 700
triệu USD.
Việc phân loại các TNCs theo các hình thức trên từ Cartel đến
Conglomerate phản ánh sự giảm dần tính chất sở hữu tư nhân và sự tăng lên tính
chất tập thể trong sở hữu tư bản. Các công ty tư bản độc quyền vốn đã tồn tại dưới
hình thức những loại hình cơ bản này ở phạm vi quốc gia, nhưng do quá trình hoạt
8
động phát triển, chúng buộc phải vượt ra khỏi biên giới quốc gia và hoạt động trên
phạm vi quốc tế.
1.1.1.4. Những đặc trưng nổi bật của TNCs
- Đa dạng hoá (Diversification). Để thoả mãn nhu cầu đa dạng của thị
trường mục tiêu nước ngoài, TNCs không có cách lựa chọn tích cực nào khác là
phải đa dạng hoá sản phẩm, và do đó mỗi nhóm sản phẩm của công ty phải theo
hướng “cá biệt hoá” (Differentiation).
- Tiêu chuẩn hoá (Standardization). TNCs xác định những nhu cầu, thị hiếu
giống nhau của thị trường nước ngoài khác nhau trên phạm vi địa lý rộng để
hướng vào những sản phẩm tiêu chuẩn hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đồng nhất của
số khách hàng đông nhất trên nhiều thị trường, nhất là thị trường toàn cầu.
- Quốc tế hoá (Internationalization). Đây là đặc trưng nổi bật của TNCs
trong quá trình nỗ lực để mở rộng hoạt động kinh doanh ra hàng loạt quốc gia
trên toàn khu vực có nhiều lợi thế nhất. Đặc trưng này còn gọi là đa quốc gia hoá
hay khu vực hoá (như toàn bộ khu vực châu á- Thái bình dương hay trên toàn bộ
châu Âu…).
Công nghệ có trong tất cả các lĩnh vực như công nghệ sản xuất – chế tạo,
công nghệ lắp ráp, công nghệ chế biến, công nghệ thu hoạch, công nghệ đào tạo,
công nghệ quản lý, công nghệ thông tin…
Thị trường công nghệ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi công
nghệ. Việc mua bán công nghệ thông qua con đường đầu tư nước ngoài là một
trong những kênh phổ biến.
1.2.1.2 Chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ được xem là một lĩnh vực hoạt động nhằm đưa
những công nghệ từ nơi có nhu cầu giao công nghệ đến nơi có nhu cầu nhận công
nghệ, từ nơi có trình độ công nghệ cao hơn đến nơi có trình độ công nghệ thấp hơn
một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia.
Các hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra thường gắn với sự xuất hiện
khoảng cách công nghệ giữa nước chuyển giao và nước nhận chuyển giao. Chuyển
giao công nghệ có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như cấp
giấy phép, chuyển giao chọn gói hoặc từng phần, chuyển giao theo kiểu “chìa khóa
trao tay”, chi nhánh nước ngoài sở hữu hoàn toàn, chi nhanh nước ngoài sở hữu tối
thiểu, liên doanh, nhượng quyền, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, hợp
đồng quản lý, hợp đồng thầu phụ quốc tế.
1.2.2 Chính sách chuyển giao công nghệ của TNCs
TNCs thực hiện chuyển giao công nghệ trên toàn thế giới hầu hết tất cả các
lĩnh vực của khoa học công nghệ và quản lý. TNCs từ các nước công nghiệp phát
triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,…thường đi đầu trong hoạt động chuyển giao
công nghệ và các nước công nghiệp phát triển cũng là những nước đi đầu trong
10
việc tiếp nhận các công nghệ chuyển giao này. Mặc dù nhu cầu về công nghệ
chuyển giao của các nước đang phát triển khá lớn song nhóm các nước đang phát
triển trên thực tế vẫn chưa phải là nhóm nước có mức hấp dẫn cao về công nghệ từ
TNCs. Hơn nữa, hầu hết các hoạt động chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện
với các đối thủ.
11
Các loại công nghệ khác như công nghệ đào tạo như đào tạo các nhà quản trị
kinh doanh cao cấp, công nghệ đào tạo công nhân, công nghệ lắp ráp xe máy, ô tô,
thiết bị công nghiệp…cũng được TNCs phát triển để kéo dài vòng đời công nghệ,
thu lợi nhuận và chiếm lĩnh thị trường.Trong số các hạng mục được chuyển giao,
các chi nhánh của TNCs ở các nước đang phát triển nhận được khoản 95% các
hạng mục công nghệ từ các công ty mẹ của chúng.
1.2.3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học với Việt Nam
1.2.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
1. Ấn Độ
Chính sách mở cửa tự do hóa nền kinh tế năm 1991 của Ấn Độ đã tạo ra
những điều khoản rộng rãi hơn về chuyển giao công nghệ ở Ấn Độ. Trước hết, nó
ảnh hưởng đến chính sách nhập khẩu công nghệ, mở cửa cho đầu tư nước ngoài và
chấp nhận cạnh tranh, xóa bỏ một loạt thủ tục cấp giấy phép và kiểm soát, điều
chính cơ cấu xuất- nhập khẩu, tranh thủ nguồn tài trợ bên ngoài để thực hiện các
dự án hiện đại hóa kỹ thuật, ưu tiên trong chuyển giao công nghệ.
Một số vấn đề liên quan tới chuyển giao công nghệ được Chính phủ Ấn Độ
quy định:
- Mở cửa ngành công nghiệp Ấn Độ cho đầu tư nước ngoài và chấp nhận
cạnh tranh.
- Tiếp tục đẩy mạnh mở cửa kinh tế thông qua xóa bỏ một loạt thủ tục cấp
giấy phép và kiểm soát, mở rộng và tự do hóa hệ thông cấp giấy phép bổ sung
nhằm thúc đẩy xuất khẩu, xóa bỏ chế độ trợ cấp xuất khẩu nhằm khuyến khích cải
tiến chất lượng, giảm giá thành để tăng cường xuất khẩu.
- Điều chỉnh lại cơ cấu xuất khẩu: Chính sách thương mại mới khuyến khích
cả việc xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng như: thuốc lá, chè, cà phê, đay, bông…
thức thâm nhập: liên doanh, mua bán, sáp nhập,…
- Cùng với việc nâng cao trình độ phát triển kinh tế, xậy dựng và hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường, các biện pháp thu hút nguồn vốn nước ngoài của Trung
Quốc dần chuyển hướng dựa vào chính sách ưu đãi thuế sang dựa vào môi trường
đầu tư và thị trường mở.
Thực hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư như miễn giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thuê đất theo các lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư.
3 Malaixia
Sau khi giành được độc lập vào năm 1957, Chính phủ Malaixia được sự
giúp đỡ của WB đã xây dựng chiến lược công nghiệp hóa nền kinh tế, nhưng thực
tế đã đặt ra nhiều vấn đề mà nền kinh tế khó giải quyết. Trong đó, nổi bật là nhu
cầu về vốn, công nghệ tiên tiến, kiến thức quản lý và quy mô thị trường. Vì thế:
13
- Chính phủ Malaixia đã tích cực, chủ động đặt mục tiêu thu hút FDI và đặc
biệt coi sự thâm nhập của các TNCs vào nền kinh tế là một công cụ quan trọng, có
tính quyết định đến sự thành công của quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước.
- Malaixia nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, duy trì sự ổn định về kinh tế xã hội, và có nhiều biện pháp chuyển hướng lớn trong quá trình thu hút đầu tư, từ
ngành sản xuất sử dụng nhiều tài nguyên và lao động sang những ngành có trình
độ khoa học, kỹ thuật cao đòi hỏi có môi trường đầu tư thuận lợi, thị trường rộng
lớn.
- Malaixia có sự thích ứng nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của thị trường và
xu hướng thâm nhập của TNCs, được thể hiện qua 5 giai đoạn thực hiện CNH:
CNH thay thế nhập khẩu (1957-1970); CNH hướng vào xuất khẩu (thập kỷ 70);
Chiến lược thay thế nhập khẩu lần II (1980-1985); đẩy mạnh hướng vào xuất khẩu
(1986-1995), đến nay là chiến lược CNH phát triển bền vững.
1.2.3.2.Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Về phía nhà nước
2.1: Điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ của các công ty xuyên
quốc gia vào Việt Nam
2.1.1. Những thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ vào Việt Nam
Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định. Sự ổn định về chính trị là
cơ sở tránh bất trắc, rủi ro trong kinh doanh, tạo độ tin cậy, đảm bảo lợi nhuận
chắc chắn cho doanh nghiệp khi đầu tư vào Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam có
đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá; là bạn, là đối tác tin
cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế.
Có rất nhiều Nghị định, Thông tư của Nhà nước nhằm khuyến khích và hỗ
trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là các hoạt động chuyển giao
công nghệ từ nước ngoài; các biện pháp hỗ trợ tài chính, thuế, cơ sở vật chất ngày
càng trở nên hữu hiệu. Các quy định trong quy trình chuyển giao công nghệ được
giảm đi rất nhiều, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện ở Việt Nam.
Việt Nam có quan hệ hợp tác và đối tác về khoa học và công nghệ với trên
70 quốc gia, tổ chức quốc tế, vùng lãnh thổ; đồng thời là thành viên tích cực của
nhiều tổ chức khu vực và quốc tế. Thông qua hợp tác quốc tế, các quy trình đàm
phán thỏa thuận; điều kiện thương mại được thuận lợi hơn, do đó có nhiều hoạt
động chuyển giao công nghệ được diễn ra hơn.
Những lợi thế so sánh: Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi, tiềm năng đất
đai, khoáng sản, khí hậu, lao động, thị trường …của một nước đang phát triển luôn
nằm trong tầm ngắm các nhà đầu tư, đặc biệt là yêu cầu của các công ty xuyên
quốc gia nhằm khai thác và mở rộng thị trường.
2.1.2. Những yếu tố cản trở chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại vào Việt
Nam
* Về khách quan
Chúng ta thừa nhận khó khăn chung của doanh nghiệp các nước đang phát
triển. Đó là tình trạng thừa nguyên liệu thô nhưng thiếu nguyên liệu chế biến đạt
chất lượng theo tiêu chuẩn. Doanh nghiệp cũng không đủ kỹ năng để thẩm định
thiết bị công nghệ khi được chuyển giao, nên máy móc nhận về gặp bệnh, hư hỏng
hoặc không sử dụng được phải "trùm mền" là chuyện không hiếm.
phẩm trong thời hạn 20 - 30 năm. Trong bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn như hiện
nay, các doanh nghiệp nội địa với tiềm lực tài chính còn nhiều hạn chế đương
nhiên gặp rất nhiều khó khăn để có thể huy động đủ vốn đáp ứng yêu cầu đó từ
chủ công nghệ.
Cuối cùng, giải mã công nghệ được tiến hành ở các nước đang phát triển có
thể định hình theo các bước sau: sao chép công nghệ; hoàn thiện công nghệ; làm
chủ công nghệ và sáng tạo công nghệ. Quá trình tích lũy công nghệ này không thể
bỏ qua con đường chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, đặc biệt là từ
TNCs. Đây là một quá trình dài hơi, đòi hỏi có tính đồng bộ cao trong quy trình từ
17
tìm kiếm – giải mã – nhập khẩu – làm chủ và đồng bộ trong sự gắn kết với các
chương trình hỗ trợ khác. Phần lớn các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam, đều đang chập chững ở bước đầu tiên của quá trình này nên việc khai thác
công nghệ kém hiệu quả là điều có thể hiểu được.
*Về chủ quan
Việt Nam đang hoàn thiện dần thể chế kinh tế thị trường; luật lệ hay bị điều
chỉnh do nảy sinh xung đột lợi ích giữa các chủ thể kinh tế, mối liên kết giữa các
thị trường hàng hoá và dịch vụ còn lỏng và chưa thống nhất. Ngoài ra, cơ cấu kinh
tế lẫn cơ chế quản lý kinh tế và bộ máy quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước còn
thiếu sự linh hoạt, không thu hút được các nhà đầu tư quốc tế.
Môi trường đầu tư, trong đó cái bị nhắc đến nhiều nhất chính là thủ tục hành
chính còn rườm rà. Nhà đầu tư kêu rất nhiều chuyện phải bỏ quá nhiều thời gian để
xin một giấy phép dự án. Khi đã có giấy phép rồi thì việc giải phóng mặt bằng còn
lâu la hơn nữa. Ngoài ra, có quá có nhiều văn bản pháp luật chồng chéo lại thiếu
tính hệ thống. Ngay cả những người làm luật đôi khi còn không nhớ những văn
bản mà mình đã đề ra, cái sau chồng lấn cái trước, Nghị định, thông tư đôi khi lại
trái với Luật. Xin được trích dẫn lời của ông Paul Jewell, Giám đốc Điều hành
EuroCham như sau “Sự bất ổn của nền kinh tế vĩ mô, tỷ lệ lạm phát cao, tham
trong những năm gầy đây. Kinh tế Việt Nam gặp không ít khó khăn bởi việc
chuyển giao công nghệ phần lớn được thực hiện gia công, lắp ráp; không có công
nghệ nguồn nên năng lực đổi mới thấp. Mặt khác các doanh nghiệp quá khó khăn
để tiến hành nghiên cứu và phát triển (R&D). Chỉ có 11% doanh nghiệp cho biết là
đã phát triển những loại hình công nghệ mới nhất định.
Trong quá trình thực hiện do thiếu thông tin nên cũng ít có sự liên kết với
các tổ chức nghiên cứu trong nước và nước ngoài dẫn tới rủi ro, thất bại trong cải
tiến công nghệ cao. Do đó chưa khai thác được lợi thế chuyển giao công nghệ từ
hội nhập quốc tế mang lại. Hạn chế về công nghệ làm chậm giải quyết hàng tồn
kho, cũng như giảm nợ xấu, hai khó khăn lớn nhất với DN trong nước hiện nay.
Chúng ta không sử dụng được lợi thế mua máy móc, thiết bị để mua và nhận
chuyển giao công nghệ. Chủ đầu tư và nhà khoa học không kết hợp được với nhau,
chủ thể mua thiết bị, nhà máy thường không quan tâm đến chuyển giao công nghệ,
họ chỉ cần mua được thiết bị với chất lượng và giá cả hợp lý trong khi các nhà
khoa học mua công nghệ lại không có điều kiện mua thiết bị như các nhà đầu tư.
Ngoài ra, trình tự để mua công nghệ, giá cả khi mua công nghệ không dễ tính định
mức nên khó hoặc phê duyệt mất nhiều thời gian, không đáp ứng về tiến độ của dự
án cũng là nguyên nhân làm hạn chế việc chuyển giao công nghệ.
Về nguồn nhân lực. có thể nói hiện nay nước ta đang thiếu một đội ngũ lao
động có trình độ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đầu tư nước ngoài cũng như
để cạnh tranh với các nước trong khu vực. Điều đó đã hạn chế việc tiếp thu kỹ
thuật và công nghệ hiện đại.
Việt Nam cũng đang thiếu một quy hoạch dài hạn về tiếp nhận đầu tư nước
ngoài, đặc biệt là thu hút đầu tư từ các TNCs lớn, cụ thể như khâu quảng bá, giới
thiệu về môi trường, tiềm năng đầu tư của Việt Nam với nước ngoài còn nhỏ lẻ.
19
Cụ thể về phía doanh nghiệp, nhìn chung doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu hiểu
nay đã du nhập được hầu hết những công nghệ cần thiết phục vụ cho sản xuất cơ
20
bản, nhiều công nghệ được đánh giá là hiện đại tiên tiến. Sản xuất phát triển,
đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.
Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng
để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện ở
hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển
khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu. Đây là những mục tiêu
quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của công ty xuyên
quốc gia sang nước chủ nhà (nhất là các nước đang phát triển) ở hình thức 100%
vốn nước ngoài và doanh nghiệp lien doanh có vốn nước ngoài dưới các hạng mục
chủ yếu như những tiến bộ công nghệ sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, kỹ thuật
kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý…
Từ năm 1998 đến năm 2003 có hơn 4800 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
được cấp phép đầu tư, với tổng số vốn hơn 52 tỷ USD, trong đó có nhiều dự án
vẫn hiệu lực tính tới thời điểm hiện tại. Trong đó có hơn 70% dự án có nội dung
chuyển giao công nghệ hoặc sản xuất sản phẩm mới.
Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài trong các năm qua, nhiều công
nghệ mới đã được thực hiện chuyển giao công nghệ và nhiều sản phẩm mới đã
được sản xuất trong các xí nghiệp có nguồn vốn đầu tư nước ngoài; nhiều cán bộ
công nhân đã được đào tạo mới và đào tạo lại để cập nhật kiến thức phù hợp với
yêu cầu mới. Đồng thời hoạt động đầu tư nước ngoài cũng có tác động phát triển
công nghệ trong nước trong bối cảnh có sự cạnh tranh của cơ chế thị trường.
2.2.2.2. Chuyển giao công nghệ qua nhập khẩu máy móc thiết bị
Trong những năm 1990-1995, hoạt động nhập khẩu thiết bị máy móc chủ
yếu dựa trên những mối quan hệ quen biết các nhân nên những dự án nhập khẩu
thiết bị máy móc là không nhiều. Nhờ có những điều chỉnh trong cơ chế và chính
tổ chức kinh doanh và tiếp cận thị trường. Hơn nữa, khi Việt Nam ban hành luật
đầu tư nước ngoài sửa đổi (năm 1996), chính sách đối xử bình đẳng giữa doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã khiến cho các doanh
nghiệp nước ngoài không còn cố bám vào các doanh nghiệp trong nước để tìm
kiếm các chính sách ưu đãi. Ngoài ra cũng vì 3 lý do: (1) phía Việt Nam góp vốn
chủ yếu bằng quyền sử dụng đất, chỉ chiếm 10% vốn đầu tư. Do đó, vai trò của các
doanh nghiệp Việt Ban trong các liên doanh đã nhỏ, lại có xu hướng càng bị giảm
thiểu hơn. (2) Năng lực của đội ngũ cán bộ của Việt Nam tham gia vào quản lý,
điều hành kinh doanh còn quá yếu. (3) việc liên doanh giữa TNCs với đối tác Việt
Nam lại chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước thường xuyên có sự bất đồng về
phương thức và mục tieu kinh doanh đã dẫn đến những xung đột thương xuyên
trong tổ chức và điều hành đã khiến hình thức 100% vốn nước ngoài lấn án hình
thức lien doanh. Năm 1996: tỷ trọng vốn đầu tư của các dự án 100% vốn nước
ngoài là 18,6%; năm 1997 tăng lên 26,9%; năm 1998 còn 18% và đặc biệt năm
1999 chiếm tới 48%.
22
2.2.4. Các công nghệ được chuyển giao qua FDI vào Việt Nam.
Các công ty xuyên quôc gia phát triển đa dạng các hạng mục công nghệ và
cơ cấu sản phẩm công nghệ cũng rất đa dạng:
Công nghệ thiết kế và xây dựng (gắn với việc thiết kế các sản phẩm kiến
trúc và xây dựng) cũng được chú trọng như công nghệ xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng sân bay, bến cảng, đường giao thông hoặc công nghệ xây dựng các cơ
sở công nghiệp dân dụng, trung tâm thương mại… Các công ty xuyên quốc gia là
những tác nhân đi đầu trong lĩnhvực công nghiệp này. Một số công trình nổi bật ở
Việt Nam như nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn tại Thanh Hóa của nhà đầu tư Nhật
Bản, Nhà máy nhiệt điện đốt than BOT Vĩnh Tân 1 của nhà đầu tư Trung Quốc…
Công nghệ kiểm tra chất lượng (gắn với hoạt động kiểm tra chất lượng sản
2.3.1.1. Tác động tích cực
- Cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Sự hiện diện của các công ty xuyên quốc gia đồng nghĩa với việc
cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước.
Hơn thế, sự đầu tư của các công ty nước ngoài không chỉ giải quyết cho Việt Nam
những vấn đề về vốn mà cả công nghệ, trang thiết bị, kinh nghiệm, kỹ năng quản
lý…lâu nay còn yếu kém
- Góp phần duy trì nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định.
- Góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong giai đoạn 1996 đến nay, tầm quan trọng của nông
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân đã giảm đáng kể trong khi đó vị trí của công
nghiệp và dịch vụ đã được tăng lên tương ứng. Với chủ trương ưu tiên chuyển giao
công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, phần nào đã nâng tỉ trọng đóng
góp của ngành công nghiệp lên, theo đúng chiến lược phát triển của đất nước.
- Mở rộng xuất khẩu, tăng thu ngân sách
- Nâng cao trình độ công nghệ: Theo sự đánh giá chung của các chuyên gia
thì các công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam chủ yếu đạt trình độ trung bình
của thế giới. Tuy vậy nhưng độ ổn định của quy trình sản xuất, mức độ chính xác
của sản phẩm và những thông số kĩ thuật luôn được cải tiến hợp lý.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm: các sản phẩm được sản xuất ra có chất
lượng tốt và đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Những mặt hàng xa xỉ,
những mặt hàng dân dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân … nhờ
những dây chuyền sản xuất tại chỗ với chất lượng và mẫu mã tốt, giá thành hợp lý
có sức cạnh tranh tốt đã được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận.
- Trình độ quản lý, điều hành kinh doanh của đội ngũ cán bộ được nâng lên
rõ rệt. Những kinh nghiệm quản lý được tích lũy trong quá trình làm việc, hội thảo
trong và ngoài nước, thông qua các chương trình đào tạo, hợp tác quốc tế.
24
đẩy tiến bộ xã hội.
2.3.3. Một số vấn đề gặp phải và nguyên nhân
25