Đầu tư của hàn quốc vào việt nam gắn với hiệp định thương mại tự do việt nam – hàn quốc - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI TẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN VÀ MALAYSIA. TỪ ĐÓ NÊU LÊN
XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2020

Sinh viên thực hiện:
1.Nguyễn Thị Thùy Dung

11120662

2. Hoàng Đức Dũng

11120673

Lớp: Kinh tế quốc tế 2(214)4
Hệ: Chính quy

Hà Nội, tháng 1 năm 2015


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của tất cả các nền kinh tế
trên thế giới, quá trình vận chuyển các luồng vốn quốc tế nhằm phát triển kinh
tế của một quốc gia cũng là tất yếu. Việt Nam là một nền kinh tế đang phát
triển với một xuất phát điểm thấp, hội nhập kinh tế quốc tế mang lại rất nhiều

Hàn Quốc.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng phương pháp cụ thể như thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,kết hợp lôgíc với lịch sử… Ngoài ra luận văn
còn kế thừa có chọn lọc một số kết quả của các công trình nghiên cứu trước
đây để giải quyết nhiệm vụ đặt ra.
4. Mục tích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư của Hàn
Quốc vào Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thu hút đầu tư
của Hàn Quốc vào Việt Nam trong thời gian tới.
4.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về đầu tư của Hàn Quốc
- Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam
trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư của
Hàn Quốc vào Việt Nam trong thời gian tới
5. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài luận
gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung
Chương 2: Thực trạng đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp
-

NỘI DUNG

Chương 1:Lý luận chung

thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác
để đầu tư vào nước tiếp nhận và nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý
đối tượng bỏ vốn đầu tư.

1.2 Khái quát mối quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc
1.2.1 Những mốc lớn trong quan hệ hai nước


- Từ 1975-1982, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và và Hàn Quốc bắt
đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian.
- Từ 1983 Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp.
- Ngày 20/4/1992, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận trao đổi Văn phòng
liên lạc giữa hai nước.
- Ngày 22/12/1992, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký Tuyên bố chung thiết
lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ.
1.2.2. Tình hình quan hệ hiện nay
1.2.2.1 Về chính trị
Theo Tuyên bố chung về quan hệ đối tác toàn diện, hai bên nhất trí :
- Mở rộng trao đổi giữa các quan chức chính phủ và các nhà lãnh đạo
chính trị giữa hai nước; gia tăng quy mô thương mại và đầu tư, tăng cường
hợp tác trên các lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, tài nguyên, công nghệ
thông tin, năng lượng.
- Tăng cường giao lưu giữa nhân dân hai nước, giao lưu trên các lĩnh vực
văn hóa, nghệ thuật, báo chí, học thuật, thể thao và du lịch, giao lưu thanh
niên giữa hai nước.
- Tăng cường hợp tác song phương trong khuôn khổ ASEAN+3, APEC,
ASEM và Liên hợp Quốc, WTO.
1.2.2.2 Về kinh tế
* Hai nước đã ký nhiều hiệp định quan trọng như:


gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao
chính thức năm 1992.
Hiện nay, Việt Nam đang thúc đẩy Hàn Quốc tìm các giải pháp khắc phục
tình trạng nhập siêu của Việt Nam (năm 2006 khoảng 3 tỷ USD).
* Về hợp tác lao động
Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưa lao
động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) của Hàn
Quốc. Thoả thuận này sẽ nâng cao địa vị pháp lý và quyền lợi cho người lao
động Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam có gần 4 vạn lao động đang làm việc tại Hàn Quốc.
Người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc cơ bản được đánh giá cao về sự cần cù
và khéo léo. Bên cạnh đó, tình trạng lao động bỏ trốn khỏi hợp đồng và cư trú
bất hợp pháp tại Hàn Quốc vẫn tiếp tục diễn ra nghiêm trọng.
* Hợp tác du lịch
Trong vài năm gần đây, Hàn Quốc đã trở thành 1 thị trường cung cấp
khách du lịch trọng điểm của Việt Nam. Lượng khách Hàn Quốc vào Việt Nam
tăng trung bình 30%/năm, với với 13 vạn lượt năm 2003, hơn 20 vạn năm
2004. Năm 2006, khoảng 42 vạn lượt người Hàn Quốc đã đi Việt Nam, chiếm
khoảng 11,7% tổng số khách nước ngoài đến Việt Nam và khoảng 3,62% tổng
số người Hàn Quốc ra nước ngoài.


Từ ngày 01/7/2004, Việt Nam đã đơn phương miễn visa cho công dân
Hàn Quốc nhập cảnh Việt Nam trong vòng 15 ngày với mục đích du lịch.
1.2.2.3 Hợp tác văn hoá - giáo dục
- Hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994 cùng nhiều thoả thuận
hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các hoạt động
giao lưu văn hoá, nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh và công diễn.
- Hiện đang có khoảng trên 1.000 sinh viên Việt Nam đang theo học các
chương trình ngôn ngữ, cử nhân, cao học tại Hàn Quốc theo nhiều con đường

1.4.1 Nội dung hiệp định
Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), cũng được khởi động từ
tháng 8-2012 tại Hà Nội. Sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa
kỳ, hai bên đã cơ bản thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện,
mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích.
Nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối
thoại ASEAN - Hàn Quốc, ngày 10-12-2014 tại Bu-san (Hàn Quốc), hai nước
đã ký Biên bản thoả thuận về kết thúc đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam Hàn Quốc.
Hiệp định này được ký kết bao gồm 17 lĩnh vực chính :
+ Phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ
hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản
chủ lực, công nghiệp dệt, may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực
dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực.
+ Phía Việt Nam cũng dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công
nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và xe con,
phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp điện, góp phần đa dạng hóa thị
trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước.
1.4.2 Cơ hội phát triển của Việt Nam khi ký hiệp định

Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 11/2014, trao đổi thương mại song
phương đã đạt 26,54 tỷ USD. Về đầu tư, lũy kế đến hết tháng 10/2014, Hàn


Quốc đã có 4.020 dự án đầu tư mới vào Việt Nam, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt
khoảng 33,4 tỷ USD và xếp thứ 2/101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu
tư tại Việt Nam.“Cơ hội vàng” cho hàng Việt tiếp cận thị trường Hàn Quốc
- Với việc ký kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt NamHàn Quốc (VKFTA), lần đầu tiên Hàn Quốc mở cửa thị trường với những sản
phẩm xuất khẩu của Việt Nam như tỏi, gừng, mật ong, tôm... Đây sẽ là cơ hội
cho hàng Việt Nam tiếp cận thị trường Hàn Quốc, giúp tăng kim ngạch xuất
khẩu.

mặc, giầy dép, ba lô, túi sách… và công nghiệp chế biến lâm, hải sản, bởi các
lĩnh vực này cần vốn đầu tư ít nhưng lại tận dụng được nhiều nhân công rẻ.
2.1.1.2 Giai đoạn từ 2002- đầu 2012
Từ khi hai nước chính thức nâng tầm “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế
kỷ XXI”. Vốn FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam tăng mạnh, chiếm tới 10,8%
tổng số FDI vào Việt Nam.


Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc sẽ mở rộng phạm vi, trước hết là các vùng ven
biển (nơi có tiềm năng dầu khí và khai thác hải sản) , các vùng có thể mạnh về
sản xuất nông nghiệp…
Bảng 1: Phân bố đầu tư vào Hàn Quốc vào Việt Nam theo vũng lãnh thổ năm
2010
(đv:TriệuUSD)
Vùng
Tổng số vốn
1- Đông Nam Bộ
2229
2- Đồng bằng sông Hồng
1502
3- Đông Bắc
279.56
4- Duyên hải miền Trung
228.649
5- Đồng bằng sông Cửu Long
59.658
6- Tây Nguyên
9.043
3
7- Tây Bắc

của Hàn Quốc ở nước ngoài (sau Trung Quốc và Mỹ). Khoảng 2.500 công ty
Hàn Quốc đang đầu tư kinh doanh tại thị trường Việt Nam.
- Năm 2013: Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp
mới và tăng thêm là 4,46 tỷ USD, chiếm 20% tổng vốn đầu tư đăng ký.Doanh
nghiệp FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, sử
dụng trên 50 vạn lao động và đống góp trên 25% tổng giá trị xuất khẩu Việt
Nam năm 2013.
- Năm 2014:
Năm 2014 vừa qua không chỉ đánh dấu mối quan hệ song phương giữa
hai quốc gia được nâng lên một tầm cao mới với hàng loạt chuyến thăm cấp
cao của lãnh đạo hai nước, mà còn là dấu mốc lần đầu tiên Hàn Quốc vươn lên
trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam.
+ Về vốn đầu tư:
Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm
3,13 tỷ USD, chiếm 32,8% tổng vốn đầu tư vào Việt
+ Về dự án đầu tư:
Tính đến tháng 12/2014, Hàn Quốc có 4.110 dự án đầu tư trực tiếp còn
hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 37,23 tỷ.
+ Về lĩnh vực đầu tư:


Các nhà đầu tư Hàn Quốc đã đầu tư vào 18/18 ngành trong hệ thống phân
ngành kinh tế quốc dân. Vốn FDI của Hàn Quốc tập trung nhiều nhất vào
lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng vốn đầu tư gần 23,8 tỷ USD
(chiếm 61% về số dự án và 64% tổng vốn đầu tư đăng ký), ngoài ra là kinh
doanh bất động sản, xây vận tải kho bãi, dệt may - da giày và nghệ thuật
giải trí.
• Theo Cục đầu tư nước ngoài, hiện nay, khoảng 95% các dự án đầu tư của
Hàn Quốc được thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ (quy mô dưới
500 người, doanh thu dưới 150 triệu USD) chủ yếu tập trung vào lĩnh vực

Kim ngạch hai chiều đã tăng:


o Tăng từ 0,5 tỷ USD năm 1992 lên 18,7 tỷ USD năm 2011, tăng 36

lần trong 19 năm qua
o Năm 2012 đã vượt 21 tỷ USD - tức là về đích 20 tỷ USD trước 3
năm so với mục tiêu hai Chính phủ đề ra là năm 2015
o Năm 2013 đạt 27,3 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Hàn Quốc
là đứng thứ 4 trong 10 đối tác hương mại quan trọng nhất của Việt
Nam( sau Trung Quốc, Mỹ, Nhật.
Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 70 tỷ
USD vào năm 2020, dự kiến sẽ chiếm 30% tổng kim ngạch thương mại
Asean – Hàn Quốc (200 tỷ USD).
2.1.3 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Cùng với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ODA của Hàn Quốc
đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo,
phát triển y tế, cải thiện môi trường, phát triển công nghệ số, năng lượng và hội
nhập khu vực của Việt Nam.
Hệ thống hỗ trợ vốn ODA của Hàn Quốc bao gồm cả hỗ trợ song phương,
cho vay song phương và hỗ trợ đa phương. Hỗ trợ song phương được chia
thành tài trợ và các khoản vay ưu đãi.
Theo thống kê, Việt Nam nằm trong nhóm 7 nước nhận được nhiều vốn
vay từ EDCF( Economics development cooperation fund) nhất

Bảng 2: EDCF tới các nước ASEAN tính đến năm 2006
(Đơn vị: triệu USD)
Thứ tự
xếp
hạng

6,4
7
Philippines
8
130,78
4,6
12
Myanmar
6
84,70
2,9
28
Lào
1
22,70
0,9
Ghi chú: Thứ tự và thị phần tính trên tổng EDCF của Hàn Quốc
Nguồn: Số liệu từ Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc
"Năm 2009, Indonesia, Việt Nam, Philippines, Campuchia, Lào lần lượt
nhận được 13,25 triệu USD, 18,26 triệu USD, 9,8 triệu USD, 8,6 triệu USD và
7,07 triệu USD" 1. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam đứng đầu về
nhận viện trợ ODA của Hàn Quốc thông qua Quỹ hợp tác phát triển kinh tế với
17 dự án, tổng vốn đầu tư 450,8 triệu USD
Hỗ trợ ODA của Hàn Quốc cho Việt Nam từ 4,880 ngàn USD lên đến
7,873 ngàn USD (Nguồn: Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc)

Bảng 3: Các khoản trợ cấp không hoàn lại của KOICA(Korea cooperation
international agency) cho các nước ASEAN giai đoạn 1999-2009 (Đơn vị: triệu
won)
Quốc gia

20
9,531
125

2006
0
16,865
39

2007
4
10,893
24

Bộ kinh tế và Tài chính Hàn Quốc (2010), tác giả biên tập trên cơ sở các số liệu của từng
quốc gia.
1

2008
5
10,518
56


Philippines
Singapore
Thái Lan
Campuchia
Lào
Myanmar

2,418
1,741
4,189

7,286
0
2,278
3,824
3,868
2,341
11,205

5,182
0
3,227
5,955
2,170
3,490
9,515

6,348
0
1,289
6,047
4,054
2,670
7,523

5,358
6

USD), các dự án bám sát vào 3 lĩnh vực trụ cột ưu tiên trong chiến lược
phát triển giai đoạn 2011-2020.


2.1.4 Đầu tư về Khoa học công nghệ
Bên cạnh các lĩnh vực đầu tư về vốn khác thì đầu tư về Khoa học công
nghệ cũng được Hàn Quốc rất quân tâm và đẩy mạnh.
Hàn Quốc đang hỗ trợ Việt Nam phát triển năng lượng mặt trời, xây
dựng công viên công nghệ xanh, Viện Khoa học Công nghệ V-KIST, thực hiện
chương trình Chia sẻ tri thức (KSP) về nhiều lĩnh vực phát triển


Trong năm 2015 dự án Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam- Hàn Quốc
được khởi công xây dựng tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc bằng nguồn vốn
ODA, tổng ngân sách hỗ trợ là 70 triệu USD,trong đó có 35 triệu USD viện


trợ không hoàn lại cộng với 35 triệu USD vốn đối ứng của Việt Nam.
• Tại “Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc về công nghệ xanh
2012” do Tổng cục Môi trường tổ chức ngày 7/5, Bộ trưởng Bộ Môi trường
Hàn Quốc Yu Yeong Suk cho biết Hàn Quốc cam kết sẽ hỗ trợ Việt Nam
tiến hành xây dựng chiến lược phát triển xanh trên nền tảng của Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội.
o Ông Hwang Byung Hyun, đại diện Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn
Quốc tại Việt Nam cho biết, đến nay, Quỹ hợp tác phát triển kinh tế
(EDCF) của Hàn Quốc đã phê duyệt 277 dự án, triển khai tại 49
quốc gia đang phát triển với tổng số vốn hơn 8.000 tỷ Won. Việt
Nam đang là nước được hỗ trợ nhiều nhất với khoảng 40 dự án và
tổng số vốn được duyệt hơn 1.600 tỷ Won.
Hiện các dự án của Việt Nam đang hưởng mức lãi suất ưu đãi giảm

không gian phát triển mới cho kinh tế đất nước.
Theo đó, GDP của Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, thời kỳ
1992-1997 bình quân là 8,75%/năm, thời kỳ 2002-2007 bình quân là
7,55%/năm, thời kỳ 2008-2013 dù chịu ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng
kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng GDP bình quan của Việt Nam vẫn đạt
5,85%/năm.


Tạo cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa tăng nhanh, không những giúp thị
trường tránh phụ thuộc vào các thị trường truyền thống mà còn đa dạng hóa
thị trường xuất khẩu, đặc biệt là lợi thế thương mại từ các thị trường mới.



Cán cân thương mại tăng nhanh, mặc dù giai đoạn sau năm 2003 có dấu
hiệu thâm hụt thương mại tăng cao. Tuy nhiên, đến năm 2013, cán cân
thương mại đã có dịch chuyển đáng ghi nhận từ nhập siêu sang xuất siêu
hoặc cân bằng.. Điều này cho thấy cơ cấu hàng xuất khẩu đã phát triển về
chất



Việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng làm nguyên vật liệu đầu
vào cho sản xuất khiến chi phí sản xuất của DN trong nước giảm. Các DN
cũng có thể lựa chọn các mặt hàng nhập khẩu có xuất xứ khác nhau, năng
lực cạnh tranh được nâng cao. Cùng lúc đó, người tiêu dùng được sử dụng
hàng hóa nhập khẩu và nội địa với chất lượng tốt hơn, giá cả phải chăng.




về ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên…
• Ngoài ra còn những thách thức nội tại như thị trường đất đai, lao động, vốn,
công nghệ chưa phát triển đồng bộ.
• Đặc biệt, trong nông nghiệp, chúng ta còn thiếu gắn kết giữa các ngành, địa
phương, quá trình triển khai chưa có sự chuẩn bị đúng mức về nội lực cho
cả DN và nông dân. Do vậy, nhiều DN sản xuất hàng nông sản đã gặp phải
tình trạng giảm sút lợi nhuận, nợ tăng cao, dẫn đến phá sản hoặc chuyển
hướng sang nhập khẩu.
• Bộ Tài chính cũng vạch ra thực tế là công nghiệp phụ trợ của Việt Nam
chưa phát triển, nhập khẩu bị phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc.
Đến nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử,
dệt may, da giày, lắp ráp ô tô xe máy… vẫn chưa có công nghiệp phụ trợ
thực sự phát triển.
• Cho đến thời điểm các cam kết thuế trong FTA cắt giảm sâu thì cạnh tranh
càng khiến cho ngành công nghiệp phụ trợ trong nước gặp khó khăn. Trên
thực tế, tỷ lệ cung ứng nguyên liệu trong nước của một số ngành công
nghiệp như ô tô chỉ khoảng 20 - 30% và dệt may là gần 50%.
 Như vậy phần lớn vẫn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ
bên ngoài, dẫn đến giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh chưa cao.
3.1.2.2
Thách thức với cơ quan quản lý tăng lên


Thách thức với cơ quan quản lý nhà nước tăng lên vì phải hoàn thiện và bổ
sung cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp nội địa trong
khi năng lực cạnh tranh vẫn yếu kém.
• Bên cạnh đó, thách thức từ việc giảm thuế nhập khẩu dẫn đến giảm thu
ngân sách. Tỷ trọng thu thuế nhập khẩu trong tổng thu thuế giảm dần từ
mức trung bình 33% giai đoạn 2007-2009 xuống 23% giai đoạn 2010-2012,
một phần do giảm thuế ưu đãi MFN, một phần do giảm thuế trong các FTA.



● Hàn Quốc đang chú trọng thực hiện mô hình phát triển xanh ở Hàn
Quốc cũng như đi đầu thúc đẩy áp dụng mô hình này tại các nước khác, trong
đó có Việt Nam mà Hàn Quốc coi là đối tác chiến lược về tăng trưởng xanh.
Trong chính sách ODA cho các nước, Hàn Quốc cũng ưu tiên cung cấp 70%


ODA cho lĩnh vực xây dựng hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và tăng trưởng
xanh (riêng ODA cho lĩnh vực tăng trưởng xanh chiếm tới 20%). Do đó, về
ODA, bên cạnh việc tăng cường thu hút đầu tư của Hàn Quốc vào lĩnh vực xây
dựng hạ tầng, ta cần chú trọng thu hút đầu tư của Hàn Quốc vào các ngành
công nghiệp và công nghệ xanh.
● Về phương thức đầu tư, ta cần chú trọng mô hình đối tác công - tư
(PPP) theo Quyết định số 71/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Hàn Quốc (cũng
như Nhật) là nước đã thành công và có rất nhiều kinh nghiệm về PPP. Qua trao
đổi, Hàn Quốc rất ủng hộ và sẵn sàng tham gia đầu tư theo phương thức PPP.
● Cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư của ta để thu hút thêm nhiều
đầu tư của Hàn Quốc và Nhật (đã được Thủ tướng khẳng định là hai nguồn đầu
tư hàng đầu và ổn định nhất trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn,
suy thoái). Ta cần tiếp tục cải thiện về thủ tục hành chính, các biện pháp
khuyến khích đầu tư, môi trường kinh tế vĩ mô… để các nhà đầu tư Hàn Quốc
được thuận lợi và yên tâm đầu tư vào Việt Nam (Tổng thống mới của Hàn
Quốc Park Geun Hye cũng đã đề cập vấn đề này khi tiếp Phó Chủ tịch nước
Nguyễn Thị Doan ngày 26/2/2013). Đồng thời, cũng cần lường trước sự cạnh
tranh ngày càng tăng của Myanmar trong thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó
có Hàn Quốc (thời gian qua, ngày càng nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc sang
Myanmar và họ đánh giá Myanmar có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư nước
ngoài).
1 Trong 30 năm đó, 10 năm đầu Hàn Quốc tiếp thụ và hoàn toàn phụ thuộc vào

kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.
- Các khu công nghiệp cần phải có quy hoạch rõ ràng, phát huy và khai
thác lợi thế từng vùng, chọn ra lợi thế cạnh tranh.
* Cải thiện, nâng cấp cơ sở hạ tầng :
Cần tranh thủ tối đa các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng, ưu tiên
các lĩnh vực cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, hệ thống đường bộ cao tốc,
nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, tích cực khuyến khích đầu tư các dự án
về sử dụng nặng lượng thiên nhiên: sưc gió, thủy triều, năng lượng mặt trời,
các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
Đổi mới nội dung và phương pháp xúc tiến đầu tư:
o Thực hiện tốt các chương trình xúc tiến quốc gia theo các giai đoạn,
nghiên cứu hoàn thiện việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án làm
cơ sở kêu gọi thu hút nhà đầu tư
o Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư như hội chợ thương mại, giao
lưu xúc tiến đầu tư, thiết lập mối quan hệ.
o Cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của
môi trường đầu tư Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi được
thực hiện liên tục không chỉ hiện nay mà cả các giai đoạn phát triển
sau này của đất nước.


o Cần có chiến lược, có định hướng, có quy hoạch, có một bộ máy đủ

mạnh để xác định các bước đi dài hạn nhằm đạt tới mục tiêu đặt ra,
tuy vậy chúng ta đều rõ các vấn đề về chiến lược, quy hoạch, tổ
chức lại bộ máy, nhất là vấn đề nhân sự cho bộ máy… là những vấn
đề tổng hợp, phức tạp không thể hoàn thành trong ngắn hạn một
năm. Khi thực hiện các bước đi dài hạn đó cần tổ chức thực hiện
ngay các tác nghiệp nhỏ trong các bước đi ngắn hạn hàng năm.
3.2.2.2 Đối với doanh nghiệp


Chủ động tiếp cận và tìm kiếm thông tin từ các tổ chức xúc tiến thương
mại của Hàn Quốc, tạo mối quan hệ: Cơ quan xúc tiến đầu tư và thương mại
Hàn Quốc(KOTRA), hiệp hội ngoại thương Hàn Quốc(KITA), Trung tâm
ASEAN của Hàn Quốc


KẾT LUẬN
Là nền kinh tế lớn thứ 13 trên thế giới, Hàn Quốc nổi lên là một quốc
gia thành công nhất theo nhiều góc độ. không chỉ trong quá khứ với 30 năm
phát triển thần kỳ từ thập niên 60 đến thập niên 80, 90 của thế kỷ 20, và đạt
được thành tựu như ngày hôm nay phải kể đến sự đúng đắn trong chính sách
phát triển kinh tế nói chung cũng như chính sách kinh tế đôií ngoại về đầu tư
và thương mại Hàn Quốc nói riêng.
Về mặt hợp tác kinh tế, Hàn Quốc đã có mối quan hệ lâu dài với Việt
Nam trong quá khứ và bây giờ nó đã phát triển lên tầng cao mới nhờ làn sóng
đầu tư của các doanh nghiệp cũng như của chính phủ Hàn Quốc. Số vốn đầu tư
lien tục tăng lên cùng với sự mở rộng lĩnh vực và địa bàn đầu tư.
Như vậy, gắn với mối quan hệ của 2 quốc gia Việt Nam- Hàn Quốc từ
những ngày đầu mới thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992, cho đến nay hơn
20 năm , mối quan hệ ấy ngày càng bền chặt hơn, hòa hảo hơn.
Mối quan hệ đầu tư thương mại của Hàn Quốc và Việt Nam được hợp
thức hóa qua hiệp định thương mại tự do Việt- Hàn. Hy vọng trong thời gian
tới, sau khi hiệp định được ký kết, Việt Nam ngày càng cải thiện và mở cửa
hơn nữa hợp tác về mọi mặt nói chung và kinh tế nói riêng giữa Việt Nam và
HÀn Quốc sẽ đạt được những bước tiến to lớn hơn nữa.
Bài tiểu luận đã nghiên cứu khái quát tình hình đầu tư của Hàn Quốc vào
Việt Nam gắn với hiệp định thương mại tự do Việt- Hàn cùng với đó cũng tìm
hiểu và đề xuất một số định hướng và giải pháp của nhà nước và doanh nghiệp
đối với duy trì và thi hút đầu tư của Hàn Quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status