Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc? pot - Pdf 11


Khuyến nghị chính sách
Hiệpđịnhthươngmạitựdo
ViệtNam–HànQuốc?2 Đề xuất đàm phán, ký kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Hàn
Quốc được Hàn Quốc đưa ra từ năm 2009. Sau đó, hai bên đã nhất trí nghiên
cứu khả năng thúc đẩy và tính khả thi của Hiệp định này nhằm mở rộng kinh tế
thương mại đầu tư giữa hai nước. Cho đến nay, Nhóm Công tác Chung về FTA
Việt Nam – Hàn Quốc đã hoàn thành Báo cáo đánh giá tác động của một Hiệp
định thành l
ập Khu vực mậu dịch tự do song phương giữa Việt Nam và Hàn
Quốc đối với hai nền kinh tế. Nghiên cứu
1
dưới đây thể hiện quan điểm của
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhân danh cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam về chủ trương đàm phá, ký kết hiệp định này.


ư là không khả thi;
- Thực tế Việt Nam đã ký kết tổng cộng 7 FTA với 16 đối tác (trong đó chỉ có
duy nhất một FTA song phương với Nhật Bản, số còn lại trong khuôn khổ
ASEAN) nhưng việc tận dụng tối đa hiệu quả kinh tế tổng thể từ việc thực
thi các FTA này vẫn còn là vấn đề khó khăn.
Vì vậy, Chính phủ (thông qua Bộ Công thương) cần có bước đi th
ận trọng, tiến
hành các nghiên cứu đánh giá tác động của FTA Việt Nam – Hàn Quốc trước
khi quyết định có bắt đầu đàm phán FTA với Hàn Quốc hay không. 4
2. Về các ý kiến cụ thể
2.1. Dự thảo thiếu các phân tích về lý do tại sao Việt Nam ưu tiên đàm phán
FTA với Hàn Quốc mà không phải là với các đối tác khác
Toàn bộ Dự thảo hiện tại tập trung vào việc phân tích quan hệ Việt Nam – Hàn
Quốc (hiện tại và trong tương lai với FTA) để từ đó làm rõ những lợi ích (đặc
biệt là về thương mại của FTA này). Đây là việc rất cần thiết và phù hợp.
Mặc dù vậy, như đ
ã đề cập, Việt Nam hiện đứng trước nhiều khả năng đàm
phán, ký kết FTA khác nhau, trong đó có những FTA với những đối tác lớn
tương tự hoặc hơn Hàn Quốc, với những lợi ích dự báo là không hề nhỏ.
Vì vậy, để đủ sức thuyết phục, Dự thảo cần bổ sung phần nội dung quan trọng
phân tích tại sao chúng ta nên ưu tiên chọn đàm phán ký kết FTA với Hàn Quố
c
mà không phải là với những đối tác khác với những lợi ích được cho là lớn hơn,
đặc biệt trong hoàn cảnh:

tốt rồi, nguồn lực nên tập trung vào các FTA cấp bách hơn.
- Việt Nam đã và đang nhập siêu từ Hàn Quốc (thậm chí tốc độ nhập siêu còn
gia tăng mạnh hơn sau AKFTA), FTA với Hàn Quốc được dự báo sẽ khiến
cho hiện tượng này tiếp tục gia tăng. Lợi ích thu được từ việc có thể mua
nguyên vật liệu từ Hàn Quốc với giá rẻ liệu có đủ bù đắp cho bất lợi này?
Điều này cần được cân nhắc kỹ lưỡng bởi nếu có FTA với các thị trường lớn mà
Việt Nam đang xuất siêu và có mức bảo hộ qua thuế quan thực tế còn lớn, lợi
ích Việt Nam với tư cách là nền kinh tế “định hướng xuất khẩu” thu được sẽ cao
hơn, lâu dài hơn.

2.2. Về đánh giá chính sách FTA của Hàn Quốc (Mục 2 trang 3)
Những trình bày trong Dự thảo về chiến lược và tình hình ký kết các FTA của
Hàn Quốc đã bước đầu cho thấy Hàn Quốc dường như chủ trương đàm phán,
ký kết càng nhiều FTA càng tốt, với cả các đối tác phát triển và đang phát triển,
ở hầu hết các khu vực trên thế giới.
Tuy nhiên, những thông tin này trong Dự thảo mới chỉ là nêu hiện trạng mà
chưa có phân tích cụ
thể về các vấn đề quan trọng như:
- Nội dung cơ bản và quan điểm tiếp cận thị trường đối tác của Hàn Quốc
thông qua các FTA đã ký kết của nước này
Đây là những yếu tố có thể cho phép chúng ta hình dung tốt hơn về mô hình
FTA với Việt Nam mà phía Hàn Quốc mong muốn, từ đó có thể định hình kịch
bản đàm phán gần hơn với thực tế và nh
ững đánh giá tác động tiềm tàng của
FTA này vì thế cũng sẽ tiệm cận hơn với tác động thực trong tương lai;
6
- Hiệu quả thực tế của các FTA mà Hàn Quốc đã ký kết và thực hiện đối với

28/8/2011. Trên thực tế, ngoài danh sách này, báo chí trong nước còn nhiều lần đề cập đến tuyên bố đối
tác chiến lược giữa Việt Nam và EU, Pháp của các lãnh đạo cấp cao nước ta trong những dịp sang thăm
các đối tác này. 7
cố trạng thái cân bằng trong quan hệ với các đối tác chủ chốt” (Đoạn 3 trang 7)
có lẽ chưa thật rõ ràng, và vì vậy không hẳn đã thuyết phục (hiện nay chúng ta
có nguy cơ gì trong việc cân bằng quan hệ với các đối tác chủ chốt? tại sao việc
đưa lợi ích của Hàn Quốc tại Việt Nam lên mức độ cao hơn lại giúp củng cố
trạng thái cân bằng đó?).
(ii) Về lợi ích kinh tế
, thương mại, đầu tư (Điểm 4.2 trang 7)
- Về lợi ích chung với môi trường kinh doanh
(hoàn thiện môi trường kinh
doanh, phân bổ sử dụng nguồn lực xã hội hiệu quá, thúc đẩy tái cấu trúc…):
Lập luận tại Dự thảo có lẽ chưa thật thuyết phục nếu nhìn từ góc độ quy mô và
tầm ảnh hưởng của đối tác FTA này. Trên thực tế, ngay cả FTA với Nhật Bản,
một đối tác lớn hơn so với Hàn Quốc, dường như cũng chưa mang lại lợi ích
đáng k
ể cho Việt Nam trong vấn đề này, vậy chúng ta liệu có thể đặt kỳ vọng
này vào FTA Việt Nam – Hàn Quốc không?
- Về lợi ích đối với hoạt động xuất khẩu
:
Về nguyên tắc, FTA sẽ mang lại những lợi ích to lớn về xuất khẩu thông qua
cam kết cắt bỏ hầu hết các dòng thuế của đối tác. Vì vậy, việc Việt Nam kỳ
vọng về lợi ích xuất khẩu ở Hàn Quốc thông qua FTA này là hoàn toàn hợp lý.
+ Mặc dù vậy, để thuyết phục rằng FTA Việt Nam – Hàn Quốc sẽ mang lại
lợi ích lớn cho xuất khẩu Việt Nam (so với FTA với các thị
trường khác)

t lớn, không thể bỏ qua, và đối thủ cạnh tranh
quá nặng ký)?
+ Phân tích cho rằng “hiện nay Hàn Quốc đã có thỏa thuận FTA với hầu hết
các nền kinh tế lớn trên thế giới như Hoa Kỳ, EU, Úc, Canada, GCC… nếu
Việt Nam ký kết FTA với Hàn Quốc, chúng ta sẽ có cơ hội thông qua Hàn
Quốc tiếp cận các thị trường lớn trên thế giới với điều kiện ưu đãi” (Đoạn 4
trang 8) cần được xem xét lại một cách thấu đáo hơn. Lý do là:
Thứ nhất, hiện Hàn Quốc mới chỉ có 7 FTA đã ký và có hiệu lực với Chi lê,
Singapore, EFTA, ASEAN, Ấn Độ, EU và Peru (trong đó chỉ có EU là đáng
kể, các trường hợp khác hoặc là Việt Nam đã có FTA, hoặc là đang đàm
phán FTA); FTA của Hàn Quốc với Hoa Kỳ dù đã hoàn thành đàm phán và

5
Cũng theo thống kê Trade Map của ITC thì năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt
Nam là khoảng gần 10 tỷ USD trong khi của Malaysia là khoảng 1 tỷ USD và Indonesia khoảng 5,5 tỷ
USD; số liệu kim ngạch xuất khẩu giầy dép lần lượt là 6,7 tỷ USD (Việt Nam), 1,7 tỷ USD (Indonesia)
và 206 triệu USD (Malaysia). 9
ký tắt từ tháng 6 năm 2007 nhưng qua hai đời Tổng thống Hoa Kỳ vẫn chưa
được thông qua để có hiệu lực chính thức, và nếu có được thông qua chính
thức đi nữa thì Việt Nam cũng đang tiến hành đàm phán TPP với Hoa Kỳ
rồi; các FTA còn lại đều đang trong quá trình đàm phán (7 FTA, trong đó có
2 trường hợp đã có FTA với Việt Nam) hoặc mới chỉ ở giai đoạn xem xét
nghiên cứu tiền khả thi (11 FTA, trong đó 5 tr
ường hợp đã có FTA với Việt
Nam). Với tình hình này, xét một cách thực chất thì Việt Nam dường như
không có nhiều hy vọng ở việc thu lợi gián tiếp từ các FTA của Hàn Quốc;
Thứ hai, việc tận dụng cơ hội gián tiếp từ các FTA sẵn có của đối tác liệu có

nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ
sản xuất như Dự thảo đề cập (trang
5), đặc biệt khi sắt thép hay máy vi tính, linh kiện không phải là mặt hàng
mà Việt Nam có nhu cầu thực sự lớn về nguồn cung.
+ Lợi ích dạng này Việt Nam có thể thu được từ FTA với các đối tác mạnh
về công nghệ (ví dụ EU) mà lại không phải đứng trước nguy cơ lớn về gia
tăng nhập siêu như đối với Hàn Quốc.
Vì vậy, nhữ
ng lợi ích đối với nhập khẩu cần được xem xét, cân nhắc kỹ hơn
trong Dự thảo, đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam đang nhập siêu rất lớn từ Hàn
Quốc (giá trị nhập khẩu cao gấp 3 lần so với xuất khẩu theo số liệu tại trang 5
Dự thảo).
- Về lợi ích đối với đầu tư

Những lập luận trong Dự thảo về các mục tiêu trong việc gia tăng đầu tư nước
ngoài (FDI) từ Hàn Quốc cũng như thu hút làn sóng đầu tư mới từ nước này là
hoàn toàn hợp lý.
Mặc dù vậy, Dự thảo chưa phân tích được tại sao FTA với Hàn Quốc có thể
giúp chúng ta đạt được những mục tiêu quan trọng này. Ví dụ tại sao FTA với
Hàn Quốc có thể “chắc chắn thúc đẩy FDI từ Hàn Quốc vào Vi
ệt Nam” (Đoạn 2
trang 9)? Thông thường, FDI có xu hướng gia tăng trong các trường hợp một
nước gia nhập WTO (do điều này mở ra thị trường lớn với trên 150 nước đồng
thời có những cải thiện cơ bản về môi trường đầu tư) hoặc có những cam kết
bảo đảm đầu tư và các yếu tố liên quan (ví dụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ). Tuy
nhiên trong trường hợp c
ụ thể này, Hàn Quốc không phải nước đặt nặng vấn đề
IP hay yêu cầu cao về cam kết đầu tư trong các FTA?
này?
12
3. Về kiến nghị chung (Mục 8 – trang 13)
Với những quan ngại nêu trên, cần có những nghiên cứu sâu hơn, phân tích đầy
đủ, chi tiết hơn về các tác động của FTA Việt Nam – Hàn Quốc cũng như so
sánh FTA này với các FTA khác mà Việt Nam đang cân nhắc trước khi có thể
đi đến đề xuất cụ thể về việc Việt Nam có nên ký kết FTA với Hàn Quốc hay
không và với các nguyên tắc nào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status