Câu hỏi: Hãy trình bày tiến trình phân cấp quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư ở
Việt Nam qua các thời kỳ. Liên hệ và đưa ra các giải pháp.
MỤC LỤC
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
2.
2.1.
2.2.
2.2.1.
2.2.1.1.
2.2.1.2.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.4.1.
2.2.4.2.
2.2.4.3.
2.3.
3.
3.1.
3.2.
3.3.
3.4.
Tiến trình phân cấp quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Bộ Kế hoạch và đầu tư
Bộ Xây dựng
xuất mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế - xã hội.
1
Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới
nhằm huy động tối đa các nguồn vốn thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài
nước. Nhờ vậy, kinh tế - xã hội của đất nước đã có chuyển biến đáng kể, tạo ra tiền đề
cần thiết và quan trọng trong thời kỳ phát triển mới, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và
phát triển một cách toàn diện nền kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, phân cấp trong quản lý đầu tư vốn là một lĩnh vực phức tạp, có liên quan
đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều quy định khác liên quan; đặc biệt phải xử lý đa dạng
các mối quan hệ dân sự, quan hệ hành chính và nhiều mối quan hệ khác mà đáng lẽ
phải được điều tiết bằng các Luật và văn bản pháp luật, văn bản pháp qui một cách
đồng bộ, nhất quán và thống nhất.
Hiện nay, phân cấp trong quản lý đầu tư chủ yếu mới thực hiện theo các văn bản ở
hình thức Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị,... trong khi nền kinh
tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi, hình thành và phát triển phương thức quản
lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các cơ chế, chính sách mới hình
thành, đang trong quá trình điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với thực tế khách
quan.
Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu đổi mới, bổ sung, sửa đổi cơ
chế, chính sách trong lĩnh vực này. Tuy vậy, trên thực tế còn nhiều bất cập, chưa phù
hợp với thực tế khách quan. Vì vậy, việc nghiên cứu đổi mới công tác quản lý đầu tư
nhằm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngay trong giai đoạn
2006 - 2010 là cần thiết và bức xúc.
1. Tiến
trình phân cấp quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Ngày 22/9/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và
kế hoạch và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về vận động xúc tiến đầu tư. Phối
hợp với các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức hoạt động xúc tiến
đầu tư tại nước ngoài. Thực hiện quản lý quỹ xúc tiến đầu tư quốc gia.
Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành đàm phán và trình Chính phủ ký kết hoặc
tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư, thực hiện hợp tác quốc
tế về hoạt động đầu tư
Tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường năng lực quản lý
đầu tư cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư các cấp
Phối hợp với Tổng cục Thống kê tổ chức hoạt động thống kê về đầu tư theo quy
định của pháp luật về thống kê, tổ chức, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia phục vụ
hoạt động đầu tư
Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá
trình hình thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư
Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư.
3
-
Kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động đầu tư theo thẩm quyền xây dựng chương
trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát liên ngành đối với hoạt động đầu tư. Kiểm tra việc
cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và Nghị
định này
Định kì 6 tháng, hàng năm, tổng hợp tình hình hoạt động đầu tư và báo cáo thủ
tướng chính phủ
1.2. Bộ Xây dựng
Tiền thân của bộ là Bộ Thủy lợi và Kiến trúc được Quốc hội khóa I, Kỳ họp thứ 5,
ngày 20 tháng 9 năm 1955 thành lập.
Bộ xây dựng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu xây dựng
1.4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam có
trách nhiệm nghiên cứu cơ chế chính sách quản lý
Nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong đầu tư và xây dựng trình Thủ tướng
chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng chính phủ ủy quyền ban hành.
- Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính tín dụng khác thực hiện nhiệm vụ:
Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho vay dài hạn, trung hạn và các dự
-
án và cho vay ngắn hạn phục vụ đầu tư phát triển và sản xuất – kinh doanh
Thực hiện chế độ bảo lãnh thanh toán, dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác
theo quy định của pháp luật; thực hiện bảo lãnh các khoản vay vốn nước ngoài của các
tổ chức tín dụng để đầu tư và xây dựng.
1.5. Các Bộ chuyên ngành
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư đối với lĩnh vực được phân công. Cụ thể:
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư, các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng
pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư.
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng và ban hành pháp
luật, chính sách, tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật và hướng dẫn thực hiện
- Trình chính phủ ban hành các điều kiện đầu tư đối vỡi lĩnh vực đầu tư có điều kiện
thuộc ngành kinh tế - kĩ thuật.
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án thu hút vốn đầu tư của ngành
- Thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về khả năng đáp ứng điều kiện mà dự án đầu tư
phải đáp ứng đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng
chính phủ và dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát chuyên ngành việc đáp ứng các điều kiện đầu tư và quản
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý
tài chính của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội
được xác định trong Luật Ngân sách Nhà nước (sau đây gọi tắt là Bộ trưởng), Chủ tịch
Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh có dự án đầu tư nhóm A tổ chức thẩm tra và trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét, cho phép đầu tư.
Việc thẩm tra dự án chỉ thực hiện đối với các dự án nhóm A có trong quy hoạch phát
triển hoặc có quyết định chủ trương đầu tư (theo Nghị định số 12/2000/NĐ-CP). Theo
6
đó, cấp Trung ương và cấp tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện thẩm tra dự án trình Thủ
tướng xem xét quyết định đầu tư.
Hiện đang nghiên cứu đổi mới phương thức phân loại từ các nhóm dự án A, B và C
sang phân loại theo các nhóm dự án quan trọng quốc gia, dự án quốc gia, dự án cấp
tỉnh/bộ, dự án cấp huyện, dự án cấp xã với một số tiêu thức về tính chất, quy mô diện
tích đất sử dụng và quy mô vốn đầu tư.
Mặc dù phương thức phân loại dự án đã có nhiều đổi mới so với cách phân loại cũ
song rất cần cân nhắc lại do một số lý do sau:
+ Phân loại theo tiêu thức tổng mức vốn đầu tư đồng thời lại chia tiếp theo các loại
hình, lĩnh vực kinh doanh sẽ dễ dàng dẫn đến hiện tượng trùng lặp với tiêu thức tính
chất dự án.
+ Mục tiêu và ý nghĩa của tiêu thức phân loại theo tổng mức vốn đầu tư là gì? Nếu như
dự án được đầu tư từ nguồn vốn tư nhân và không thuộc diện điều chỉnh theo tiêu thức
tính chất và diện tích đất sử dụng thì Nhà nước không nhất thiết phải thẩm tra (ví dụ
các dự án công nghiệp nhẹ trên 300 tỷ đồng (khoảng 20 triệu USD) hoặc dự án sản
xuất hàng điện tử trên 400 tỷ đồng).
+ Ngược lại với các dự án từ vốn đầu tư tư nhân, cần có sự thẩm định một cách chặt
chẽ hơn đối với các dự án sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước. Không nên đưa ra một
mức vốn 100 tỷ đồng là giới hạn mà nên đưa ra những mục tiêu và điều kiện cụ thể
cho các dự án ở từng cấp, ví dụ:
nhân dân thảo luận, quyết định và công bố công khai.
-Tùy theo điều kiện cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương, người có thẩm quyền quyết
định đầu tư được phép ủy quyền cho các đối tượng quy định tại điểm d khoản này
quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C. Người ủy quyền phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về sự ủy quyền của mình. Người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về
quyết định của mình trước pháp luật và người ủy quyền.
Hiện nay, việc thực hiện theo quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng, theo Nghị định
07/CP. Theo đó, cấp thẩm định và quyết định là Trung ương và tỉnh, tuỳ theo cấp quản
lý của dự án.
*) Thẩm định và quyết định đầu tư các Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo
lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước :
Cụ thể được quy định tại Điều 11 Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng.và Điều 1 Mục
(5) NĐ 07/CP :
- Đối với các dự án quan trọng quốc gia do QH quyết định chủ trương:
+ Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư thẩm định ;
+ Thủ tướng quyết định đầu tư.
8
- Đối với các dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C : Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý tài chính của TW Đảng, cơ quan TW
của các tổ chức chính trị-xã hội (được xác định trong luật ngân sách), Chủ tịch UBND
các tỉnh (ĐP) quyết định đầu tư các dự án nhóm A đã có trong quy hoạch phát triển
kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành được duyệt hoặc đã có quyết định chủ
trương đầu tư và quyết định đầu tư ; hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm
B, C phù hợp với quy hoạch được duyệt.
- Trường hợp dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách địa phương phải đưa ra Hội đồng
nhân dân thảo luận, quyết định và công bố công khai.
- Đối với các dự án nhóm B chưa có trong quy hoạch được duyệt thì trước khi lập báo
cáo nghiên cứu khả thi phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền
-Dự án đầu tư xây dựng nhóm B, C do địa phương quản lý, Chủ tịch ủy ban nhân dân
cấp tỉnh phê duyệt sau khi đã được Sở Xây dựng hoặc Sở có xây dựng chuyên ngành
thẩm định (tùy theo tính chất của dự án).
*)Phân cấp quản lý về giám sát đánh giá đầu tư :
-Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện giám sát, đánh giá các dự án quan trọng quốc
gia, các dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu
tư.
-Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá các dự án quan trọng
quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và các dự án nhóm A được Thủ
tướng Chính phủ cho phép đầu tư.
- Các bộ quản lý chuyên ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đối với các dự án thuộc thẩm quyền
quyết định của mình (kể cả các dự án phân cấp và ủy quyền cho cấp dưới quyết định
đầu tư)
- Giám sát của cộng đồng dân cư thông qua các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng và
Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định. Ngoài việc đánh giá tổng thể đầu tư và tình
hình thực hiện dự án đầu tư theo định kỳ, các cơ quan giám sát, đánh giá đầu tư các
cấp có thể thực hiện nhiệm vụ đánh giá tổng thể đầu tư hoặc đánh giá dự án.
*)Phân cấp quản lý nghiệm thu, quyết toán công trình :
- Hoạt động xây dựng được kết thúc khi công trình đã được bàn giao toàn bộ cho chủ
đầu tư.
- Sau khi bàn giao công trình, nhà thầu xây dựng phải thanh lý hoặc di chuyển hết tài
sản của mình ra khỏi khu vực xây dựng công trình và trả lại đất mượn hoặc thuê tạm để
phục vụ thi công theo quy định của hợp đồng, chịu trách nhiệm theo dõi, sửa chữa các
hư hỏng của công trình cho đến khi hết thời hạn bảo hành công trình.
10
- Hiệu lực hợp đồng xây lắp chỉ được chấm dứt hoàn toàn và thanh quyết toán toàn bộ
khi hết thời hạn bảo hành công trình.
11
nay. Tuy nhiên do đây là một chủ trương mới phát sinh và mới trong giai đoạn triển
khai thực hiện bước đầu nên trong các văn bản pháp quy về vấn đề này còn chưa được
chặt chẽ. Các Nghị định 52/CP, 12/CP còn thiếu các quy định chi tiết, thiếu các chế tài
để kiểm tra, kiểm soát; vì vậy, rất dễ phát sinh các vi phạm trong quản lý đầu tư và xây
dựng.
Theo quy định, điều kiện để các dự án được bố trí kế hoạch đầu tư năm kế hoạch là
phải có đủ thủ tục về đầu tư và xây dựng ở thời điểm tháng 10 trước năm kế hoạch.
Thực tế, do nhiều nguyên nhân, vẫn còn tình trạng vốn chờ dự án, gây nên tình trạng
áp lực thiếu vốn giả tạo, nhiều lần trông năm kế hoạch phải điều hoà, điều chuyển vốn.
Ngoài ra còn có hiện tượng quyết định khống để hợp pháp hoá ở thời điểm tháng 10
trước năm kế hoạch
Theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Nghị định số 52/CP ngày 8 tháng 7 năm
1999 và Nghị định số 12/CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 về việc sửa đổi bổ sung một số
điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định 52/CP quy
định như sau:
Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:
+Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư các dự án
thuộc nhóm A;
+Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ,..,Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư các dự án nhóm B và C;
+Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc Bộ tư lệnh các Quân khu, Quân đoàn, Quân
chủng, Bộ đội Biên phòng và tương đương trực thuộc Bộ Quốc Phòng có thể được uỷ
quyền quyết định đầu tư các dự án nhóm C; các Tổng cục trực thuộc Bộ có thể được uỷ
quyền quyết định các dự án nhóm C;
+Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được uỷ
quyền cho Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 2 tỷ
đồng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố còn lại có thể uỷ quyền quyết
Bộ ngành, tình trạng phân tán trong sử dụng nguồn vốn này là rất lớn. Việc phân cấp
đầu tư giữa Trung ương và địa phương, giữa nhà nước và nhân dân chưa rõ ràng, gây
ảnh hưởng lớn đến sự hoàn thiện, tính đồng bộ của công trình, công trình xây dựng
kém hiệu quả.
Nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán dàn trải còn do nể nang, chủ
nghĩa bình quân vẫn còn xảy ra ở nơi này, nơi khác,... do đó bố trí vốn không tập trung,
dứt điểm. Tình trạng đầu tư theo phong trào còn chưa chấm dứt.
13
Do vậy, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan phê duyệt để hạn chế tình trạng phê
duyệt tràn lan, đồng thời quy định chế tài đối với các bên cấp vốn và nhận vốn nếu như
thực hiện sai các quy định này. Ví dụ bên cấp vốn cấp vốn cho các công trình được phê
duyệt lại với tổng dự toán tăng lên không phải do nguyên nhân khách quan được Nghị
định mới cho phép, hoặc bên tiếp nhận vốn đệ trình các dự án không nằm trong quy
hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt... đều phải bị xử lý.
Việc phân cấp và uỷ quyền trong đầu tư cho cấp thấp hơn là một xu thế tất yếu. Nhưng
khi trình độ xây dựng, phân tích, thẩm định dự án của cán bộ các cấp chưa cao, quyết
định đầu tư dự án còn có nhiều mặt chi phối, tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư chưa được
quy chuẩn rõ ràng, dẫn đến việc chọn các dự án đưa vào chương trình đầu tư quá
nhiều, không phù hợp với khả năng nguồn vốn, thời gian thi công kéo dài, kém hiệu
quả và còn nhiều rủi ro. Nhiều Bộ, ngành và địa phương không thực hiện chủ trương
tập trung dứt điểm trong quá trình phân bổ vốn kế hoạch hàng năm. Tình trạng dàn trải
trong đầu tư càng ngày càng thể hiện rõ nét hơn. Năm sau, số lượng các dự án, công
trình nhiều hơn năm trước. Các dự án nhóm B không thể hoàn thành trong 4 năm, các
dự án nhóm C không thể hoàn thành trong 2 năm.
Trong một số năm gần đây, cùng với nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước cũng
như nguồn khấu hao cơ bản để lại, ngành điện đã có cố gắng thu hút được nhiều dự án
ODA, đã xây dựng mới và mở rộng nhiều nguồn điện và hệ thống lưới truyền tải và
phân phối điện, nên cơ bản đáp ứng đủ điện cho các ngành kinh tế xã hội và ánh sáng
Cấp Trung ương ban hành các văn bản pháp luật về chính sách khuyến khích đầu tư
trong nước, áp dụng thống nhất trong cả nước. Cấp Trung ương (uỷ quyền cho Bộ Kế
hoạch và Đầu tư) cấp Giấy phép đầu tư ra nước ngoài.
Cấp Tỉnh có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư và ban hành các biện pháp
ưu đãi khác theo thẩm quyền của mình trên cơ sở luật định (ví dụ: hỗ trợ đào tạo, ưu
đãi đất…)
2.2.4. Phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài
Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài bao gồm một số hoạt động sau:
2.2.4.1.Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư nước ngoài
Quốc hội, Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với quản lý
đầu tư nước ngoài, áp dụng cho toàn quốc.
2.2.4.2.Ban hành danh mục dự án thu hút đầu tư nước ngoài và xúc tiến đầu tư
Trung ương và các địa phương ban hành danh mục các dự án thu hút đầu tư nước
ngoài và tiến hành các hoạt động xúc tiến đầu tư.Tại Điều 114.(Thẩm quyền quyết định
dự án đầu tư ) của Nghị Định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000
1. Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án nhóm A gồm:
a) Các dự án không phân biệt quy mô vốn đầu tư thuộc các lĩnh vực:
15
Xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu đô
thị; dự án BOT, BTO, BT;
Xây dựng và kinh doanh cảng biển, sân bay; kinh doanh vận tải đường biển, hàng
không;
Hoạt động dầu khí;
Dịch vụ bưu chính, viễn thông
Văn hoá; xuất bản, báo chí; truyền thanh, truyền hình; cơ sở khám, chữa bệnh; giáo
dục, đào tạo; nghiên cứu khoa học; sản xuất thuốc chữa bệnh cho người;
Bảo hiểm, tài chính, kiểm toán, giám định;
Thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm;
Thành phố Hồ Chí Minh với dự án tới 10 triệu USD);
+ Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất được uỷ quyền cấp giấy phép đầu tư cho
các dự án không thuộc nhóm A và có mức vốn dưới 40 triệu USD;
+ Cấp Trung ương cấp Giấy phép đầu tư cho các dự án còn lại.
2.2.4.4.Hoạt động quản lý, kiểm tra và giám sát
Các hoạt động quản lý, kiểm tra và giám sát được giao cho cấp có thẩm quyền cấp
Giấy phép đầu tư.
Trong đó, chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư :
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối giải quyết các vấn đề trong quá trình hình
thành, triển khai và thực hiện dự án đầu tư gồm:
a) Hướng dẫn, phối hợp các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc lập quy
hoạch, kế hoạch, danh mục dự án kêu gọi đầu tư và tiến hành các hoạt động xúc tiến
kêu gọi đầu tư;
b) Chủ trì thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư và Giấy phép điều chỉnh đối với dự án đầu
tư thuộc thẩm quyền;
c) Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ quyền cho Ban Quản lý Khu công
nghiệp cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy phép đầu tư cho dự án đầu tư nước ngoài đầu tư
vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (đối với Khu công
nghệ cao);
d) Hoà giải tranh chấp khi có yêu cầu;
đ) Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài;
e) Đánh giá tổng thể hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam;
g) Quyết định giải thể Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chấm dứt Hợp đồng
hợp tác kinh doanh trước thời hạn đối với dự án thuộc thẩm quyền.
2. Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp tình hình cấp Giấy phép đầu tư và hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo
cho các Bộ, ngành liên quan.
phải có đủ thủ tục về đầu tư và xây dựng ở thời điểm tháng 10 trước năm kế hoạch.
Thực tế, do nhiều nguyên nhân, vẫn còn tình trạng vốn chờ dự án, gây nên tình trạng
áp lực thiếu vốn giả tạo, nhiều lần trông năm kế hoạch phải điều hoà, điều chuyển vốn.
Ngoài ra còn có hiện tượng quyết định khống để hợp pháp hoá ở thời điểm tháng 10
trước năm kế hoạch
18
-Lãng phí và thất thoát trong đầu tư và xây dựng, tỷ lệ vốn đầu tư đưa vào công trình
thấp:
Vốn đầu tư thất thoát diễn ra từ khâu chuẩn bị dự án, thẩm định và phê duyệt dự án
đầu tư đến khâu thực hiện đầu tư và xây dựng. Tình trạng đầu tư không theo quy hoạch
được duyệt; khâu khảo sát nghiên cứu thiếu tính đồng bộ, không đầy đủ các chỉ tiêu
kinh tế, khả năng tài chính, nguồn nguyên liệu, bảo vệ môi trường, điều tra thăm dò thị
trường không kỹ; chủ trương đầu tư không đúng khi xem xét, phê duyệt dự án đầu tư.
Việc thẩm định và phê duyệt chỉ quan tâm tới tổng mức vốn đầu tư, không quan tâm
tới hiệu quả, điều kiện vận hành của dự án, nên nhiều dự án sau khi hoàn thành và đưa
vào sử dụng không phát huy tác dụng, gây lãng phí rất lớn.
Lãng phí và thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng đang là vấn đề nhức
nhối, cả xã hội quan tâm; kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm trọng mà đến
nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế.
Một số Bộ, ngành, địa phương khi xác định mức vốn đầu tư ít quan tâm đến việc tiết
kiệm vốn đầu tư, sử dụng đơn giá, định mức trong tính toán cao hơn quy định, làm
tăng khối lượng, tăng dự toán công trình. Nhiều dự án không làm đúng thiết kế, chủ
đầu tư và bên thi công móc nối, thoả thuận khai tăng khối lượng, điều chỉnh dự toán để
rút tiền và vật tư từ công trình.
Ngoài ra, do năng lực quản lý điều hành kém của chủ đầu tư, các ban quản lý dự án,
các tổ chức tư vấn cũng là nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư.
Qua kiểm tra một số công trình, đã phát hiện tình trạng lãng phí và thất thoát vốn
thực tế không bám sát thực tế phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn và của từng ngành,
lĩnh vực. Các công trình, dự án chưa tính đến các điều kiện và yếu tố cần thiết cho khai
thác, sử dụng.
Hậu quả của việc đầu tư ồ ạt vào hệ thống các nhà máy xi măng lò đứng, cũng như
đầu tư hệ thống các nhà máy sản xuất đường từ mía...cho thấy hơn lúc nào hết cần phải
nâng cao hơn nữa chất lương các quy hoạch và đặc biệt cần nâng cao hơn nữa vai trò,
trách nhiệm của các chủ đầu tư, gắn quyền hạn với trách nhiệm cá nhân của người có
thẩm quyền và trách nhiệm bồi thường thiệt hại cụ thể nếu để xảy ra những rủi ro do
nguyên nhân chủ quan.
Vấn đề phân loại các dự án, tổ chức thẩm định và thẩm quyền phê duyệt các loại quy
hoạch hiện nay cũng chưa được quy định một cách cụ thể: quy hoạch ngành đa lĩnh
20
vực; ngành kinh tế kỹ thuật cụ thể; các tỉnh trọng điểm và không trọng điểm; các khu
công nghiệp tập trung.
Chất lượng của các quy hoạch còn nhiều hạn chế, cơ sở lý luận, phương pháp lập chưa
phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; mức độ chuẩn xác thấp; vì vậy thường xuyên
phải điều chỉnh, kém tính ổn định.
-Đầu tư quá phân tán, dàn trải, thời gian xây dựng kéo dài : Một trong những nguyên
nhân làm giảm hiệu quả đầu tư trong nhiều năm qua là đầu tư quá phân tán. Việc phân
cấp quyền ra quyết định đầu tư các dự án và phân bổ vốn cho các dự án cũng đã được
sửa đổi bổ sung theo hướng phân cấp cho các bộ, các ngành và các địa phương ngày
càng nhiều. Theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Nghị định số 52/CP ngày 8
tháng 7 năm 1999 và Nghị định số 12/CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 về việc sửa đổi bổ
sung một số điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị
định 52/CP quy định như sau:
Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:
+Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư các dự án
bảo đảm vốn, phê duyệt dự án đầu tư không dựa vào khả năng cân đối vốn, thiếu kiểm
tra, giám sát,... nên tình hình đầu tư phân tán, dàn trải còn phổ biến, số công trình dở
dang chưa có vốn còn nhiều, nhưng đã bố trí hàng loạt công trình khởi công mới.
Trong những năm qua, do nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, mặt khác quy hoạch phát
triển ngành thể dục thể thao còn đang trong giai đoạn xem xét nên không tránh khỏi
những thiếu sót trong việc quản lý đầu tư và xây dựng gây bất cập trong công tác quản
lý và điều hành.
Nguồn vốn ngân sách được phép để lại đầu tư cho các ngành, các địa phương thường
không được kế hoạch hoá chặt chẽ trong kế hoạch chung của Nhà nước, của từng cấp
Bộ ngành, tình trạng phân tán trong sử dụng nguồn vốn này là rất lớn. Việc phân cấp
đầu tư giữa Trung ương và địa phương, giữa nhà nước và nhân dân chưa rõ ràng, gây
ảnh hưởng lớn đến sự hoàn thiện, tính đồng bộ của công trình, công trình xây dựng
kém hiệu quả.
Nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán dàn trải còn do nể nang, chủ
nghĩa bình quân vẫn còn xảy ra ở nơi này, nơi khác,... do đó bố trí vốn không tập trung,
dứt điểm. Tình trạng đầu tư theo phong trào còn chưa chấm dứt.
Do vậy, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan phê duyệt để hạn chế tình trạng phê
duyệt tràn lan, đồng thời quy định chế tài đối với các bên cấp vốn và nhận vốn nếu như
thực hiện sai các quy định này. Ví dụ bên cấp vốn cấp vốn cho các công trình được phê
duyệt lại với tổng dự toán tăng lên không phải do nguyên nhân khách quan được Nghị
22
định mới cho phép, hoặc bên tiếp nhận vốn đệ trình các dự án không nằm trong quy
hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt... đều phải bị xử lý.
Việc phân cấp và uỷ quyền trong đầu tư cho cấp thấp hơn là một xu thế tất yếu. Nhưng
khi trình độ xây dựng, phân tích, thẩm định dự án của cán bộ các cấp chưa cao, quyết
định đầu tư dự án còn có nhiều mặt chi phối, tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư chưa được
quy chuẩn rõ ràng, dẫn đến việc chọn các dự án đưa vào chương trình đầu tư quá
nhiều, không phù hợp với khả năng nguồn vốn, thời gian thi công kéo dài, kém hiệu
trước năm kế hoạch
- Vai trò trách nhiệm của chủ đầu tư chưa rõ ràng. Trình độ, năng lực của chủ đầu tư,
cán bộ thực hiện các dự án đầu tư còn nhiều bất cập : Trong quá trình kiểm tra, thanh
tra một số dự án lớn, đã phát hiện thấy có tình trạng chủ đầu tư giao cho các doanh
nghiệp không đủ năng lực chuyên môn và tài chính thực hiện công trình. Như vậy, dẫn
đến những hậu quả tai hại đối với công trình. Nguyên nhân là do chưa có quy định rõ
ràng về trách nhiệm của chủ đầu tư; không có một chủ đầu tư theo đúng nghĩa.
Trình độ cán bộ thực hiện các dự án đầu tư còn nhiều bất cập. Hiện nay có tình trạng
phổ biến là giám đốc dự án đầu tư đồng thời lại là người trực tiếp sử dụng công trình
sau khi hoàn thành. Ví dụ công trình xây dựng bệnh viện thường do giám đốc bệnh
viện làm chủ dự án; dự án trường học do hiệu trưởng nhà trường làm chủ dự án; công
trình nhà hát do giám đốc nhà hát làm chủ dự án... Nhưng do những người này không
có kiến thức chuyên môn về quản lý đầu tư và xây dựng nên sai sót, đến khi bị thanh
tra phát hiện, thì đổ cho các nguyên nhân khách quan như không có nghiệp vụ về lĩnh
vực quản lý đầu tư và xây dựng, và nếu như các cơ quan quản lý nhà nước đã thẩm
định và phê duyệt thì đổ lỗi cho các cơ quan đó...
Một trong những nguyên nhân rất đáng quan tâm là năng lực của các chủ đầu tư, nhất
là các chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước còn rất hạn chế ngay từ khâu
lập dự án đến các khâu triển khai tiếp theo. Việc hình thành các PMU như hiện nay,
thực chất là thêm một khâu trung gian không cần thiết, cần nghiên cứu cải tiến, nếu xét
thấy không phù hợp với thực tế quản lý thì giải tán.
3. Giải pháp
Phân cấp trong quản lý đầu tư là một yêu cầu khách quan.
Cải cách thể chế nhà nước và tổ chức bộ máy theo nguyên tắc thống nhất quản lý Nhà
nước, có sự phối hợp giữa các cơ quan.
24
Phù hợp với định hướng chung của cải cách thể chế nhà nước nêu trên, hoàn thiện
quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư cần phải thực hiện theo nguyên tắc chung