Hoàn thiện công tác Quản lý tiền lương tại Công ty TNHH Một
Thành viên Thép Cái Lân - Vinashin
Công tác quản lý tiền lương là một trong những chức năng quan trọng trong
công tác quản trị doanh nghhiệp. Nó có quan hệ mật thiết với các hoạt động sản xuất
kinh doanh trong các doanh nghiệp.Tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất quan
trọng, là một bộ phận cấu thành giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nhưng lại là
nguồn thu chủ yếu của người lao động. Các đặc điểm trên đòi hỏi khi tổ chức công tác
tiền lương doanh nghiệp phải tuân theo những nguyên tắc và những chính sách, chế độ
đối với người lao động
Vì vậy, trong doanh nghiệp việc xây dựng thang lương, bảng lương, quỹ
lương, định mức lương, lựa chọn các hình thức trả lương phù hợp đảm bảo sự phân
phối công bằng cho mọi người lao động trong quá trình làm việc, làm cho tiền lương
thực sự là động lực cho người lao động làm việc tốt hơn, không ngừng đảm bảo cải
thiện đời sống vật chất tinh thần của người lao động và gia đình họ là một việc cần
thiết và cấp bách. Trên cơ sở lý luận trên và thực tế thu thập được trong quá trình thực
tập tại Công ty cầu Thăng Long I em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác Quản lý tiền
lương tại Công ty TNHH Một Thành viên Thép Cái Lân - Vinashin ”
Với mục đích dùng những vấn đề lý luận về tiền lương, em phân tích và đánh
giá tình hình thực hiện công tác tổ chức tiền lương tại Công ty cầu Thăng Long I, từ đó
tìm ra những mặt cần phát huy, những tồn tại cần khắc phục để đưa ra những phương
hướng, giải pháp cho công tác tổ chức xây dựng các hình thức trả lương có hiệu quả.
Bố cục đề tài có ba phần:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về tiền lương trong doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng về các hình thức trả lương tại Công ty TNHH Một Thành
viên Thép Cái Lân - Vinashin
Chương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện các hình thức trả lương tại công ty
cầu I Thăng Long
1
Tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng của doanh nghiệp đối với người lao động,
tạo cơ sở nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Yêu cầu này đặt ra nhằm phát huy hết
tác dụng của công cụ tiền lương là đòn bẩy vật chất của doanh nghiệp nó luôn luôn
phải là động lực cho người lao động nâng cao năng suất lao động vươn tới thu nhập
cao hơn.Mặt khác đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển nâng cao trình độ và
kỹ năng của ngưòi lao động.
Ba là: Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu tính công bằng cho người lao
động.
Tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi người lao động. Một hình thức
tiền lương đơn giản rõ ràng dễ hiểu có tác động trực tiếp tới động cơ và thái độ làm
việc của ngưòi lao động, đồng thời làm tăng hiệu quả của hoạt động quản lý, nhất là
quản lý tiền lương trong doanh nghiệp.
2.2 Chức năng của tiền lương:
Chức năng đòn bẩy cho doanh nghiệp:
Tiền lương là động lực kích thích năng lực sáng tạo, tăng năng suất lao động
hiệu quả nhất. Bởi vì tiền lương gắn liền quyền lợi thiết thực nhất đối với người lao
động, nó không chỉ thoả mãn về nhu cầu về vật chất đối mà còn mang ý nghĩa khẳng
định vị thế của ngưòi lao động trong doanh nghiệp. Chính vì vậy khi tiền lương nhận
được thoả đáng, công tác trả lương của doanh nghiệp công bằng, rõ ràng sẽ tạo ra động
lực tăng năng suất lao động, từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp được tăng lên. Khi có
lợi nhuận cao nguồn phúc lợi trong doanh nghiệp dành cho người lao động nhiều hơn,
nó là phần bổ sung cho tiền lương làm tăng thu nhập và lợi ích cho họ và gia đình họ
tạo ra động lực lao động tăng khả năng gắn kết làm việc tăng năng suất lao động, giảm
chi phí sản xuất, xoá bỏ sự ngăn cách giữa những người sử dụng lao động và người lao
động tất cả hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp đưa sự phát triển của doanh nghiệp
lên hàng đầu.
Chức năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động:
Nguyên tắc 4: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao
động trong các điều kiện khác nhau.
4
Nguyên tắc này làm căn cứ cho doanh nghiệp xây dựng tổ chức thực hiện công tác tiền
lương công bằng hợp lý trong doanh nghiệp. Nhằm đảm bảo cho công nhân yên tâm
trong sản xuất trong những điều kiện làm việc khó khăn, môi trường độc hại ...
II. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG:
Ngày nay trong các doanh nghiệp, các công ty do có sự khác nhau về đặc điểm
sản xuất kinh doanh nên các hình thức trả lương thường áp dụng không giống nhau.
Thường thì có hai hình thức được áp dụng là :
-
Hình thức trả lương theo sản phẩm.
-
Hình thức trả lương theo thời gian.
III. QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG :
1. Mục tiêu:
Trong doanh nghiệp việc xây dựng thang lương, bảng lương, quỹ lương, định
mức lương, lựa chọn các hình thức trả lương phù hợp đảm bảo sự phân phối công bằng
cho mọi người lao động trong quá trình làm việc, làm cho tiền lương thực sự là động
lực cho người lao động làm việc tốt hơn, không ngừng đảm bảo cải thiện đời sống vật
chất tinh thần của người lao động và gia đình họ là một việc cần thiết và cấp bách. Vì
vậy việc nâng cao công tác Quản lý tiền lương rất cần thiết trong các doanh nghiệp,
-
Mức độ hoàn thành
công việc
Thâm niên
Kinh nghiệm
Tiềm năng của nhân
viên
Độ trung thành
Môi trường công ty
-
Chính sách
Bầu không khí văn hoá
Cơ cấu tổ chức
Khả năng chi trả của doanh nghiệp
1.Thị trường lao động:
Trước hết trong nền kinh tế thị trường hiện nay sức lao động được coi là một loại
hàng hoá đặc biệt.Chính vì vậy doanh nghiệp chịu sự tác động của thị trường lao động
chịu sự chi phối bởi các quy luật của thị trường .Để có được nguồn lao động có chất
lượng cao, đông đảo đòi hỏi doanh nghiệp phải chi trả một chi phí theo giá thị trường
căn cứ theo quy luật cung cầu.Do vậy khi xây dựng hệ thống các hình thức trả lương
doanh nghiệp phải căn cứ vào các hình thức trả lương mà trên thị trường đang áp dụng.
6
Nhà nước.
- Tiền lương trả theo sản phẩm.
- Tiền lương công nhật trả cho những người làm việc theo hợp đồng.
- Tiền lương trả cho cán bộ, công nhân khi sản xuất ra những sản phẩm không
đúng quy định.
- Tiền lương trả cho những người công nhân viên chức trong thời gian điều
động công tác hoặc đi làm nghĩa vụ quân sự của Nhà nước và xã hội.
- Tiền lương trả cho những cán bộ công nhân viên chức nghỉ phép định kỳ hoặc
nghỉ phép về việc riêng tư trong phạm vi chính sách của nhà nước.
- Các loại tiền lương có tính chất thường xuyên
- Phụ cấp dạy nghề trong sản xuất cho các tổ trưởng sản xuất.
- Phụ cấp thâm niên nghề nghiệp
- Phụ cấp cho những người làm công tác khoa học có tài năng.
- Phụ cấp khu vực.
- Các khoản phụ cấp khác được ghi trong quỹ lương.
Cần có những phân biệt khác nhau sau đây về quỹ tiền lương :
+ Quỹ tiền lương theo kế hoạch
Là tổng số tiền lương dự tính theo lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thuộc
quỹ lương dùng để trả lương cho cán bộ công nhân viên theo số lượng và chất lượng
lao động khi người lao động hoàn thành kế hoạch sản xuất trong điều kiện bình thường.
+ Quỹ tiền lương báo cáo
8
Là tổng số tiền thực tế đã chi trong đó có những khoản được lập kế hoạch
nhưng không phải chi cho những thiếu sót trong tổ chức sản xuất hoặc không có trong
kế nhưng phải chi và số tiền trả cho người lao động làm việc trong điều kiện sản xuất
không bình thường nhưng khi lập kế hoạch không tính đến.
2. Quản lý quỹ lương :
giác độ doanh nghiệp thì tiền lương là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm dịch vụ
do doanh nghiệp sản xuất ra. Do đó người lao động thì muốn được trả lương cao còn
doanh nghiệp thì lại muốn trả lương thấp.Việc xây dựng các hình thức trả lương phù
hợp thoả mãn cả hai bên (người lao động và doanh nghiệp) trở thành vấn đề ngày càng
được quan tâm nhất trong doanh nghiệp .
Thực tế cho thấy việc tính toán xác định hình thức trả lương trong các doanh
nghiệp hiện nay còn nhiều thiếu xót .Các hệ thống định mức lao động đã lạc hậu
không còn phù hợp, việc tính toán xác định đơn giá tiền lương còn thiếu chính xác. Có
những khâu đoạn có thể xây dựng định mức để tiến hành trả lương theo sản phẩm
nhưng lại tiến hành trả lương theo thời gian. Từ những nguyên nhân trên tạo nên sự
bất hợp lý trong công tác trả lương trong các doanh nghiệp hiện nay, chỗ thì trả cao
hơn thực tế chỗ thì trả lương thấp hơn thực tế gây ra tâm lý xáo trộn cho người lao
động và không những không tăng được năng suất lao động mà còn đội giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp tạo ra sự lãng phí không hiệu quả.
Đối với Công ty TNHH MTV Thép Cái Lân – Vinashin thì công tác trả lương
trước đây chủ yếu dựa trên những hình thức phương pháp, quy chế trả lương của nhà
nước và tuân thủ đầy đủ các Quy định của nhà nước về quản lý tiền lương.
Qua những phân tích sơ bổ trên về thực trạng tác động của nền kinh tế đến công
tác trả lương của các doanh nghiệp và thực tế của công ty cầu I Thăng Long thì một
10
yêu cầu đặt ra cả về mặt chủ quan và khách quan là phải hoàn thiện Công tác quản lý
tiền lương tại Công ty TNHH MTV Thép Cái Lân – Vinashin.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH
MTV THÉP CÁI LÂN - VINASHIN
I. Tổng quan về công ty TNHH MTV Thép Cái Lân - VinashinI. Thông tin
4. Mục tiêu hoạt động và ngành nghề kinh doanh chính:
- Mục tiêu hoạt động: Tăng cường năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng
cạnh tranh của Công ty; đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển
vốn chủ sở hữu đầu tư tại Công ty.
- Ngành nghề kinh doanh chính:
+) Sản xuất, mua bán sắt, thép, thép tấm đóng tàu, thép cường độ cao, kết cấu
thép và các sản phẩm từ kim loại gồm: Khung bằng thép, cấu kiện thép xây dựng và
các sản phẩm từ thép khác
+) Sản xuất, mua bán các sản phẩm bằng kim loại và các hoạt động dịch vụ có
liên quan đến công việc chế tạo kim loại: Rèn, dập, ép, cắt tạo hình sản phẩm, cán và
kéo thép;
+) Xuất nhập khẩu máy thiết bị, vật tư, vật liệu phục vụ cho việc sản xuất các
sản phẩm từ thép.
II. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
1. Quá trình hình thành.
Nhà máy cán nóng thép tấm đóng tàu là một hạng mục quan trọng trong nhiều
hạng mục đầu tư trọng điểm của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam – Vinashin.
Đây đồng thời là một trong những hạng mục đầu tư nhằm giảm giá thành đóng, sửa
chữa tàu trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chương trình nội địa hoá
sản phẩm từ năm 2001 đến 2015, mà trước mắt đảm đương việc cung cấp các loại thép
12
cho đóng mới một khối lượng lớn các tàu có tải trọng từ 4000 DWT đến 100.000 DWT
cho các công ty đóng tàu trực thuộc tập đoàn Vinashin và một số đơn vị đóng tàu khác
như: Công ty Đóng tàu Than thuộc Tập đoàn than khoáng sản Việt nam, Công ty đóng
tàu Đông bắc và một số nhà máy khác.
Trên thị trường đóng tàu thế giới thời gian vừa qua, Nhật bản đã từng là một quốc
gia đóng tàu xếp hạng thứ nhất trên thế giới. Từ năm 1999, các con số thống kê đã chỉ
tiến hành nghiên cứu các yếu tố để có thể trang bị một dây chuyền sản xuất thép tấm
chuyên dùng phục vụ riêng cho ngành công nghiệp tàu thuỷ.
2. Các giai đoạn phát triển chủ yếu của Công ty Thép Cái Lân - Vinashin
- Tháng 11 năm 2001 có quyết định cho phép chuẩn bị đầu tư lập báo cáo nghiên cứu
khả thi dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp khu công nghiệp tàu thủy Cái Lân mà
Nhà máy cán nóng thép tấm một trong những hạng mục đầu tư chính và có vốn đầu tư
lớn nhất.
- Tháng 7/2002 Đấu thầu: Tổ chức đấu thầu các gói thầu chính và gói thầu phụ trợ. Vì
đây là dự án được thực hiện theo hình thức chủ đầu tư trực tiếp thực hiện dự án có
thành lập Ban quản lý.
- Theo Quyết định số 125 QĐ/CNT-BQLCL ngày 30/12/2002: Tiểu ban Quản
lý dự án Đầu tư xây dựng Nhà máy cán nóng thép tấm thuộc Ban quản lý dự án cụm
công nghiệp tàu thủy Cái Lân được thành lập. Tại thời điểm đó chức năng nhiệm vụ
của Ban QLDA chỉ là giúp cho chủ đầu tư tổ chức, xúc tiến, quản lý, thực hiện DA
đầu tư, dâu dựng Nhà máy cán nóng thép tấm tại Cụm Công nghiệp tàu thủy Cái Lân.
Vì nó thuộc ban QLDA Cụm CNTT Cái Lân nên nó hạch toán phụ thuộc và được sử
dụng con dấu của Ban QLDA Cụm CNTT để giải quyết các vấn đề có liên quan đến dự
án mà mình phụ trách.
- Cùng với quyết định thành lập Công ty CNTT Cái Lân ngày 4/4/2003 thì tiểu
Ban QLDA ĐTXD Nhà máy cán nóng thép tấm được trở thành Ban CBSX Nhà máy
cán nóng thép tấm, song về bản chất pháp lý chưa có gì khác trước.
Trong thời kỳ xây dựng – Chủ đầu tư là Công ty CNTT Cái Lân – Ban CBSX nhà
máy thép được thành lập có nhiệm vụ theo dõi quá trình xây dựng và lắp đặt dây
14
truyền sản xuất, tuyển lao động, nghiên cứu và học tập, đào tạo trong nước và gửi đi
nước ngoài về vận hành thao tác nhà máy, chuẩn bị tốt cho các công tác tiếp nhận bàn
giao và vận hành nhà máy sau này.
ợ
p
h
à
n
h
c
h
í
n
h
p
h
ò
n
g
k
i
n
h
d
o
a
n
h
p
.
g
h
í
n
h
-k
ế
t
o
á
n
p
h
ò
n
g
g
i
á
m
đ
ố
c
c
h
ủ
t
ị
g
t
y
t
n
h
h
m
ộ
t
t
h
à
n
h
v
i
ê
n
t
h
é
p
c
á
il
â
n
-v
i
n
k
i
ể
m
s
o
á
t
k
c
s
p
h
ò
n
g
s
ả
n
x
u
ấ
t
p
.
tịch Công ty về Quản lý các phòng ban trong Công ty và phân xưởng Cán Thép.
Giám đốc phân công của phần công việc từng mặt quản lý cho các phòng ban.
Hoặc thông qua các phòng ban đưa ra mệnh lệnh xuống các phân xưởng.
Dưới giám đốc là Phó giám đốc và các phòng ban kết hợp với giám đốc để đưa
ra những quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Các phòng ban có nhiệm vụ theo dõi kiểm tra và chỉ đạo việc thực hiện các tiến
độ sản xuất, các quy trình công nghệ cũng là một trong những nhiệm vụ của các phòng
ban.
Các phòng ban. Có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không có quyền quyết
định đến nhau.
2.2 Phòng Tổng hợp
a. Chức năng:
Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong các lĩnh vực sau:
- Tuyển dụng, đào tạo, tổ chức thi nâng bậc CNKT, tổ chức sắp xếp nhân lực;
- Công tác định mức lao động, tiền lương, chế độ chính sách, bảo hiểm cho người lao
động;
- Duy trì và phát huy hiệu quả Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
17
- Công tác quản trị hành chính, văn phòng, đời sống, bảo vệ;
- Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về công tác tài chính tín dụng, kế toán của Công
ty, quản lý tài sản cố định của Công ty;
- Xây dựng định hướng Marketting, mô hình bán hàng, kế hoạch kinh doanh, cơ chế
chính sách phục vụ công tác tiêu thụ thép trong từng thời kỳ, kế hoạch quảng cáo và
xây dựng thương hiệu thép tấm Cái Lân – Vinashin, tiêu thụ sản phẩm thép tấm và thu
hồi công nợ;
- Công tác quảng cáo, xây dựng thương hiệu theo định hướng của công ty;
- Công tác quản lý chất lượng sản phẩm;
về kết quả thực hiện.
• Thực hiện công tác về vốn: huy động vốn và thu hồi vốn, luân chuyển vốn
sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đã lập nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu về
vốn theo kế hoạch sản xuất và kinh doanh của Công ty.
• Phối hợp với Bộ phận Kế hoạch Vật tư để xây dựng chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
• Thực hiện công tác kế toán vật tư.
• Thực hiện công tác kế toán thành phẩm.
• Theo dõi và quản lý tài sản cố định của Công ty. Chủ trì trong công tác kiểm
kê tài sản, vật tư, tiền vốn của Công ty và chịu trách nhiệm về tính chính xác
của các số liệu báo cáo.
• Thực hiện công tác kế toán lương, bảo hiểm và các khoản chi trả khác cho
người lao động.
• Tổ chức thực hiện mạng lưới thống kê.
• Thực hiện các báo cáo định kì theo các qui định hiện hành của Công ty và
Tổng công ty.
2.5. Phòng kế hoạch kỹ thuật
19
a. Chức năng:
Tham mưu cho Giám đốc trong các lĩnh vực:
• Quản lý thiết bị.
2. Công tác hợp đồng kinh tế :
•
20
Giao dịch và trình Ban Giám đốc ký kết các hợp đồng kinh tế.
•
Tham gia với các phòng khác soạn thảo, ký kết và thực hiện các hợp
đồng mua phôi thép, bán sản phẩm và các hợp đồng kinh tế khác.
•
Quản lý, theo dõi việc thực hiện, thanh lý các hợp đồng kinh tế của các
phòng theo đúng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Nhà nước và các quy
định của Tổng công ty về công tác hợp đồng kinh tế.
•
Lưu trữ các hợp đồng kinh tế của Công ty.
2.7. Ban quản lý dự án Nhà máy Cán nóng Thép Tấm Cái Lân - Vinashin
Ban quản lý dự án Nhà máy cán nóng thép tấm Cái Lân có chức năng nhiệm
vụ như sau:
a. Chức năng:
Quản lý dự án đầu tư xây Nhà máy cán nóng Thép tấm Cái Lân – Vinashin tại
Cụm công nghiệp Cái Lân – Phường giếng đáy – Thành phố Hạ Long – Quảng ninh.
Tổ chức thực hiện sản xuất theo kế hoạch của Công ty, đảm bảo các chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật.
b. Nhiệm vụ:
•
Vận hành thiết bị của dây chuyền cán thép theo đúng quy trình quy phạm
của nhà chế tạo.
•
Thực hiện nhiệm vụ sản xuất theo kế hoạch, đảm bảo an toàn cho người
và thiết bị, thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của Công ty giao.
•
Sử dụng và quản lý lao động một cách có hiệu quả.
•
Được quyền mua các thiết bị, vật tư, phụ tùng phục vụ SXKD theo quy
định và theo hợp đồng giao khoán của Công ty.
•
Quản lý và sử dụng trục cán, phụ tùng bị kiện, nguyên nhiên liệu phục vụ
cho sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm.
•
Bảng 7.1: Bố trí nhân lực của nhà máy
Nhân viên gián tiếp
Số lượng
Giám đốc
1
Phó Giám đốc
2
Trưởng phòng và phó phòng
9
Kỹ sư
10
Quản đốc và phó quản đốc
2
Trưởng ca
3
Doanh thu cung cấp dịch vụ
200 Doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu VNĐ
504.657.463
546.000.000
7
Doanh thu khác
Tổng cộng
Doanh thu cung cấp dịch vụ
23
166.550.198
1.217.207.661
1.119.428.039
200 Doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu khác
31.354.900
Tổng cộng
1.150.782.939
Doanh thu cung cấp dịch vụ
10.632.145.864
200 Doanh thu hoạt động tài chính
3.297.782.325
9
Doanh thu khác
chính chủ yếu là lãi tiền gửi của các khoản vay vốn đầu tư trong giai đoạn đầu tư xây
dựng cơ bản và các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác như chứng khoán…
- Đối với công ty việc trả lương cho người lao động như thế nào cho công bằng,
cho đúng với năng lực từng người luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Chính vì vậy,
công ty luôn tìm tòi để áp dụng những hình thức trả lương cho người lao động theo
đúng với tinh thần đó, thu nhập của công nhân viên trong công ty được cải tiến qua các
năm đồng thời tạo thêm lòng hăng say, nhiệt tình, thái độ trách nhiệm của người loại
trong công việc, Từ đó dẫn đến NSLĐ tăng và hiệu quả sản xuất của công ty ngày càng
cao.
- Qua kết quả về khối lượng sản phẩm cũng như doanh thu trong 4 năm vừa qua
có thể thấy được Công ty có bước tăng trưởng khá qua các năm, đóng góp vào ngân
sách nhà nước hàng tỷ đồng, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho
người lao động, điều này chứng tỏ sự lớn mạnh không ngừng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, hiện nay công ty cũng đã nhận được những yêu cầu chuẩn bị hợp tác đặt
hàng ngay sau khi Công ty đi vào vận hành và khai thác. Đây là một tín hiệu đáng
mừng cho thị trường đầu ra sản phẩm của Công ty. Tín hiệu này cũng đảm bảo khối
lượng doanh thu lớn hơn nữa trong những năm tới đây.
CHƯƠNG III: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại Công
ty TNHH MTV Thép Cái Lân – Vinashin.
1. Định hướng phát triển của doanh nghiệp
- Định hướng của doanh nghiệp trong những năm tới. Trên cơ sở những tiềm
năng sẵn có của doanh nghiệp là một nhà máy điện 39MW sẽ hoạt động tiêu thụ hàng
năm khoảng 250 triệu MWh với hiệu quả cao đặt doanh thu của doanh nghiệp cơ bản
là việc bán điện đồng thời kết hợp mua bán điện từ EVN cho các hộ tiêu thụ.
25