MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………......4
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU………………………………………………..5
1.1.Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp……………………………………5
1.1.1. Định nghĩa khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp………………………..5
1.1.2. Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp…………6
1.2. Tầm quan trọng của nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thủy
sản Việt Nam hiện nay……………………………………………………………...7
1.2.1. Sự cần thiết của nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp………...7
1.22. Ý nghĩa của nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp……………..9
1.2.3. Nội dung nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp……………….9
1.3. Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ở một số
nước có ngành xuất khẩu thủy sản phát triển……………………………………..11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM………………… 13
2.1. Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam……………………………………13
2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt
Nam hiện nay……………………………………………………………………..18
2.2.1.Nhận thức của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản về công tác nâng cao
khả năng cạnh tranh………………………………………………………………18
2.2.2.Thực tiễn quá trình thực hiện công tác nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản…………………………………………………22
1
2.3.Đánh giá thực trạng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất
khẩu thủy sản……………………………………………………………………...25
2.3.1. Thành tựu đạt được……………………………………………………...25
2.3.2. Hạn chế………………………………………………………………….26
nhiều loại cá ngon) lại thêm con người Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong
việc nuôi trồng thủy hải sản từ lâu đời, điều đó giúp cho Việt Nam có điều kiện
vươn lên thành một nước mạnh về xuất khẩu thủy sản. Những điều đó đã giúp cho
thủy sản Việt Nam có tiếng trên thị trường quốc tế, rất được ưa chuộng ở các thị
trường như Hoa Kì, EU, Nhật Bản. Tuy nhiên trong bối cảnh quá trình hội nhập
kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ thì các nước đang phát triển đều tranh thủ
lợi thế của mình để đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt là các nước có điều kiện tự nhiên
thuận lợi để phát triển ngành thủy sản như Việt Nam. Hơn nữa, trước sự nhập khẩu
ồ ạt từ các nước xuất khẩu thủy sản, các thị trường trước nay vốn rất ưa chuộng
hàng thủy sản của Việt Nam đang tìm cách để bảo vệ ngành nuôi trồng và dánh bắt
thủy sản trong nước thông qua việc lập nên các hàng rào kĩ thuật, các vụ kiện bán
phá giá. Trong những tình huống như thế, việc nâng cao khả năng cạnh tranh (vốn
yếu kém) của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là rất quan trọng.
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đề án này chỉ đưa ra một cách
nhìn tổng hợp về vấn đề này từ đó nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp cũng
như những đối tượng quan tâm để góp phần vào mục tiêu chung là nâng cao khả
năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nhằm phát triển nền kinh
tế đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
3
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
Công tác nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cần được làm sáng rõ
bởi những lí luận chung về vấn đề này. Nhận thức được điều đó, doanh nghiệp và
chính phủ có thể hiểu rõ hơn những nguyên lí cơ bản để áp dụng trong thực tế xuất
khẩu thủy sản ở nước ta. Đối với những vấn đề thực tế, không có gì tốt hơn khi
chúng ta có lí luận soi đường chỉ lối và những kinh nghiêm quý báu. Chúng sẽ giúp
4
1.1.2.
Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh theo quan điểm Maketing-mix được đánh giá dựa trên 4 cặp
tiêu chí sau:
Product (sản phẩm) – acceptability (sự chấp nhận của công chúng):
Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất có phù hợp với yêu cầu của thị trường
không. Thông thường một sản phẩm được đánh giá là có khả năng cạnh tranh nhất
thiết phải được người tiêu dùng chấp nhận, hài lòng về chất lượng sản phẩm.
Doanh nghiệp thường dùng chỉ tiêu này để đánh giá sự tồn tại cua sản phẩm trên
thị trường. Một sản phẩm được sự chấp nhận nhiệt tình của công chúng thì sản
phẩm đó đã thành công trong việc đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đây là bước
quan trọng đầu tiên để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Đối với những
doanh nghiệp sản xuất một loại hàng hóa thì sự chấp nhận sản phẩm của công
chúng là điều kiện sống còn của doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp ở đây được thể hiện ở chỗ sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận bỏ
tiền ra chi tiêu nhiều hơn thì sản phẩm đó có khả năng cạnh tranh hơn các sản
phẩm khác cùng loại.
Price (giá cả) – Affordability (sự phải chăng)
Giá cả cũng là nhân tố quan trọng xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường
của một doanh nghiệp. Giá cả thường phải được xác định sao cho phù hợp với thu
nhập của người tiêu dùng. Tuy nhiên một số sản phẩm cùng loại với các sản phẩm
khác đang bán trên thị trường nhưng được người tiêu dùng chấp nhận trả giá cao
hơn tức là doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó có khả năng cạnh tranh cao hơn
các doanh nghiệp khác trong việc sản xuất ra sản phẩm đó. Chính sách về giá thành
sản phẩm của một doanh nghiệp nhất là với các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại
1.2.1. Sự cần thiết của nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế lớn của cả nước với giá trị xuất khẩu
năm 2011 đạt 6,118 tỉ đồng, tăng 22% so với năm 2010. Tuy nhiên, trong những
năm qua, nhiều DN trong ngành thủy sản đang gặp nhiều khó khăn, thách thức do
tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng
cạnh tranh và phát triển của toàn ngành. Vì vậy,nâng cao khản năng cạnh tranh cho
các doanh nghiệp thủy sản đang là một vấn đề bức thiết hiện nay. Cụ thể, sự cần
thiết nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam
được thể hiện ở các khía cạnh sau:
a) Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam là đòi
hỏi cấp bách của quá trình hội nhập
6
Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay khi các quốc gia cần bỏ những rào
cản về thương mại tạo một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước
cũng như ngoài nước. Điều này vừa tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam một cơ
hột để tiếp cận thị trường mới, nhưng một vấn đề đặt ra là doanh nghiệp Việt Nam
có đủ sức để tồn tại ngay trong nước mình hay không khi các sản phẩm của nước
ngoài tràn vào với chất lượng tôt hơn, quy trình công nghệ kĩ thuật cao hơn…
Trước tình hình ấy không còn lựa chọn nào khác là doanh nghiệp Việt Nam phải tự
mình nâng cao chất lượng sản phẩm,đổi mới quy trình công nghệ, dựa trên nhu cầu
của khách hàng để sản xuất và bán sản phẩm… để trước tiên tự cứu lấy mình trong
quá trình hội nhập hiện nay. Đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ra thị
trường thế giới thì nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu là điều kiện
sống còn của doanh nghiệp trên thị trường thế giới cạnh tranh khốc liệt.
b) Hàng thủy sản là một trong số mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam
Bên cạnh gạo, dệt may, chè, thì thủy sản đóng một vai trò rất quan trọng trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, thủy
sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của nước ta mà luôn được
Nâng cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa lớn đối với không chỉ doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản Việt Nam nói riêng mà còn có nhiều ý nghĩa đối với nên kinh
tế.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, nâng cao khả năng cạnh tranh giúp
doanh nghiệp tăng cường vị thế của mình trên thị trường, đủ sức ứng phó với
những biến động khó lường trước được của thị trường thủy sản thê giới. Đồng thời
với đó, doanh nghiệp cũng đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trong việc thỏa mãn
nhu cầu người tiêu dùng và đem lại lợi nhuận cũng như sự phát triển về lâu dài cho
doanh nghiệp.
Đối với nề kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy
sản góp phần vào việc tăng cường khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế nước ta,
nhất là khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Không
những thế, xuất khẩu thủy sản phát triển đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn phục
vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, đảm bao đất nước phát
triển theo đúng định hướng mà Đảng đã đề ra.
1.2.3. Nội dung nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
*Nâng cao khả năng thu hút các nguồn lực
8
Khả năng thu hút các nguồn lực không chỉ nhằm đảm bảo các điều kiện cho hoạt
động sản xuất kinh doanh tiến hành binh thường mà còn thể hiện khả năng cạnh
tranh thu hút đầu vào của doanh nghiệp. Nhờ việc thu hút các đầu vào của doanh
nghiệp có chất lượng cao như trình độ công nghệ cao, công nghệ hiện đại, vật tư
nguyên liệu, nguồn vốn,… mà doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng, năng suất
lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nâng cao khả năng thu hút các nguồn lực
là tiền đề của công tác nâng cao khả năng cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp.
*Nâng cao năng suất các yếu tố sản xuất
Năng suất các yếu tố sản xuất thể hiện ở các chỉ tiêu như: chỉ tiêu năng suất lao
định và thực hiện chiến lược, lựa chọn phương pháp quản lí , tạo động lực cho
người lao động thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí và
phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ của các bộ phận. Việc hình thành tổ chức
bộ máy quản lí theo hướng tinh, nhanh, gọn và hiệu quả cao sẽ giảm được chi phí,
thực hiện suôn sẻ công việc của toàn hệ thống hướng đến tăng cường lợi nhuận,
nâng cao vị thế cho doanh nghiệp nhờ đó mà nâng cao khả năngcạnh tranh của
doanh nghiệp.
1.3. Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ở một
số nước có ngành xuất khẩu thủy sản phát triển
a)Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Theo ông Chung Man Hwa – Chủ tịch Viện Kinh tế Thủy sản, Liên đoàn quốc
gia HTX thủy sản Hàn Quốc, kinh nghiệm để ngành công nghiệp thủy sản Hàn
Quốc phát triển vững chắc là dựa vào 3 chân kiềng: làng chài – ngư dân – đánh bắt.
Do đó, Chính phủ Hàn Quốc luôn có chính sách hỗ trợ ngư dân trong nhiều hoạt
động đánh bắt thủy sản bền vững và an toàn như: vay vốn thông qua tín dụng hỗ
tương, mua bảo hiểm cho tàu cá và thủy thủ, xây dựng chất lượng cuộc sống cho
ngư dân, cung cấp thông tin và trang thiết bị đánh bắt cho ngư dân, cung cấp
nguyên liệu và dịch vụ hậu cần ngay trên biển cũng như hỗ trợ hoạt động đánh bắt
an toàn…
Đặc biệt, chính phủ Hàn Quốc rất coi trọng và ưu tiên việc hỗ trợ vốn cho ngư
dân, không để ngành thủy sản đình trệ chỉ vì thiếu vốn. Đây là bài toán mà không
phải quốc gia nào cũng có thể làm được. Ông Chung Man Hwa cho biết, từ năm
2008 thu nhập của các hộ gia đình ngư nghiệp đã vượt thu nhập của các hộ làm
nông nghiệp ở mức 38.000.000/30.000.000 won.
Đồng tình với quan điểm và cách làm của Chính phủ Hàn Quốc nhằm phát triển
ngành thủy sản, ông Ikuhiro Hattori – Chủ tịch Liên đoàn quốc gia HTX nghề cá
Nhật Bản cho rằng: Cách làm của Hàn Quốc sẽ là một kinh nghiệm quý cần được
nhân rộng tại các nước có nghề đánh bắt thủy sản trong khu vực và trên thế giới.
b)Kinh nghiệm của Na Uy
10
TRƯỜNG
Tháng
Tháng
So với cùng
4/2012 (GT) 5/2012 (GT) kỳ 2011 (%)
Từ 1/1 đến
31/5/2012
So với cùng
kỳ 2011 (%)
Mỹ
94,806
109,483
+14,6
458,213
+14,0
EU
91,763
99,738
Hà Lan
12,563
12,845
-18,4
58,066
-14,4
Tây Ban Nha
12,096
11,642
+3,0
57,564
+0,5
8,855
10,897
-13,5
12
TQ và HK
27,883
36,966
+14,0
147,621
+13,8
Hồng Kông
11,101
13,432
+34,1
55,121
+28,3
ASEAN
51,916
+5,9
Mexico
4,124
5,325
-3,6
45,396
-0,4
Nga
10,841
9,949
-6,2
43,408
-2,8
Các TT khác
5/2012
(GT)
13
So với
Từ 1/1
So với
cùng kỳ
đến
cùng kỳ
2011 (%) 31/5/2012 2011 (%)
Tôm các loại (mã HS 03
và 16)
163,283
198,784
+6,2
798,075
+4,9
49,800
63,481
45,655
52,696
+83,2
228,059
+28,9
trong đó: - Cá ngừ mã HS
16
17,285
21,107
+74,7
76,194
+52,7
28,370
31,589
+89,3
151,866
trong đó: - Mực và bạch
tuộc
43,413
48,694
+17,8
205,410
+24,1
6,073
8,455
+7,5
31,388
-3,7
trong đó: - Tôm chân
trắng
- Tôm sú
- Cá ngừ mã HS
03
Ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam thời gian qua đã phát triển với những
đặc điểm sau:
Một là, sản lượng xuất khẩu tăng nhanh nhưng doanh thu còn thấp do mặt
hàng xuất khẩu chủ yếu là sơ chế và nguyên liệu
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2008 thể hiện sự tăng
lên cả về sản lượng và doanh thu. Về mặt sản lượng, xuất khẩu thủy sản tăng từ
mức 276 nghìn tấn năm 2000 lên 1,24 triệu tấn năm 2008, tăng trung bình 20,73%
hàng năm. Tỷ trọng sản lượng xuất khẩu trên sản lượng tiêu thụ nội địa cũng tăng
từ mức 12% năm 2000 lên 27% năm 2008. Về doanh thu, xuất khẩu thủy sản tăng
từ mức 1,4 tỷ USD năm 2000 lên mức 4,5 tỷ USD năm 2008, đạt nhịp tăng trung
bình 14,1% hàng năm. Có được mức tăng này chủ yếu là nhờ Việt Nam đa tạo ra
được vùng nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm dành riêng cho xuất khẩu. Tuy
nhiên, việc tốc độ tăng sản lượng lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu cho
thấy Việt Nam mới tăng đáng kể xuất khẩu của nhóm mặt hàng chế biến và nguyên
liệu có giá trị gia tăng thấp. Cụ thể là tăng doanh thu xuất khẩu thủy sản chủ yếu
đến từ nhóm mặt hàng Cá tươi, ướp lạnh, ướp đông, từ 174 triệu Đô-la Mỹ năm
2000 lên gần 2 tỷ năm 2008. Mức tăng này tương đương với 60% mức tăng xuất
khẩu của toàn ngành thủy sản.
Hai là, xuất khẩu hàng thủy sản chế biến có tốc độ tăng nhanh, nhưng tỷ
trọng xuất khẩu còn thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành
Nhóm mặt hàng thủy sản đa chế biến bảo quản có tốc độ tăng doanh thu xuất
khẩu lớn nhất trong giai đoạn này, đạt trung bình 54%/năm (từ 19 triệu USD năm
2000 lên 614 triệu USD năm 2008). Mặc dù vậy, hiện tại giá trị xuất khẩu của
nhóm mặt hàng này mới chỉ đứng thứ 3 trong số 4 nhóm mặt hàng thủy sản xuất
khẩu. Cả hai nhóm mặt hàng còn lại là Cá đa sấy khô, ngâm muối hoặc hun khói
và thủy sản khác, tươi, ướp lạnh, đông, khô, ướp muối đều có mức tăng không
đáng kể, chỉ đạt trung bình 5%/năm trong giai đoạn 2000 - 2008.
15
2009, trong đó chỉ có Cá phi lê đông lạnh và Giáp xác đông lạnh là nằm trong
nhóm 5 mặt hàng thủy sản nhập khẩu hàng đầu trên thế giới năm 2009. Xuất khẩu
hai mặt hàng này chiếm tới 64% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm
2009 trong khi chỉ chiếm 26% nhu cầu nhập khẩu trên thế giới. Điều này có nghĩa
là Việt Nam vừa chưa đa dạng hóa được sản phẩm, vừa chưa đạt được tỷ trọng
xuất khẩu hài hòa với nhu cầu nhập khẩu của thế giới.
Cá phi lê đông lạnh đạt mức tăng trưởng trung bình 92% hàng năm trong giai
đoạn 2000 - 2009, từ 3,8 triệu USD năm 2000 lên 1,4 tỷ USD năm 2009. Kể từ
16
năm 2008, nhóm mặt hàng này đa vượt Giáp xác đông lạnh để trở thành nhóm mặt
hàng thủy sản xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam.
Mặt hàng thủy sản (trừ cá) đa chế biến bảo quản có tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu trung bình đạt 49%/năm trong giai đoạn 2000 - 2009 (13 triệu USD năm 2000
lên 457 triệu USD năm 2009), chủ yếu từ nhu cầu của thị trường Nhật Bản và Mỹ cũng là hai thị trường xuất khẩu hàng đầu của nhóm mặt hàng này. Nhóm cá phi lê
tươi, ướp lạnh đứng thứ 3 về tốc độ tăng trưởng, đạt trung bình 21%/năm trong giai
đoạn 2000 - 2009, từ 39 triệu Đô-la Mỹ năm 2000 lên 218 triệu năm 2009. Các thị
trường xuất khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Ý và Nga,
chiếm 53% kim ngạch xuất khẩu năm 2009 của cá phi lê tươi, ướp lạnh.
Đối với nhóm mặt hàng Giáp xác đông lạnh - chủ yếu là tôm đông lạnh - lại
cho thấy dấu hiệu đáng ngại, thể hiện qua giá trị xuất khẩu liên tục giảm từ năm
2007 tới nay, chủ yếu từ hai thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam là Nhật
Bản và Mỹ. Ví dụ, xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm mạnh từ 450 triệu Đô-la Mỹ
năm 2007 xuống còn 292 triệu năm 2009 do bản thân thị trường Mỹ giảm nhập
khẩu các sản phẩm này (Số liệu của Cục Nghề cá biển Quốc gia Mỹ, NMFS). Tình
hình xuất khẩu vào Nhật Bản giảm trong những năm gần đây của Việt Nam cũng
tương tự như của nhiều quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn khác như Indonesia hay
Ấn Độ. Một phần nguyên nhân là từ sự cạnh tranh của Trung Quốc, khi giá trị xuất
khẩu thủy sản vào Nhật Bản của quốc gia này tăng từ 99 triệu Đô-la Mỹ năm 2007
Nam lại đứng ở vị trí rất thấp, chỉ trên Thái Lan. Vị trí thấp của Việt Nam còn đáng
lo ngại hơn khi cả 5 nước so sánh cũng không có mức độ đa dạng hóa sản phẩm
cao (tức là đa dạng hóa sản phảm thấp trong số nhóm nước có mức độ này thấp).
Quốc gia đứng đầu ở chỉ số này là Indonesia cũng chỉ có 3 trên 5 nhóm mặt hàng
xuất khẩu hàng đầu trùng với 5 nhóm mặt hàng có nhu cầu nhập khẩu cao nhất trên
thế giới năm 2009.
Mức độ đa dạng hóa sản phẩm thấp đồng nghĩa với việc Việt Nam dễ bị tổn
thương trước những biến động về giá cả, nhu cầu nhập khẩu và cạnh tranh từ các
quốc gia khác, trong đó, Trung Quốc đang nổi lên là một nhà xuất khẩu thủy sản
hiệu quả với chi phí sản xuất thấp. Điểm chú ý là Trung Quốc cũng tập trung xuất
khẩu Cá phi lê đông lạnh - nhóm mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam - và
ba thị trường xuất khẩu hàng đầu năm 2009 của Trung Quốc là Nhật Bản, Mỹ, và
Hàn Quốc cũng là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Tuy vậy, Trung
Quốc cũng là một cơ hội cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vì đây là thị trường
lớn đang rộng mở và nằm ngay sát chúng ta. Thêm vào đó, Trung Quốc hiện đang
phải đối mặt với ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dịch bệnh và sự quản lý an
ninh sinh học yếu kém. Đây là các điểm yếu mà Việt Nam có thể tận dụng, rút kinh
nghiệm để tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình.
Bên cạnh sự cạnh tranh từ các nước xuất khẩu nhóm mặt hàng tương tự, thủy
sản xuất khẩu của Việt Nam còn phải đối mặt với những hàng rào kỹ thuật nghiêm
ngặt từ các nước nhập khẩu. Ví dụ như khách hàng EU tìm hiểu rất kỹ điều kiện
của các cơ sở chế biến/kinh doanh thủy sản, nguồn gốc sản phẩm (đánh bắt/nuôi ở
vùng nào, cho ăn ra sao, sử dụng thuốc gì, các vấn đề môi trường liên quan, v.v.).
Đến giữa năm 2010, mới chỉ có một vùng nuôi tôm và bốn vùng nuôi cá tra của
Việt Nam đạt tiêu chuẩn Global GAP. Vì vậy, việc cần làm trước mắt của các
doanh nghiệp xuất khẩu là chuẩn bị tốt cho việc chứng nhận quy trình sản xuất an
toàn, đạt tiêu chuẩn Global GAP. Đó cũng là một bước đóng góp vào nâng cao tính
cạnh tranh của thủy sản xuất khẩu nước ta.
2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
hiện nay
nhưng cũng là cơ hội để các doanh nghiệp vương lên tự khẳng định bản lĩnh và
tìm chỗ đứng trên thị trường thủy sản thế giới. Một trong những điều mà doanh
nghiệp mạnh mẽ nhạn thức được là phải nâng cao khả năng cạnh tranh của daonh
nghiệp để có thể tồn tại và phát triển. Nâng cao khả năng cạnh tranh là một quá
trình lâu dài đòi hỏi doanh nghiệp phải cố gắng nỗ lực không ngừng và có những
phương pháp thích hợp.
b)Các phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
*Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm
19
Về nguyên tắc, sản phẩm chỉ có thể tồn tại trên thị trường khi có cầu về sản
phẩm đó. Muốn sản phẩm tiêu thụ được, doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường
để đưa ra những sản phẩm mà người tiêu dùng ưa chuộng.
Thứ nhất, ngày nay các sản phẩm nói chung có vòng đời tương đối ngắn, kể cả
các vật phẩm tiêu dùng lâu bền như các đồ dùng gỗ, điện tử, phương tiện đi lại…
Người tiêu dùng luôn đòi hỏi sản phẩm phải có thêm nhiều chức năng mới, hình
dáng, mẫu mã đẹp hơn và thay đổi theo thị hiếu, mức thu nhập, điều kiện sống…
Do đó, doanh nghiệp phải có sản phẩm mới để cung cấp, cũng như phải thường
xuyên cải tiến sản phẩm cũ cho phù hợp với yêu cầu mới của người tiêu dùng. Để
làm được, doanh nghiệp phải chi phí nhiều tiền của, thời gian và công sức để nắm
bắt xu hướng thay đổi nhu cầu của thị trường. Công đoạn này trong doanh nghiệp
thường được gọi là giai đoạn thiết kế và nó cũng góp phần tạo ra nhiều giá trị gia
tăng cho doanh nghiệp. Ngày nay, ở các nước lạc hậu, khả năng thiết kế còn ở trình
độ thấp, các doanh nghiệp có thể mua, thuê bản quyền thiết kế của các doanh
nghiệp tiên tiến hơn theo các hình thức chuyển giao công nghệ hoặc gia công. Để
góp phần tạo nên sức cạnh tranh cho sản phẩm, việc mua bản quyền thiết kế có lợi
hơn thuê, nhất là khi doanh nghiệp có khả năng cải tiến thiết kế đó để mang lại bản
sắc riêng có của doanh nghiệp. Những sáng tạo thêm sẽ tạo cho sản phẩm của
doanh nghiệp một thị trường độc quyền nhờ tính khác biệt của sản phẩm.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào sức
cạnh tranh của sản phẩm. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao hơn,
giá cả thấp hơn, dịch vụ bán hàng tiện lợi hơn so với các đối thủ khác thì doanh
nghiệp sẽ giành được thị phần xứng đáng. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, khách
hàng có thể thích mua hàng hóa ở cửa hàng gần nhà, thích tiêu dùng sản phẩm mà
họ đã trải nghiệm là phù hợp, tiêu dùng loại sản phẩm mà họ hiểu biết nhiều, hoặc
ưu tiên mua hàng ở các cửa hàng sang trọng… Để tiêu thụ hết số lượng sản phẩm
tối ưu của mình, các doanh nghiệp phải tìm cách tận dụng các sở thích tiêu dùng
của khách hàng thông qua hoạt động chiếm lĩnh các điểm bán hàng tối ưu, thông
qua quảng cáo sản phẩm đến nhiều người tiêu dùng nhất, giới thiệu sản phẩm để
khách hàng dùng thử, đa dạng hóa chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm và chi phí
bán hàng để tận dụng hết các phân đoạn thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp còn kết
hợp với các doanh nghiệp khác thông qua hệ thống đại lý, liên doanh, mở chi
nhánh, văn phòng đại diện ở những nơi có nhu cầu để mở rộng tối đa thị phần cho
sản phẩm của mình.
* Tăng năng lực của doanh nghiệp trên các phương diện tài chính, công nghệ,
nhân lực, quản lý
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp do chính sức mạnh về tài chính, công nghệ,
nhân lực và khả năng quyết sách đúng, linh hoạt của doanh nghiệp quy định. Ngày
nay, sức mạnh tài chính của doanh nghiệp không chỉ do tiềm lực tài chính của chủ
sở hữu doanh nghiệp quy định mà ở mức độ lớn hơn, do uy tín của doanh nghiệp
đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng quy định. Nếu có uy tín, doanh nghiệp có
thể tìm kiếm các nguồn tài chính lớn tài trợ cho các dự án hiệu quả của mình. Nếu
không có uy tín, để vay được vốn, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện khắt
khe, hoặc huy động được ít, hoặc lãi suất huy động cao. Trên thị trường tài chính,
uy tín của doanh nghiệp do quy mô tài sản, do truyền thống làm ăn đứng đắn và
hiệu quả, do các quan hệ đối tác lành mạnh… quy định. Để nâng cao năng lực cạnh
21
của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Thuỷ sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chiếm
khoảng 11% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước với tốc độ tăng trưởng bình
quân giai đoạn 1997-2001 là 25%. Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt
1.760 triệu USD. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu đây là một trong những
22
mặt hàng có khả năng cạnh tranh của Việt Nam hiện tại cũng như trong những năm
tới. Theo dự báo của Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sẽ đạt 2500 triệu USD năm 2005 và 3.500 triệu USD vào năm 2010. Các doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua cuả Việt Nam đang từng bước thực
hiện các biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình nói
riêng và ngành thủy sản Việt Nam nói chung để có thể đứng vững trên thị trường
quốc tế.
a) Nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong
chế biến thủy sản
Trong những năm qua, để đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh và an toàn thực phẩm
hải sản, ngành thuỷ sản đã áp dụng nhiều biện pháp để tăng sản lượng thuỷ sản
xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trước năm 1994, Việt Nam chỉ đạt không quá
1,5% hàng thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường EU. Đến nay Việt Nam đã lần lượt
vượt qua 3 rào cản của EU. EU cũng đã công nhận Việt Nam đảm bảo độ tin cậy
trong kiểm soát dư lượng đối với thuỷ sản nuôi (Quyết định 159-2/2000). Ngoài ra
thuỷ sản của Việt Nam cũng được các thị trường khó tính khác như Nhật Bản, Hoa
Kỳ, Australia chấp nhận. Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng việc xuất khẩu hải sản
của Việt Nam cũng đang gặp phải những khó khăn liên quan đến việc đáp ứng các
yêu cầu về về sinh an toàn thực phẩm (VSATTP).
Theo báo cáo của Bộ Thuỷ sản, đến nay mới chỉ có 78/264 cơ sở chế biến thuỷ
sản được Bộ Thuỷ sản công nhận đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện đảm bảo
VSATTP, bao gồm các loại hình chế biến thuỷ sản đông lạnh, chế biến thuỷ sản
liệu trước khi đưa vào chế biến, sau đó kiểm tra lại sản phẩm trước khi đưa ra thị
trường. Bằng cách này mỗi tháng Hải Thuận xuất khẩu 60 tấn hàng bạch tuộc đông
lạnh sang Nhật Bản (mặc dù chi phí tốn kém).
b)Tái cấu trúc doanh nghiệp để ứng phó với khó khăn
Khó khăn của doanh nghiệp là thiếu nguyên liệu, thiếu vốn, chi phí đầu vào
tăng, thị trường xuất khẩu giảm, khả năng cạnh tranh sản phẩm thấp… Ông Trần
Thiện Hải, Chủ tịch VASEP cho rằng, đây là những khó khăn không mới, nhưng
đang tăng đến mức độ trầm trọng. Thống kê từ hiệp hội các doanh nghiệp chế biến
và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, có đến 40% doanh nghiệp chế
biến, kinh doanh thủy sản đang ngưng hoạt động; chỉ trong quý I/2012, từ 800
doanh nghiệp chỉ còn khoảng 470 doanh nghiệp hoạt động. Tuy vậy, trong khó
khăn như trên vẫn có không ít daonh nghiệp hoạt động sản xuất - kinh doanh hiệu
quả, đang vượt khó nhờ đã tự tái cấu trúc lại hoạt động, như tự đầu tư vùng nuôi,
cơ cấu lại chiến lược thị trường, cơ cấu lại sản phẩm, thay dổi phương thức quản
trị… Đã có đến ½ oanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra xây dựng được vùng nuôi
cá tra riêng, doanh nghiệp chế biến tôm xuất khẩu đã có diện tích tự nuôi trồng tôm
hay liên kết với nông dân đạt đến hàng ngàn ha và số lượng ngày càng tăng. Cũng
đã có doanh nghiệp tự xây dựng nguồn nguyên liệu đầu vào qua việc đầu tư vào
đội tàu đánh bắt xa bờ… VASEP cho biết, nhờ đã tái cơ cấu kịp thời nên 20 doanh
nghiệp tôm lớn chiếm 67% kim ngạch xuất khẩu tôm cả nước đang trong tình trạng
ổn định. Những tên tuổi đang tích cực vượt khó hiệu quả là Vĩnh Hoàn, Hùng
Vương… Họ tái cấu trúc lại vì quyền lợi của chính mình, không vì thành tích.
Trong chuyến khảo sát thủy sản vùng ĐBSCL mới đây, bà Nguyễn Thị Hồng
Minh, Chủ tịch Danh dự của VASEP cũng cho rằng, đang có rất nhiều doanh
24
nghiệp thủy sản trong khu vực đang trong quá trình sắp xếp lại hoạt động để thích
nghi với tình hình mới và có hoạt động ổn định.
c) Nâng cao giá trị gia tăng cho thủy sản xuất khẩu
xuất khẩu thủy sản
25