Xác định điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn của các vùng kinh tế - Pdf 34

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
____________

*&*____________

Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ
Cấp nhà nước KC 07.17

NGHIÊN CỨU LUẬN CỨ KHOA HỌC ĐỂ CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ
Đề tài nhánh 3 :
XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CCKTNN VÀ NT CỦA CÁC VÙNG
KINH TẾ

Hợp phần 2 :
NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ CỦA VÙNG TÂY NGUYÊN
TẠI TỈNH ĐĂK LĂK

Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ:

Văn Điển - Thanh Trì - Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài:

TS. Lê Quốc Doanh

Thực hiện: ThS. Vũ Nguyên; KS. Nguyễn Tố Anh


trường tự do cho nên có những giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng
có so với vài chục năm trở lại đây. Tình trạng này dẫn đến hậu quả là
nhiều nước phải huỷ bỏ bớt diện tích cà phê, hoặc không tiếp tục chăm
sóc vì kinh doanh không còn thấy có hiệu quả.
Giá cà phê hiện nay giảm chỉ bằng 50% giá cà phê của thập kỷ
1980 do cung vẫn vượt cầu khá xa, làm cho 25 triệu hộ nông dân trồng cà
2


phê lâm vào cảnh bần hàn. Nhiều hộ gia đình vay tiền ngân hàng đầu tư
cho cà phê đã bị phá sản do bán cà phê thấp hơn giá thành. Xuất khẩu cà
phê toàn cầu năm 2002 đạt 87,09 triệu bao, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt
5,09 tỷ USD. Doanh thu hàng năm của việc kinh doanh mặt hàng cà phê
tăng lên gần 80 tỷ USD, nhưng các nước sản xuất cà phê chỉ thu được 5,5
tỷ USD, bằng 8,58% tổng doanh thu và phê thế giới, số còn lại thuộc về
các nước nhập khẩu chế biến, buôn bán cà phê.
2. XU HƯỚNG TIÊU THỤ CÀ PHÊ.
Trong các giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết tình trạng khó
khăn này người ta cũng nói nhiều tới việc khuyến khích tiêu dùng trên
toàn cầu. Tuy nhiên, điều này có vẻ khó thực thi, thể hiện ở con số tăng
trưởng tiêu thụ cà phê hàng năm trong mấy năm gần đây khá chậm chạp,
chưa có bước đột phá đáng kể nào, mặc dù ICO rất nỗ lực trong việc thúc
đẩy tốc độ tăng tiêu dùng cà phê cộng thêm thuận lợi là mức giá hiện
đang rất thấp .Từ năm 1992 đến năm 2000 tiêu thụ chỉ tăng có 2,35%. Vụ
2001/02 ước tính tổng tiêu thụ cà phê sẽ đạt khoảng 105,6 triệu bao, tăng
1,1 triệu bao so với vụ trước.
Bảng 1: Tiêu thụ tại các nước sản xuất.

Nước
Braxin

1667

1610

1633

Mêhicô

1500

1280

1250

1000

Côlômbia

1400

1400

1400

1600

Việt Nam

583



đồng nhất. Tuy nhiên qua bảng trên ta cũng có thể thấy sự tăng trưởng
khá đều trong những năm gần đây.
Braxin cũng như một số quốc gia sản xuất hàng đầu khác, đã bắt
đầu nhận thức được những thuận lợi trong việc đẩy mạnh tiêu dùng cà
phê trong nước và hiện đang khá tích cực khuyến khích điều này. Braxin
không chỉ là nước sản xuất cà phê đứng đầu thế giới mà còn được xếp thứ
hai sau Mỹ trong việc tiêu thụ cà phê. Hiện nay Braxin tiêu thụ trên 13
triệu bao mỗi năm, chiếm khoảng 40% sản lượng trung bình của nước
này. Nếu tính theo đầu người, trung bình mỗi người Braxin uống 4,9 kg
cà phê/năm, trong khi ở Côlômbia là 1,9 kg, còn ở Việt Nam con số này
quá nhỏ để có thể tính chính xác. Ngành cà phê Braxin đã đặt mục tiêu
đưa lượng tiêu thụ nội địa lên 1,5 triệu bao mỗi năm thông qua các
chương trình quảng cáo và khuyến mãi, đẩy con số bình quân đầu người
lên 5,3 kg.
Các nước sản xuất cà phê Trung và Nam Mỹ cũng đã nhận biết
được lợi ích của việc sản xuất cà phê chất lượng cao để cung cấp cho thị
trường cà phê đặc sản mới nổi lên. Ví dụ như Côlômbia dự định tăng gấp
đôi lượngcà phê hảo hạng trong vòng 5 năm tới đây. Hiện nay, cà phê hảo
hạng mới chiếm 10% tổng lượng xuất khẩu của nước này.
Còn ở những nước Trung Mỹ có tiềm lực tài chính đủ mạnh, người
ta đầu tư nhiều vào đa dạng hoá mặt hàng cà phê hữu cơ đặc biệt bởi xu
hướng này cũng đang phát triển khá mạnh.
Ở Ấn Độ, tiêu thụ cà phê trong thập kỷ vừa qua gần như không có
chuyển biến nhiều, giữ ở mức 0,92 đến 1 triệu bao mỗi năm, trong đó
80% ở các thị trấn lớn ở vùng trồng cà phê phía nam. Ở các khu vực
khác, người ta rất ít uống cà phê. Đối thủ chính của cà phê ở các vùng
này là trà và các loại đồ uống lạnh. Người dân phía bắc lại có vẻ thích cà
phê nhập khẩu hơn nhưng như vậy giá cả lại khá đắt và vượt quá khả
năng của một số khách hàng tiềm năng. Ấn Độ là một trong những nước

19500

19400

18700

19100

EU

34800

34600

34400

34400

Nhật
7000
Tổng ở các nước
78600
NK
Nguồn: www.vicofa.org.vn

6900

6800

6500

phê ngày càng được coi là thời thượng ở Nga, nhu cầu tăng lên khá rõ rệt.
Tuy nhiên các công ty trong nước chi chiếm 15% thị phần, 85% còn lại
thuộc về các tập đoàn lớn như Nestle. Năm 2001 nước này đã nhập 21400
tấn cà phê, tăng 5,4 lần so với năm 2000. ICO cho biết tiêu thụ tại thị
trường này sẽ tăng 19% mỗi năm. Cà phê hoà tan hiện nay khá được ưa
chuộng tại Nga và ngày càng nhiều công ty trong nước tham gia vào sản
xuất loại sản phẩm này. Cà phê được nhập khẩu thâm nhập vào thị trường
thông qua việc đẩy mạnh sản xuất và thiết lập các nhà máy đóng gói và
các cơ sở phân phối. Tuy Nga là nước có truyền thống uống trà, mặc dù
nhập khẩu chè vẫn không mấy thay đổi, nhập khẩu cà phê vẫn tăng khá
đều.
Theo ICO, Trung Quốc cũng là nước mục tiêu của ICO bên
cạnh Nga, mỗi năm tiêu tụ tăng tới 30%. Tuy nhiên đây chỉ là bước nhảy
vọt từ con số ban đầu quá nhỏ bé do văn hoá trà đã ăn sâu vào tiềm thức
người dân, mọi ý định thay đổi đều gặp những phản kháng khá mạnh.
Các quán bar đã được đưa vào, chủ yếu đặt tại Bắc Kinh và Thượng Hải.
Bảng 3: Tổng tiêu thụ toàn cầu.

Nhóm

2001/02

2000/01

Đơn vị: Triệu bao
1999/00
1998/99

Nước NK


đợi và không có hành động tích cực nào để đẩy mạnh, e rằng tốc độ tăng
chắc chắn sẽ còn chậm chạp chẳng khác gì những năm vừa qua. Và nếu
cứ giữ mức tăng chưa đầy 5% mỗi năm hiện nay có lẽ tới vụ 2005/26
chúng ta mới hy vọng tổng lượng tiêu thụ đạt mức 110 triệu bao.

6


3. THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA CÀ PHÊ VIỆT NAM.
Tuy sản lượng bắt đầu giảm, Việt Nam vẫn là nước sản xuất cà phê
lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Braxin, đồng thời ở Việt Nam cà phê cũng là
mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị lớn đứng thứ hai sau gạo. Giá trị
cà phê xuất khẩu thường chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng
năm. Vụ 2000/01 Việt nam đã xuất cà phê đi 61 nước, trong đó 10 nước
nhập khẩu cà phê đứng đầu gồm:
Bảng 4: 10 nước nhập khẩu hàng đầu của ngành cà phê Việt Nam
ST
T
1

Bỉ

Số lượng
(tấn)
138603

Trị giá
(USD)
57947984


Đức
Tây Ban
Nha
Ý

62559

27796789

7,15

6

Pháp

45998

20147381

5,26

7

Ba Lan

38155

17171839

4,36

4

Tên nước

Trong vụ 2001/02 dù tình hình giá cả biến động không lợi cho
chúng ta nhưng thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam không những không
giảm mà còn tăng lên từ 61 lên 64 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên
về lượng tiêu thụ của từng nước có những thay đổi lớn. Đức lại nổi lên là
khách hàng số 1 của Việt Nam với 112739 tấn, Mỹ nhập cà phê Việt Nam
ít đi ở vị trí thứ hai với số lượng nhỏ đi nhiều là 89288 tấn.
Vụ 2000/01 có 15 nước hàng đầu nhập trên 10000 tấn tổng cộng đã
nhập 785086 tấn chiếm 89,75% thị phần. Vụ 2001/02 này cũng có 15
nước hàng đầu nhập trên 10000 tấn tổng cộng đã nhập 614275 tấn chiếm
86,06% thị phần (624275 tấn). Và danh sách 15 nước này qua hai vụ chỉ
thay đổi 1 nước còn 14 nước giữ nguyên nhưng có thay đổi vị trí. 14 nước
7


đó là: Đức, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc,
Anh, Philippines, Hà Lan, Úc, Hungari. Nước thứ 15 ở vụ 2000/01 là
Canada và ở vụ sau là Romania. Trung Quốc cũng là một khách hàng khá
ổn định nhiều năm, Ấn Độ và Indonesia là hai nước sản xuất cà phê vào
hàng lớn ở châu Á nhưng hàng năm vẫn mua cà phê của ta. Riêng thị
trường Nga thì chúng ta chưa bán được nhiều, mỗi năm chỉ vài trăm tấn.
4. TÁC ĐỘNG CỦA THẾ GIỚI.
Năm 1994 do những đợt sương muối và sau đó là hạn hán diễn ra ở
Braxin (nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới) vì vậy đã làm cho sản
lượng cà phê của nước này giảm xuống gần 50%, do đó đã góp phần làm
cho giá cà phê tăng vọt, có lợi cho những người trồng và xuất khẩu cà phê
trên thế giới.

2000 xuống 700000 tấn trong năm 2001.
Xem xét diễn biến của tình hình xuất khẩu cà phê ở Việt Nam qua
các vụ từ 1995/96 đến 2000/01 có thể thấy sự tăng trưởng nhanh chóng
về lượng xuất khẩu cùng với sự giảm sút nhanh chóng về giá cả:
Bảng 5:

Lượng xuất khẩu và đơn giá bình quân.

Niên vụ

Xuất (tấn)

1994/95

212038

Đơn giá bình quân
(USD/tấn)
2633

1995/96

221496

1815

1996/97

336242


vụ này cũng thấp thảm hại, giá vụ sau chỉ bằng xấp xỉ 60% giá vụ trước.
Tình hình này đem lại cho những người trồng cà phê và các doanh nghiệp
xuất khẩu nhiều khó khăn, nếu kéo dài thì chắc chắn sẽ không chịu đựng
nổi. Kết quả tất yếu dẫn đến là nông dân bỏ không chăm sóc vì hết khả
năng đầu tư và cũng không thu hái sản phẩm để vườn cây suy thoái dần,
thậm chí còn chặt bỏ cà phê để trồng cây khác.
Do sản lượng cà phê tăng nhiều, giá cà phê xuống thấp nên việc
xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn và đã phát sinh nhiều tranh chấp về hợp
đồng, bị khách hàng phàn nàn, kiện cáo. Tổ chức cà phê thế giới (ICO) đã
khuyến cáo các nước sản xuất cà phê giảm sản lượng, đưa ra những tiêu
9


chuẩn khắt khe về cà phê xuất khẩu, huỷ cà phê xấu, không xuất khẩu cà
phê vối có trên 150 lỗi/300 gam, cà phê chè có trên 86 lỗi, cà phê nhân có
thuỷ phần trên 12,5%,.... Nhưng đây cũng lại là một vấn đề: nhiều doanh
nghiệp xuất khẩu cà phê đều thừa nhận việc nâng cao chất lượng cà phê
là yêu cầu bức thiết nhưng loại cà phê chất lượng cao vẫn chưa có đầu ra
ổn định. Cái khó nữa của nhà sản xuất là chi phí đầu tư để sản xuất loại
sản phẩm chất lượng cao thường tốn thêm 30-40 USD/tấn (gồm chi phí
vận chuyển đến nhà máy, giảm tạp chất, giảm hạt vỡ,...) nhưng các nhà
xuất khẩu chỉ chấp nhận mức chênh lệch so với loại cà phê thường
khoảng 20 USD/tấn.
Trước tình hình khó khăn của ngành cà phê, từ năm 2000
đến nay Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp tích
cực, kể cả biện pháp tài chính huy động ngân sách nhà nước để giúp đỡ
nông dân cũng như các doanh nghiệp qua khỏi khó khăn như:
- Quyết định 116/2000/QĐ/BNN-KH ngày 15-11-2000 về việc ban
hành Quy chế tạm trữ và quản lý lượng cà phê tạm trữ.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Về việc thưởng theo kim

hướng là một vấn đề cần phải làm ngay đối với ngành cà phê Việt Nam.
Cuộc khủng hoảng dư thừa cà phê hiện nay đã tác động rất xấu đến
ngành cà phê Việt Nam. Nhưng cũng có thể nói là bên cạnh những mặt
xấu đó cũng có mặt tốt là chính trong khó khăn này những người làm cà
phê mới thấy rõ những thiếu sót tồn tại của mình và từ đó chọn cho mình
hướng đi đúng đắn hơn.
B. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TRONG NƯỚC.
1. TÌNH HÌNH CHUNG CẢ NƯỚC
Nước Việt nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán cầu, trải dài
theo phương kinh tuyến từ 8030’ đến 23030’ vĩ độ Bắc. Điều kiện khí hậu
và địa lý rất thích hợp với việc phát triển cà phê. Miền địa lý khí hậu phía
Nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta.
Miền khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với
cà phê Arabica.
Cách đây 25 năm, vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra, chủ yếu
là tại địa bàn hai tỉnh Đak Lak và Gia Lai Kontum ở Tây Nguyên. Vào
thời gian này cả nước mới chỉ có không đầy 20000 ha phát triển kém,
năng suất thấp với sản lượng chỉ khoảng 4000 – 5000 tấn.
• Trong vòng 15-20 năm trở lại đây ngành cà phê nước ta đã có
những bước phát triển nhanh vượt bậc, sản lượng cà phê cả nước
tăng lên hàng trăm lần. đến nay đã có hơn 500000 ha, hầu hết sinh
trưởng khoẻ, năng suất cao, tổng sản lượng đạt tới 900000 tấn.
Diện tích cà phê ở Việt Nam bắt đầu tăng nhanh vào nửa cuối thập
kỷ 80 của thế kỷ 20. Nguyên nhân dẫn đến những thành tựu đó
trước hết là nhờ chính sách đổi mới của Nhà nước phù hợp với
11


nguyện vọng của nông dân là làm giàu trên mảnh đất của mình dựa
vào sự cần cù lao động của bản thân mình. Về nguyên nhân khách

1994/95

215000

211920

1995/96

295000

236280

1996/97

350000

342300

1997/98

410000

413580

1998/99

460000

404206


cả cây bông, ngô...
• Giảm đầu tư do thiếu vốn, bón ít phân, tưới không đủ nước,...
Với tổng diện tich đạt trên 500000 ha và sản lượng 10 triệu bao
mỗi năm, cà phê hiện nay được xếp thứ hai sau gạo trong danh mục hàng
nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Để đạt được sản lượng cao như vây,
ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút khoảng 300000 hộ gia đình, với
trên 600000 lao động, đặc biệt vào 3 tháng thu hoạch, con số này có thể
lên tới 700000 hoặc 800000. Như vậy, số lao động của ngành cà phê đã
đạt tới 1,83% tổng lao động trên toàn quốc nói chung và 2,93% tổng số
lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng. Ngoài ra còn có khoảng trên
một triệu người có cuộc sống quan hệ với ngành sản xuất cà phê.
Chính vì vậy, thu hẹp diện tích sản xuất là chính sách ảnh hưởng
mạnh nhất đối với ngành và người trồng cà phê trong thời điểm hiện nay.
Cùng với việc thu hẹp diện tích trồng cà phê, chính sách đa dạng hoá sản
xuất đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hoá thu nhập, tránh tình
trạng phụ thuộc vào một loại cây trồng.
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐAK LAK.
Với điều kiện tự nhiên ưu đãi và có khoảng 200000 hộ gia đình
tham gia trồng cà phê, Đăk Lăk là tỉnh sản xuất cà phê chính của Việt
Nam, đóng góp 53% sản lượng và 50% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả
nước. Đối với tỉnh Đak Lak cà phê có giá trị xuất khẩu chiếm 85 – 90%
kim ngạch xuất khẩu và 45 – 50% giá trị GDP. Diện tích cà phê tăng từ
153050 ha (1996) lên 173200 ha (1999). Do thị trường cà phê có giá, cà
phê trở thành nguồn thu nhập lớn nhất đối với người dân địa phương, nên
diện tích cà phê đã tăng đột biến, không theo quy hoạch và các cơ quan
chức năng của địa phương cũng không thể kiểm soát nổi. Tại các địa
phương đồng bào đã phá rừng trồng cà phê, thậm chí họ còn phá cao su
để trồng cà phê và trồng cà phê trên những diện tích đất không có khả
năng tưới và không đảm bảo độ sâu tầng đất. Diện tích cà phê của các
huyện: Đăk Mil, Đăk Nông, Đăk R’Lấp do dân di cư tự do vào phá rừng

22,00
21,23
suất
Sản
154596 159630
lượng
Nguồn: www.vicofa.org.vn

1997

1998

1999

Tăng
BQ
(%)

165000

169620

173200

105,72

87939

101667


án 5000 ha cà phê chè là rất khó vì không còn đủ đất và nông dân chưa

14


yên tâm với cây cà phê chè Catimor do thời vụ thu hoạch trùng vào thời
điểm mưa lớn tập trung tại các khu vực này.
Trong tổng diện tích cà phê có khoảng 110000 ha cà phê kinh
doanh. Năng suất cà phê từ những năm trước 1990 chỉ xấp xỉ 8 – 9 tạ
nhân/ha, từ năm 1991 trở lại đây, các doanh nghiệp thực hiện cơ chế
khoán vườn cây cho người lao động, gắn lợi ích của người lao động với
kết quả lao động của họ, người lao động nhận khoán đã coi vườn cà phê
là của mình, tích cực đầu tư và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
chăm sóc vườn cà phê, vì thế mà năng suất cà phê tăng nhanh: 11,69 tạ/ha
(1992); 18,4 tạ/ha (1994); 24,32 tạ/ha (1997) và 23,64 tạ/ha (1999) trên
diện tích 110000 ha kinh doanh. Đặc biệt đã có gia đình đạt năng suất 50
– 60 tạ/ha. Nhưng đối với những hộ nghèo không đủ khả năng để tiếp cận
và áp dụng kỹ thuật mới thì năng suất thấp hơn nhiều. Hầu hết nông dân
đều trồng cà phê theo phương pháp truyền thống, không có điều kiện tiếp
cận nên cũng không áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăm sóc cà phê, do đó
các vườn cà phê của họ thường cho năng suất thấp. Nói chung không có
sự khác nhau nhiều về năng suất giữa các hộ trồng cà phê trong một khu
vực nhưng có sự khác nhau lớn về năng suất giữa các vùng sinh thái.
Sản lượng cà phê tăng nhanh từ 130000 tấn (1996) lên 246400 tấn
(1998) và 260000 tấn năm 1999. Năm 1998 sản lượng cà phê xuất khẩu
198000 tấn, góp phần thực hiện kim ngạch xuất khẩu 316,47 triệu USD,
năm 1999 lượng cà phê xuất khẩu 239540 tán cà phê nhân, trị giá xuất
khẩu đạt 306 triệu USD.
Sự rớt giá của cà phê xuất khẩu dẫn đến giảm giá bán cà phê của
nông dân. Ở Đak Lak, giá cà phê nhân khô loại R1 giảm từ 11500

Dao động giá cùng một loại sản phẩm giữa các tác nhân tham gia
thị trường không cao, khoảng 100 đ/kg. Chênh lệch cao chủ yếu từ khả
năng chế biến của các tác nhân tham gia thị trường.
Như vậy, trong kênh phân phối, người trồng cà phê là người chịu
nhiều thiệt thòi nhất, lợi nhuận dành cho họ thấp nhất và họ là người chịu
nhiều rủi ro nhất. Người tiêu thụ không được lợi gì khi giá cà phê xuống
thấp do giá cà phê chế biến không thay đổi, do đó lợi nhuận tập trung
nhiều nhất vào những người chế biến, rang xay.
Trong các doanh nghiệp và chủ hộ kinh doanh cà phê: các nông
trường quốc doanh hiện nay luôn bị lỗ do mức khoán ở các nông trường
quốc doanh hiện nay không hợp lý, cần phải có một văn bản cho phép
điều chỉnh vì: lúc bắt đầu thực hiện khoán là những năm 1990, 1991,
1992 thì mức khoán là hợp lý vì lúc đó nông trường không có vốn và vật
tư, vườn cây thì xuống cấp nghiêm trọng. Nhưng sau 5, 6 vụ cà phê được
16


giá, được mùa, người nhận khoán được lớn còn nông trường thì thua thiệt
vì giá thành cao hơn giá bán, nông trường bị lỗ nghiêm trọng do vướng
các văn bản Nhà nước về khoán trước đây, không thể tự điều chỉnh mức
khoán.
Nông dân trồng cà phê cũng có hai loại: Những người mới vào
kinh doanh khi cà phê được giá thì mất nhiều hơn được. Còn nông dân có
vườn cây ổn định từ trước thì vẫn có hiệu quả dù rằng thấp hoặc ít nhất
cũng không bị lỗ.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng có nhiều trường hợp bị lỗ vốn do
thiếu thông tin về thị trường, và quan trọng hơn là do không có khả năng
phân tích thông tin để dự đoán diễn biến giá cả, không dự báo được nhu
cầu nên ký hợp đồng giao kỳ hạn quá dài và chốt giá không đúng thời
điểm, định giá khi giá thấp và phải giao hàng khi giá cao. Thực ra đây là

Đại lý
của công

93%

Tổ thu
mua

Đại lý tư
nhân

Cơ sở
thu gom

ty
Xưởng chế
biến

Trạm kinh
doanh cà phê

CÔNG TY

6%

94%

CHẾ
biến


trường quốc tế, đó cũng là bước quyết định nâng cao lợi tức của người
sản xuất và kinh doanh cà phê.
Vùng cà phê Tây Nguyên đã hình thành khu chế biến công nghiệp
với khoảng trên 63 nhà máy và 500 cơ sở chế biến tư nhân. Tổng cộng
công suất đạt trên 300000 tấn sản phẩm / năm.
Khoảng 80% sản lượng cà phê được chế biến tại các hộ gia đình
nông dân bằng những thiết bị nhỏ, tự chế, lạc hậu, sân phơi bằng nhiều
loại vật liệu khác nhau, thậm chí phơi cà phê trên sân đất, cà phê lẫn
nhiều tạp chất.
Các hộ tự chế biến cà phê chỉ sử dụng phương pháp chế biến khô.
Phương pháp này rất đơn giản, chỉ là phơi khô quả tươi rồi sau đó xát bỏ
vỏ khô bằng máy xay xát nhỏ để có được cà phê nhân và bán cho các cơ
sở thu gom. Phương pháp này có chi phí thấp (khoảng 100000 đồng/tấn),
dễ làm nhưng sản xuất không ổn định vì phụ thuộc vào thời tiết và cho
chất lượng sản phẩm thấp và không đồng đều vì thời gian phơi khô càng
lâu thì chất lượng cà phê càng giảm. Tỷ lệ hạt bị đen do bị lên men nhiều.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê thường phải chế biến lại loại cà phê
này với chi phí khoảng 48000 đồng/tấn. Ở Đak Lak, cà phê của các công
ty, nông trường sản xuất ra thường có chất lượng tốt, mặt hàng đẹp, được
19


khách hàng đánh giá cao, gồm có cà phê của các công ty Thắng Lợi,
Phước An, các công ty Việt Đức, Buôn Hồ, Đ’Rao....
Nhìn chung lâu nay việc mua bán cà phê không theo tiêu chuẩn nhà
nước, việc quy định chất lượng trong các hợp đồng mua bán còn giản đơn
và mang tính chất thoả thuận giữa người mua và người bán nên chưa tạo
thành sức ép thúc đẩy việc cải tiến công nghiệp chế biến nâng cao chất
lượng cà phê.
Hiện nay, sản lượng cà phê Việt Nam vẫn chủ yếu là Rubusta với

Hầu hết người trồng cà phê bán hạt khô của họ cho các cơ sở thu
gom, các đại lý. Các cơ sở này sử dụng xe công nông hoặc xe tải của họ
để vận chuyển cà phê, các loại xe này chỉ vận chuyển được cà phê trên
những con đường khá tốt, còn lại là các hình thức vận chuyển khác làm
tăng chi phí vận chuyển khá nhiều, đặc biệt là trong mùa mưa. 44%
doanh nghiệp cho rằng đường giao thông xấu là trở ngại lớn nhất và đó là
lý do để họ phải sử dụng phương tiện nhỏ hơn và đơn giản hơn.
Bảng 8: Chi phí vận chuyển cà phê.
Phương
tiện

Mục đích

Khoảng
cách trung
bình (km)

Ô tô

Mua cà phê

14

Đơn vị chi
Tồng chi
phí
phí
(đồng/tấn/km
(đồng/km)
)

21


Sơ đồ quy trình chế biến cà phê
Nguyên liệu quả
tươi
Phương pháp
ướt

Phương pháp khô

Thu nhận nguyên liệu (quả chín)

Thu nhận nguyên liệu (quả tươi)

Phân loại trong bể xi phông

Phơi hoặc sấy cà phê
quả

Sát tươi
Phân loại theo trọng lượng
Ngâm lên men
Rửa sạch
Làm ráo nước
Phơi hoặc sấy
Cà phê thóc khô

Cà phê quả khô


khác
loại
0

Loại 2

2

1

0

3

Độ
ẩm

Cỡ hạt

13

90% trên sàng 6,3 mm

13

80% trên sàng 5,6 mm

Loại 3
5
2

quả nghiên cứu cho thấy, nếu Việt Nam giảm 33% sản lượng cà phê thì
giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ đạt mức 1245 USD/tấn. Như
vậy Đak Lak phải giảm hàng chục nghìn ha, bởi sản lượng của tỉnh này
hiện đang chiếm trên 50% tổng sản lượng cà phê cả nước.
Việc giảm diện tích, sản lượng cần được tính toán kỹ trên cơ sở
nghiên cứu, đánh giá các điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên cũng như
yêu cầu sinh học của các cơ cấu cây trồng khác, nhằm xác định diện tích
và khu vực cần điều chỉnh, loại cây thay thế, đồng thời tăng năng suất,
chất lượng ở những vùng thích hợp mức độ tối ưu.
Tăng năng suất còn là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam nói chung và của Đak
Lak nói riêng.
Hiện nay, năng suất trung bình trên địa bàn tỉnh Đak Lak ở mức
2,45 tấn/ha. Nếu năng suất cà phê tăng trung bình 42,8% so với mức năng
suất trung bình hiện nay thì sức cạnh tranh của mặt hàng nông sản này sẽ
lớn hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu năng suất cà phê tăng khoảng
25% do áp dụng giống mới và chăm sóc đúng kỹ thuật thì lợi nhuận trên
1 ha tại hộ gia đình sẽ tăng khoảng 35%, giá thành trên 1 ha tại hộ gia
đình giảm khoảng 20%.
Đặc biệt, việc tăng cạnh tranh của sản phẩm còn phụ thuộc vào chi
phí cho khâu thuỷ lợi. Hiện chi phí thuỷ lợi cho tưới cà phê đang chiếm
tới 27% chi phí sản xuất. Cần áp dụng các biện pháp tưới tiên tiến như
tưới phun, tưới giọt, tưới ngầm để giảm số giờ tưới, tăng hiệu quả kinh tế.
24


Nếu số giờ tưới giảm được 5% thì lợi nhuận sẽ tăng thêm 1% và
giá thành giảm khoảng 0,13%.
Biện pháp cải thiện dịch vụ tín dụng và dịch vụ khuyến nông được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status