Nghi lễ chuyển đổi của người hoa triều châu ở nam bộ - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________

NGUYỄN CÔNG HOAN

NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CỦA
NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU Ở NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
)

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_____________________

NGUYỄN CÔNG HOAN

NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CỦA
NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU Ở NAM BỘ

Chuyên ngành: DÂN TỘC HỌC
Mã số:
62.22.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ
)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1.2.4. Tổ chức xã hội….………………………………………..................................46
1.2.5. Đời sống văn hoá vật chất và tinh thần ………………………....……………48
CHƯƠNG 2: NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN CỦA
NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU Ở NAM BỘ.......................................58
2.1. Một số quan niệm về hôn nhân của người Hoa……………………….……..58


2

2.1.1. Quan niệm về hôn nhân của người Hoa…….....…………….………….….…58
2.1.2. Quan niệm về hôn nhân của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ….……….......64
2.2. Nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân của người Hoa Triều Châu..…….….…67
2.2.1. Nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân thời kỳ tiền ngưỡng………................…..67
2.2.2. Nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân thời kỳ trong ngưỡng..……….………….79
2.2.3. Nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân thời kỳ sau ngưỡng……….…… …….…92
2.3. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các anh em trai, chị em dâu
trong nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân của người Hoa
Triều Châu ở Nam bộ………………………………………………………98
2.3.1. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các anh em trai trong nghi lễ
chuyển đổi trong hôn nhân …………………………......................................98
2.3.2. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các chị em dâu trong nghi lễ
chuyển đổi trong hôn nhân…………………..…….......................................102
2.4. Sự biến đổi trong nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân của người Hoa
Triều Châu ở Nam bộ hiện nay……………….........……………………..107
CHƯƠNG 3: NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI TRONG TANG MA CỦA
NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU Ở NAM BỘ...................................119
3.1. Một số quan niệm về tang ma của người Hoa...............................................119
3.1.1. Quan niệm về tang ma của người Hoa............................................................119
3.1.2. Quan niệm về tang ma của người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ.......................122
3.2. Nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người Hoa Triều Châu....................126

DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Người Hoa Triều Châu ở Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng có nguồn
gốc từ một bộ phận các tỉnh phía Nam Trung Quốc và chủ yếu là người Hán (hoặc đã
Hán hóa), đến Việt Nam vào những thời kỳ khác nhau trong lịch sử, họ thuộc nhiều
thành phần khác nhau. Do nhiều lý do khác nhau, một bộ phận người Hoa đã di cư
đến Việt Nam và sinh sống ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, nhưng tập trung chủ
yếu tại các địa phương Nam Bộ. Trong quá trình cộng cư với các tộc người khác trên
lãnh thổ Việt Nam, người Hoa đã có những đóng góp vào công cuộc dựng nước và
giữ nước. Người Hoa là một tộc người có một đời sống văn hóa tinh thần đa dạng và
phong phú. Những giá trị văn hóa đó đã giúp người Hoa có thể vượt qua những khó
khăn tại những vùng đất mới để ổn định đời sống. Mặt khác, cũng chính sự phong
phú đa dạng của đời sống văn hóa tinh thần đã góp phần làm phong phú văn hóa của
nước sở tại, nơi người Hoa sinh sống.
Người Hoa Triều Châu ở Nam bộ là một trong năm nhóm ngôn ngữ địa
phương ở Trung Quốc di cư sang Việt Nam qua nhiều đợt và đã sinh sống ở nhiều
tỉnh, thành phố tại Nam bộ (cả nông thôn và thành thị). Người Hoa Triều Châu đang
sống tại Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng thường có hai tên gọi; thứ nhất,
theo quy định chung, người Hoa là một cộng đồng cư dân (chủ yếu là người Hán và
những người đã bị Hán hóa) di cư sang Việt Nam có xuất xứ từ vùng Triều Châu,
một huyện của tỉnh Quảng Đông tiếp giáp với tỉnh Phúc Kiến và một phần thuộc tỉnh
Phúc Kiến của Trung Quốc. Họ sang định cư tại Việt Nam không phân biệt địa
phương cư trú trước khi di cư đến Việt Nam; thứ hai, người Hoa Triều Châu được
gọi theo nhóm ngôn ngữ địa phương xuất cư (được gọi theo địa phương gốc ở Trung
Quốc: người Hoa Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Hakka hoặc Hẹ).
Như vậy, người Hoa Triều Châu trong trường hợp nghiên cứu cụ thể tại Nam bộ sẽ
được hiểu cả hai nghĩa trên. Trong quá trình cộng cư với các nhóm người Hoa (được
gọi theo địa phương gốc ở Trung Quốc) và các tộc người khác tại Nam bộ, một số





6

các nước phương Đông. Đặc biệt, khi nghiên cứu tộc người Hoa (nhóm ngôn ngữ
Triều Châu) ở miền Nam Việt Nam.
- Lý giải sự khác biệt vai trò, vị thế, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi, tư cách
của người thụ hưởng chính và các đối tượng tham gia vào nghi lễ chuyển đổi trong
hôn nhân nhưng không phải là đối tượng thụ hưởng chính trong nghi lễ chuyển đổi
trong hôn nhân của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ.
- Lý giải sự khác biệt vai trò, vị thế, trách nhiệm, nghĩa vụ của người thụ tang
chính và các đối tham gia khác nhưng không phải là đối tượng thụ tang chính trong
nghi lễ chuyển đổi trong tang ma của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ.
- Làm sáng tỏ hơn về vai trò, vị thế, trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các anh em
trai, chị em dâu trong gia đình nhà chồng sau khi làm nghi lễ hôn nhân và tang ma.
- So sánh sự biến đổi trong nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và tang ma của
người Hoa Triều Châu ở Nam bộ hiện nay.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Một số sách viết về lý thuyết liên quan
Về cơ sở lý thuyết của luận án được chúng tôi vận dụng là lý thuyết Nghi lễ
chuyển đổi - The Rites of Passage. Đây là cuốn sách được xem là sách kinh điển về
nghi lễ chuyển đổi tuân thủ theo chu kỳ đời người của các nhà nghiên cứu nhân học.
Tác giả cuốn sách là Arnold van Gennep đã phân tích khá sâu về những nghi lễ liên
quan đến những giai đoạn chuyển đổi vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm, tư cách
của một cá nhân, hoặc một cộng đồng người tham dự mang tính quyết định đến đời
sống văn hóa xã hội của họ. Đặc biệt, tác giả đã phân biệt rất rõ tầm quan trọng của
các giai đoạn chuyển đổi tuân theo chu kỳ đời người. Mỗi giai đoạn, tác giả đều được
chia thành ba giai đoạn ngưỡng khác nhau: trước ngưỡng, trong ngưỡng và sau
ngưỡng (tái hội nhập đối với hôn nhân và phân ly đối với tang ma) vào những giai
đoạn mang tính chuyển đổi như giai đoạn sinh nở: mang thai và sinh nở, tuổi sơ sinh,

tổng thể của hình thức thể chất và ý nghĩa.
Ngô Đức Thịnh (2001), trong cuốn sách “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng
ở Việt Nam” đã đề cập đến các hình thức tín ngưỡng và nghi lễ cá nhân (vòng đời
người), từ khi sinh ra đến khi chết. Toàn bộ nghi lễ và tín ngưỡng tang ma đều xuất
phát từ quan niệm linh hồn và đời sống của con người sau khi chết.


8

Lê Trung Vũ (chủ biên), (2000) cuốn sách “Nghi lễ vòng đời người” ông cùng
nhóm nghiên cứu của mình đã nghiên cứu thời kỳ sinh nở, đầy tháng, đầy năm, nghi
lễ cưới hỏi, tang ma của người Việt. Trong tác phẩm này các tác giả chỉ nghiên cứu
dưới dạng nghi lễ theo chu kỳ sinh học của mỗi con người.
3.2. Những công trình nghiên cứu trước 1975
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình viết về các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam trong đó có người Hoa. Có những công trình viết bằng chữ Hán – Nôm có liên
quan đến lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, nghi lễ vòng đời người của người Hoa
ở Nam bộ nói riêng và người Hoa ở Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, các tác giả đã
nghiên cứu các nơi có thờ tự, lễ hội tín ngưỡng của các cộng đồng người Hoa. Hầu
hết các công trình nghiên cứu đều được biên soạn vào thế kỷ XIX như: Nhất Thống
dư địa chí do Lê Quang Định (1760 - 1813) biên soạn theo lệnh của vua Gia Long.
Nội dung cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu về các vùng có người Hoa sinh sống và
quá trình di cư sang Việt Nam; cuốn Gia Định thành thông chí (1978) do Trịnh Hoài
Đức trong giai đoạn (1765 - 1825) biên soạn và dâng vua Minh Mạng. Tác giả đã ghi
một số phong tục tập quán của người Hoa ở Đàng Trong và đề cập đến một số nét
văn hóa, phong tục tập quán bản địa.
Tsai May Kuay đã xuất bản cuốn “Người Hoa ở miền Nam Việt Nam” (1968),
đã đi sâu nghiên cứu về quá trình di dân, thành lập bang, hội, cách thức làm ăn kinh
tế, một số phong tục tập quán, văn hóa xã hội của người Hoa ở Việt Nam nói chung
và Nam bộ nói riêng. Tác giả chưa đi nghiên cứu và phân tích sâu về nghi lễ chuyển

của người Hoa Triều Châu tại địa bàn quận 6, TP.HCM. Nguyễn Văn Huy (1993) đã
viết cuốn sách “Người Hoa tại Việt Nam” đã đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản như:
nhập cư, quốc tịch, dân số, chính sách đối với người Hoa của chính quyền qua các
thời kỳ, tác giả chưa đi sâu phân tích về nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và tang
ma của người Hoa nói chung mà phân tích vị trí của người Hoa trong nền kinh tế
Việt Nam. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1998) đã viết cuốn
sách “Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” nội dung của cuốn sách viết về các
dân tộc Việt Nam trong đó có dân tộc Hoa. Nhóm tác giả đã phân tích khá chi tiết về
quá trình định cư, dân số, ngôn ngữ, địa bàn cư trú, kinh tế, giáo dục và đặc biệt là
lĩnh vực văn hóa của người Hoa nói chung. Trong phần văn hóa tinh thần, nhóm tác


10

giả cũng phân tích về nghi lễ vòng đời người dưới dạng miêu tả, không đi sâu vào sự
thay đổi vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm, tư cách của các thành viên tham gia
trong từng nghi lễ của nghi lễ vòng đời người, không đề cập đến nghi lễ chuyển đổi.
Nguyễn Cẩm Thúy (2000), có tác phẩm “Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ
(từ thế kỷ XVII đến năm 1945)” đã khắc họa các đợt di cư, hoạt động kinh tế, văn hóa
tín ngưỡng, tổ chức xã hội của người Hoa vào Việt Nam nói chung và Nam bộ nói
riêng. Trần Hồng Liên (2005), đã xuất bản cuốn sách “Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ
- tín ngưỡng và tôn giáo” mà nội dung tác phẩm đã đề cập tập trung vào khía cạnh tín
ngưỡng và tôn giáo của người Hoa sinh sống tại vùng đất Nam bộ. Đồng thời, tác giả
đã phân tích quá trình giao lưu văn hóa tín ngưỡng - tôn giáo tại vùng đất mới của
người Hoa nói chung và người Hoa Triều Châu nói riêng so với các dân tộc khác
cùng địa bàn cư trú. Đặng Đức Siêu (2005), đã viết “Văn hoá cổ truyền phương
Đông” gồm ba quyển viết về văn hoá cổ truyền phương Đông – Trung Quốc trong
quá trình giao lưu và tiếp biến giữa hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh của nền văn hoá
Trung Hoa. Đặc biệt, tác giả chỉ ra được những nét tương đồng về tín ngưỡng, tôn
giáo, phong tục tập quán trong đó có nghi lễ vòng đời người giữa hai dân tộc Việt và

nhóm người Hoa ở Nam bộ. Nhưng tác giả không đi sâu vào nghiên cứu về nghi lễ
chuyển đổi trong hôn nhân mà chủ yếu phân tích dưới góc độ chu kỳ đời người theo
chu kỳ sinh học. Mặt khác, tác giả cũng phân tích về một số nghi lễ trong gia đình
của người Hoa ở Nam Bộ dưới góc nhìn dân tộc học; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đệ
(2007) “Tổ chức xã hội của người Hoa ở Nam Bộ Việt Nam”, trình bày về các tổ
chức xã hội người Hoa trước và sau năm 1975, trong đó tác giả đi sâu vào nghiên cứu
cơ cấu tổ chức xã hội thông qua các Hội quán người Hoa. Tác giả không đi sâu vào
phân tích nghi lễ chuyển đổi trong giai đoạn nào của chu kỳ đời người hoặc nghi lễ
chuyển đổi vị thế, vai trò của người tham dự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu


12

Đề tài nghiên cứu về nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và nghi lễ chuyển đổi
trong tang ma của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ. Do đó, đối tượng nghiên cứu
chính là những người thụ hưởng chính trong nghi lễ hôn nhân và những người thụ
tang chính trong nghi lễ tang ma, còn các đối tượng khác tham gia nhưng không phải
là đối tượng nghiên cứu chính.
Vấn đề nghiên cứu của đề tài là sự thay đổi vị thế, vai trò, trách nhiệm, nghĩ
vụ, tư cách trong giai đoạn trước ngưỡng - trong ngưỡng – sau ngưỡng của người thụ
hưởng chính là chú rể và cô dâu trong nghi lễ hôn nhân và người thụ tang chính là
chồng/vợ, các con trai, con dâu, vợ chồng con khi bố mẹ qua đời trong nghi lễ tang
ma của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ.
Những nghi lễ khác theo chu kỳ đời người và những nghi lễ mang tính xã hội
khác như nghi lễ chuyển đổi trong sinh nở, lễ nhậm chức, tôn giáo… Do hạn chế về
mặt thời gian, không gian cũng như một số khó khăn khác nên tác giả luận án không
nghiên cứu mà đi sâu nghiên cứu vào hai nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và tang
ma của người Hoa Triều Châu ở Nam bộ. Mặt khác, hai nghi lễ chuyển đổi trên đánh

Nguyễn ủng hộ. Tại thị xã Hà Tiên người Hoa Triều Châu sinh sống chủ yếu bằng
nghề kinh doanh, buôn bán nhỏ tại thị xã và các vùng lân cận. Xã Bình An thuộc
huyện Châu Thành, nơi có nhiều người Hoa Triều Châu sinh sống cùng với nhóm
người Hoa Hải Nam. Mặc dù, họ sống gần với người Hoa Hải Nam, nhưng họ
thường không kết hôn với người Hoa Hải Nam mà chủ yếu kết hôn với người Hoa
Triều Châu cùng sinh sống trên địa bàn và cùng nhóm ngôn ngữ. Nơi đây, họ sống
chủ yếu bằng nghề làm rẫy, ruộng nên văn hóa của họ vẫn còn bảo lưu, gìn giữ, ít bị
mai một. Bên cạnh đó, họ còn giao lưu tiếp biến văn hóa với người Việt, Khmer tại
nơi đây thông qua hôn nhân, tang ma và một số hoạt động văn hóa khác.
Tại miền Đông Nam Bộ, luận án tập trung nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Đây là thành phố có người Hoa sinh sống tập trung và đông nhất cả nước.
Trong đó, người Hoa Triều Châu sống tại đây có số dân đông đứng thứ hai trong cả
nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sau người Hoa Quảng Đông.
Luận án chỉ nghiên cứu trường hợp tại quận 6 và quận 11. Ở quận 6 là nơi người Hoa
Triều Châu định cư lâu đời, một bộ phận sống bằng nghề nông nghiệp, một bộ phận
nhỏ sống bằng nghề thủ công và nghề truyền thống hoặc kinh doanh buôn bán. Phong
tục của họ vẫn còn mang tính chất nửa thành thị, nửa nông thôn nên còn giữ được


14

phong tục từ xưa để lại. Quận 11 là quận nội thành, họ sống chủ yếu bằng nghề tiểu
thủ công nghiệp hoặc sản xuất nhỏ. Một bộ phận khác buôn bán hàng hóa tiêu dùng
và một số loại hàng hóa khác, nên một số phong tục tập quán trong lễ nghi của người
Hoa Triều Châu quận 11 có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với các nhóm ngôn ngữ
Hoa khác nói riêng và các ngôn ngữ khác nói chung. Trong quá trình cộng cư Người
Hoa Triều Châu ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn bảo lưu, gìn giữ những giá trị văn hóa
truyền thống bản địa so với các nhóm ngôn ngữ khác tại Việt Nam thông qua nghi lễ
chuyển đổi trong hôn nhân và tang ma.
Chọn bốn tỉnh, thành phố trên để nghiên cứu, theo chúng tôi đó là sự bổ sung

Trăng; quận 6, quận 11 của thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp quan sát – tham dự là phương pháp đặc thù của ngành nhân học.
Đây là phương pháp bắt buộc người nghiên cứu phải sống, cùng tham gia làm việc
với cộng đồng người Hoa Triều Châu ở địa bàn nghiên cứu trong một thời gian dài.
Người nghiên cứu sống, tham gia các hoạt động, sinh hoạt với người dân địa phương
càng nhiều càng tốt. Thực tế trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng hòa
nhập với cuộc sống của người dân địa phương không chỉ qua các buổi phỏng vấn mà
còn qua sự hiện diện những buổi sinh hoạt thường nhật hàng ngày của họ. Chúng tôi
thường chọn thời gian tham gia sinh hoạt với cộng đồng thường từ 5 - 7 ngày hoặc có
nơi 10 ngày tùy theo thời gian diễn ra nghi lễ hôn nhân hoặc nghi lễ tang ma hoặc tết
Thanh minh ở mỗi nơi địa bàn nghiên cứu khác nhau.
Trong quá trình tiến hành quan sát và tham dự với cộng đồng người Hoa Triều
Châu ở các địa phương, chúng tôi gặp không ít khó khăn, vì một số đối tượng nghiên
cứu là những người lớn tuổi sống tách lập với người Việt nên họ vẫn còn sử dụng
tiếng Triều Châu (tiếng Tiều) với con cháu họ khi giao tiếp ở nhà. Mặt khác, do sự
hiểu biết hạn chế về tiếng Triều Châu, nên mỗi khi chúng tôi tiếp xúc với các đối
tượng nghiên cứu trên phải thông qua chính con, cháu của họ làm phiên dịch. Hơn
nữa, chúng tôi là những người nghiên cứu, không phải là người Hoa Triều Châu nên
gặp trở ngại ban đầu khi tiếp xúc với họ. Nhưng sau một thời gian, chúng tôi đã cố
gắng hòa nhập vào cộng đồng, tham gia, trải nghiệm, thực hiện những sinh hoạt đời
sống hàng ngày nhằm tránh khoảng cách giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên


16

cứu. Các trích dẫn trong luận án và tên, địa chỉ của những người cung cấp thông tin
hoàn toàn sử dụng tên thật, không mã hóa hoặc thay đổi tên khác.
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính là phương pháp lấy thông
tin từ các thành viên trong cộng động nơi nghiên cứu. Các cuộc đối thoại có chủ định
và dữ liệu thu tịch được thu thập từ trung tâm lưu trữ của các địa phương nghiên cứu,

buôn bán, những người nông dân, những nhà tri thức, …để tiến hành nghiên cứu.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn thực hiện công việc thu thập và phân tích các văn
bản, thư tịch, tài liệu có liên quan đến người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ về quá trình
di dân, kinh tế, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Đặc biệt, trong quá trình trao
đổi, trò chuyện với chúng tôi, những đối tượng nghiên cứu thường đưa ra những câu
ca dao, tục ngữ, câu đối trong nghi lễ hôn nhân và tang ma, nhằm giải thích rõ hơn về
phong tục, tập quán, ý nghĩa văn hóa và quan niệm sống của họ trong quá trình thực
hiện nghi lễ hôn nhân và nghi lễ tang ma. Do đó, chúng tôi phải làm công việc như
những người thực hiện việc chú giải những câu đối, tục ngữ có liên quan đến cuộc
sống hôn nhân và tang ma của người dân địa phương đã bàn luận, để hiểu sâu hơn về
những nghi lễ trước, trong và sau trong nghi lễ chuyển đổi xảy ra. Để hiểu được cách
thức tiến hành nghi lễ chuyển đổi trong hôn nhân và trong tang ma của người Hoa
Triều Châu, chúng tôi phải tiến hành tham khảo các sách viết về biểu tượng, nghi lễ
vòng đời người, nghi lễ chuyển đổi của các tác giả trong và ngoài nước viết có liên
quan. Do đó, chúng tôi xác định rõ đây là công trình nghiên cứu về nghi lễ chuyển
đổi trong chu kỳ xã hội nên cần có sự nhận thức rõ ràng về các giai đoạn chuyển
ngưỡng của mỗi nghi lễ.
Về phương pháp phỏng vấn: tác giả áp dụng phỏng vấn chính thức và phỏng
vấn không chính thức. Phỏng vấn không chính thức là cách nói chuyện với người dân
không chuẩn bị đề cương hoặc không kiểm soát nội dung. Người phỏng vấn nhớ lại
câu chuyện trên cơ sở ghi nhanh lúc phỏng vấn. Cách phỏng vấn này thích hợp với
các cuộc phỏng vấn tại hiện trường, phỏng vấn làm quen với người dân và người
cung cấp thông tin. Tác giả đã thu thập được nhiều thông tin hồi cố về lịch sử di dân,
nguồn gốc xây dựng làng xóm, hoạt động kinh tế, các dạng thức văn hoá, sự thay đổi
các lễ vật trong các nghi lễ chuyển đổi đều nhờ phương pháp này.
Tuỳ theo nội dung nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện phỏng vấn ở các đối
tượng, giới, lứa tuổi khác nhau để có nguồn tư liệu chính xác, tin cậy. Khi gặp những


18



19

Gennep, Victor W.Turner trong giai đoạn trước - trong - sau ngưỡng trong nghi lễ
hôn nhân và nghi lễ tang ma mà luận án đề cập trong quá trình nghiên cứu.
- Qua lý thuyết, tác giả luận án làm nổi bật tình trạng trước - trong ngưỡng sau ngưỡng trong hôn nhân về sự thay đổi vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm, tư
cách của các anh em trai, chị em dâu phải phụ thuộc vào vai thứ của chồng mình.
Đồng thời, luận án còn nổi bật tình trạng trước - trong - sau ngưỡng trong tang ma về
sự thay đổi vai trò, vị thế, nghĩa vụ, trách nhiệm, tư cách, quyền lợi của anh em trai,
con trai duy nhất, chị em dâu, chị em gái trong nghi lễ tang ma khi bố/mẹ qua đời.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án với những nguồn tư liệu mới về nghi lễ
chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ là công trình có ý nghĩa thực tiễn
và trong việc tìm hiểu những đặc trưng văn hóa tộc người của các cộng đồng người
Hoa ở Việt Nam nói chung và cộng đồng người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ nói riêng.
Luận án đã tìm ra những yếu tố văn hoá mang giá trị truyền thống để bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống chống lại những hủ tục lạc hậu gây cản trở
trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới của người Hoa Triều Châu ở Việt Nam nói
chung và ở Nam bộ nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
7. Đóng góp của luận án
Những nghiên cứu này không chỉ góp phần giúp người đọc bao gồm cả người
Hoa Triều Châu hiểu biết hơn về văn hóa truyền thống của người Hoa Triều Châu mà
còn giúp các cấp có thẩm quyền có cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách có
liên quan đến việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống tộc người
trong quá trình hội nhập.
1. Thông qua điền dã, tham dự, quan sát nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi của
người Hoa Triều Châu ở một số tỉnh miền Tây Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh,
tác giả luận án thu thập, bổ sung những tư liệu khoa học mới vào kho tàng tư liệu
khoa học về nghi lễ, nghi lễ chuyển đổi qua từng giai đoạn của người Hoa Triều

ngưỡng và tình trạng sau ngưỡng (tái hội nhập hoặc phân ly vĩnh viễn) về vai trò, vị
thế, trách nhiệm, nghĩa vụ, thừa hưởng của người thụ hưởng chính trong gia đình và
xã hội.


21

3. Thông qua phương pháp so sánh, đối chiếu các lễ thức, vị thế trong nghi lễ
chuyển đổi trong hôn nhân và trong tang ma ở các địa bàn tác giả nghiên cứu, để thấy
được sự giống và khác nhau về lễ thức trong yếu tố văn hóa Nho giáo, Đạo giáo và
văn hóa tâm linh của người Hoa Triều Châu trong quá trình di cư. Qua đó, thấy được
vị thế xã hội và gia đình của chính mỗi người con trai trưởng, con trai thứ, con trai út
và cả những người con trai một trong gia đình có những điểm giống và khác biệt
nhất.
- Với kết quả nghiên cứu trên, luận án mong muốn đóng góp những căn cứ
khoa học, cung cấp thông tin khoa học về văn hóa tộc người thông qua các nghi lễ
hôn nhân và tang ma cho các cấp lãnh đạo hoạch định những chính sách trong việc
phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội vùng đồng bào người Hoa sinh sống nói chung
và người Hoa Triều Châu nói riêng ở Nam bộ, nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hóa tinh thần truyền lại cho các thế hệ sau học tập.
8. Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luận án
gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi và khái quát chung về
người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ
Trình bày một số thuật ngữ và khái niệm về nghi lễ, nghi lễ của chu kỳ vòng
đời người, nghi lễ chuyển đổi và tình trạng ngưỡng, quan niệm về nghi lễ trong hôn
nhân và tang ma của người Hoa ở Nam bộ. Khái quát chung về quá trình di dân –
định cư, dân số và phân bố dân cư, đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của người
Hoa Triều Châu ở Nam Bộ.



23

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI VÀ
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI HOA TRIỀU CHÂU Ở NAM BỘ
1.1. Cơ sở lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi
1.1.1. Thuật ngữ và khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm nghi lễ
Từ “nghi lễ” tiếng Anh là Ritual có nguồn gốc từ tiếng latin ritus [29; tr. 311],
có nghĩa là hành vi có trật tự. Nghi lễ không chỉ có nghĩa là nghi lễ tôn giáo, nó còn
có nhiều nghĩa khác. Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ những hoạt động mang tính
bắt buộc, chính thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo, mà còn có nghĩa lễ
hiến sinh cho linh hồn của tổ tiên. Theo các nhà nhân học, thuật ngữ “nghi lễ” bao
hàm bất kỳ hoạt động nào có mức độ chính thức cao và có mục đích không vị lợi.
Cách sử dụng này không chỉ bao gồm các hoạt động tôn giáo rõ ràng mà còn cả
những sự kiện như lễ hội, diễu hành, kết nạp, trò chơi, chào mừng...Bên cạnh đó, nó
được áp dụng thích hợp đối với các hình thức của hành vi tôn giáo và gắn kết với các
chuyển đổi xã hội, “nghi lễ” mang tính chuyển đổi. Thuật ngữ “nghi thức” tiếng Anh
là Ceremony có liên quan nhiều hơn đến hành vi tôn giáo mà gắn kết với các trạng
thái xã hội. Nghi thức chính là thể chế luật pháp – chính trị mang tính xác nhận có
một ý nghĩa rất lớn đối với mọi người trong xã hội.
Thuật ngữ ngưỡng (liminal) xuất phát từ chữ limen trong tiếng La tinh, có
nghĩa là ngưỡng, giúp ta nắm bắt một cách tinh tế về các trạng thái tồn tại trong một
vị thế có hạn định nào đó. Bản thân chữ ngưỡng cũng có nghĩa là không ở bên trong
và cũng không ở bên ngoài - betwizt and between. Một người ở trong ngưỡng là
người đang ở vị trí trung gian giữa các vai trò, vị thế mà luật pháp, phong tục, qui
ước mà nghi thức đã qui định và lập nên.
Chủ thể của nghi lễ chuyển đổi trong giai đoạn ngưỡng kích thích dưới là “vô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status