Nghi lễ chuyển đổi của người hoa quảng đông ở thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

………………………………..

TRẦN HẠNH MINH PHƢƠNG

NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CỦA NGƢỜI HOA
QUẢNG ĐÔNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

………………………………..

TRẦN HẠNH MINH PHƢƠNG

NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI CỦA NGƢỜI HOA
QUẢNG ĐÔNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY

Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62.22.70.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

của luận án.
Tôi chân thành cám ơn hai em Ths.Lưu Hồng Sơn và Nguyễn Hữu Lộc đã
tìm và dịch giúp tôi những tài liệu bằng tiếng Hoa. Tôi cũng vô cùng cảm ơn anh
Nguyễn Thanh Lợi đã đọc và sửa chữa giúp tôi những lỗi chính tả, lỗi đánh máy để
có được bản in cuối cùng hoàn chỉnh.
Hơn nữa, nếu không có sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của
Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Sử, trường Đại học Thủ Dầu Một tôi cũng
không thể hoàn thành luận án.
Và để luận án này được bảo vệ, tôi xin gửi đến Ban giám hiệu, Khoa Nhân
học, phòng Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn lòng biết ơn
đã đào tạo và tổ chức cho tôi được bảo vệ luận án.
Cuối cùng, tôi không thể nào quên ơn người mẹ, người chồng đã luôn sẳn
sàng chia sẻ mọi việc để tôi có thể hoàn thành luận án này.


MỤC LỤC
Dẫn luận ..................................................................................................................... 1
1. Lý do – Mục đích nghiên cứu ........................................................................ 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ........................................................................ 3
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu ................................................ 5
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 6
6. Đóng góp của luận án ..................................................................................... 9
7. Khung phân tích ...................................................................................... 10,14
8. Bố cục của luận án ........................................................................................ 10
9. Những khó khăn và thuận lợi ....................................................................... 12
Chƣơng 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm liên quan ......................................................................... 15

CHỨC NĂNG CỦA NGHI LỄ CHUYỂN ĐỐI
3.1. Chức năng tâm lý..................................................................................... 101
3.1.1. Nghi lễ nâng đỡ người thụ lễ ................................................................ 101
3.1.2. Nghi lễ mang ý nghĩa “phòng vệ” và “tạo dấu ấn” .............................. 106
3.2. Chức năng xã hội ..................................................................................... 108
3.2.1. Nghi lễ tạo bối cảnh thừa nhận sự chuyển đổi của cá nhân ................ 108
3.2.2. Nghi lễ kiến tạo các chuẩn tắc của cộng đồng .................................... 111
3.2.3. Nghi lễ phản ánh bản chất của gia đình và cấu trúc xã hội của cộng đồng
...................................................................................................................... 117
3.3. Chức năng văn hóa-giáo dục ................................................................... 122
3.3.1. Nghi lễ chuyển tải và củng cố văn hóa cộng đồng ............................... 122
3.3.2. Nghi góp phần giáo dục con người ...................................................... 139
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................... 142


Chƣơng 4
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI VÀ NHỮNG
BIỂN ĐỔI TRONG NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI HIỆN NAY
4.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến nghi lễ chuyển đổi ................................... 144
4.1.1 Yếu tố giới, tuổi, mạng lưới xã hội và điều kiện kinh tế ....................... 144
4.1.2.Tín ngưỡng - Tôn giáo .......................................................................... 150
4.1.3. Tiếp biến văn hóa ................................................................................. 180
4.2. Những biến đổi trong nghi lễ chuyển đổi ................................................ 183
4.2.1. Tính thiêng trong nghi lễ ...................................................................... 184
4.2.2. Sự chuyển đổi của người thụ lễ ............................................................ 186
4.2.3. Hình thức và nội dung của nghi lễ ....................................................... 187
Tiểu kết chương 4 .................................................................................. 194
Kết luận ........................................................................................................ 197
Tài liệu tham khảo ................................................................................................ 206
Phụ lục 1 (danh mục các nghi lễ tác giả tham dự và danh sách cộng tác viên) 1


7.

CT

8.

KHXH

9.

KHXH&NV

10.

NXB

11.

PL


DẪN LUẬN
1. Lý do – mục đích nghiên cứu :
Ở thành phố Hồ Chí Minh, dân số người Hoa là 414.045 người (chiếm
50,3% tổng số người Hoa tại Việt Nam), đứng thứ hai sau người Việt, gồm năm
nhóm ngôn ngữ: Hẹ, Triều Châu, Hải Nam, Phúc Kiến và Quảng Đông, trong
người Hoa Quảng Đông sống tập trung ở quận 5, quận 6 và quận 11 [7]. Do sống
tập trung theo cộng đồng nên các yếu tố văn hóa truyền thống mang đặc trưng
Quảng Đông còn rõ nét, là cơ sở để chúng ta tìm ra những nét tương đồng và dị biệt

chuyển đổi, mỗi người chỉ trải qua một lần trong đời, nên nghi lễ này rất quan trọng
và đáng nhớ, được tổ chức chu đáo, phản ánh sâu sắc bản chất văn hoá của từng tộc
người.
Mặt khác “nghi lễ không phải là một hình thức đặc biệt của sự kiện nhưng là
lĩnh vực có ý nghĩa nhất của tất cả các hoạt động của con người. Nghi lễ chuyển tải
thông điệp về tình trạng văn hóa, xã hội của những cá nhân, bất cứ hành động nào
của con người đều có khuôn khổ mang tính nghi lễ. Nghi lễ cung cấp cho nhà nhân
học nguồn thông tin dồi dào nhất về văn hóa. Trong rất nhiều trường hợp, nghi lễ
giải thích và kịch tính hóa thần thoại của một nền văn hóa. Nghi lễ chứa đựng dồi
dào thông tin mang tính biểu tượng về thế giới văn hóa và xã hội của những người
tham dự” [91: 410]. Những giá trị của con người, của nhóm cũng được bộc lộ qua
nghi lễ và hình thức nghi lễ mang tính quy ước và bắt buộc. Nghiên cứu nghi lễ là
một cách để hiểu kết cấu thiết yếu của xã hội loài người.
Như Victor Turner đã chứng minh việc phân tích biểu tượng và hành vi nghi
lễ được sử dụng như chìa khóa để hiểu cấu trúc và tiến trình xã hội. Hiểu được “giai
đoạn ngưỡng” của nghi lễ chuyển đổi có thể hiểu được phạm vi bao quát những
hiện tượng xã hội [96:2] và “những nghi lễ này có liên quan đến lịch sử và cấu trúc
của một xã hội nhất định” [100: 5]. Do đó, nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi là nghiên
cứu một thành tố quan trọng của văn hóa tộc người và qua đó khái quát hệ thống giá
trị đạo đức, cấu trúc xã hội của cộng đồng người Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay.
Với xu hướng hiện đại hóa và toàn cầu hóa, mọi dân tộc trên thế giới nói
chung và người Hoa Quảng Đông nói riêng đang có khuynh hướng từ bỏ hay đơn
giản hóa những lễ nghi cổ truyền để tổ chức theo nghi thức hiện đại mang tính phổ

2


quát, làm mai một đi những yếu tố văn hóa mang tính tộc người. Phân tích chức
năng nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông để có được những cơ sở khoa


Nghi lễ vòng đời không phải là đề tài mới của dân tộc học Việt Nam, nhưng
nghiên cứu nghi lễ vòng đời theo lý thuyết Nghi lễ chuyển đổi của Anorld van
Gennep là hướng tiếp cận chưa được nhiều người quan tâm mặc dù đây là lý thuyết
đã ra đời ở châu Âu từ đầu thế kỷ XX. Kết quả nghiên cứu luận án góp phần giới
thiệu một khung lý thuyết nghiên cứu về nghi lễ vòng đời – với khái niệm nghi lễ
chuyển đổi – nhấn mạnh những bước ngoặt quan trọng ở mỗi giai đoạn của một đời
người. Với lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold van Gennep luận án nhận diện
những nghi lễ chuyển đổi của người Hoa, chỉ ra ba giai đoạn phân ly, chuyển tiếp và
hội nhập của các nghi lễ.
Victor Turner đã cống hiến cho ngành nhân học thế giới một công trình rất
có giá trị - The forest of Symbols (Rừng biểu tượng). Vận dụng phương pháp nghiên
cứu biểu tượng của Victor Turner, tác giả luận án giải mã những biểu tượng trong
nghi lễ chuyển đổi qua đó khái quát giá trị đạo đức và cấu trúc xã hội của cộng đồng
người Quảng Đông hiện nay.
Nghiên cứu nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông theo hướng tiếp
cận chức năng của Radcliffe – Brown và Bronislaw Malinowski góp phần làm sáng
tỏ một trường phái lý thuyết nhân học ra đời từ đầu thế kỷ XX vào nghiên cứu
trường hợp ở Việt Nam.
Nội dung luận án là sự vận dụng thuyết cấu trúc qua nghi lễ chuyển đổi của
Arnold van Gennep, thuyết chức năng của Radcliffe - Brown, Bronislaw
Malinowski, biểu tượng trong nghi lễ của Victor Turner vào nghiên cứu những nghi
lễ chuyển đổi của một cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – người Hoa
Quảng Đông.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Từ việc phân tích và lý giải các chức năng của nghi lễ chuyển đổi khẳng
định vai trò và lý do cần duy trì những nghi lễ ấy cho dù cuộc sống có thay đổi theo
chiều hướng ngày càng hiện đại.

4

dung của nghi lễ chuyển đổi.
3. Những nghi lễ chuyển đổi giúp giảm thiểu các tác động có hại của những
thay đổi về trạng thái, tình trạng xã hội của mỗi cá nhân, có chức năng gìn giữ

5


truyền thống văn hóa, tăng cường cố kết gia đình, cộng đồng, hình thành những
chuẩn tắc đạo đức trong cộng đồng.
5. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu: Luận án áp dụng cách tiếp
cận nghiên cứu trường hợp bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định
lượng.
Nghiên cứu định tính: quan sát – tham dự, phỏng vấn sâu và phỏng vấn tập
trung.
Phương pháp quan sát-tham dự là cách “thu thập dữ kiện bằng cách sống
gần gũi trong một thời gian dài với thành viên của một xã hội khác” [16:56]. Địa
bàn nghiên cứu cũng chính là nơi tác giả sinh sống nên tác giả thuận lợi trong việc
quan sát-tham dự các nghi lễ của các thành viên trong cộng đồng người Hoa Quảng
Đông. Quan sát – tham dự 15 nghi lễ chuyển đổi (lễ đầy tháng: 2, lễ khai học: 1, lễ
cưới: 5, lễ mừng thọ: 2, lễ tang: 5) chúng tôi có được thông tin về trình tự nghi lễ,
thái độ, hành vi của những người thụ lễ và những người liên quan. Dữ liệu thu thập
được từ quan sát-tham dự làm sáng tỏ hơn những thông tin có được từ phỏng vấn
sâu. Tuy nhiên, chỉ quan sát-tham dự không thể hiểu rõ ý nghĩa của những biểu
tượng, ý nghĩa và lý do tồn tại của những nghi thức. Mặt khác, có những nghi lễ
người dân không muốn có sự hiện diện của nhà nghiên cứu – lễ tang – thời điểm
tang gia bối rối, có thể có những sơ xuất trong thái độ, hành vi ứng xử, sự có mặt
của người ngoài làm cho họ cảm thấy không thoải mái. Điểm bất lợi của phương
pháp nghiên cứu này là việc tham dự nghi lễ của nhà nghiên cứu hoàn toàn phụ
thuộc vào thời gian người dân tổ chức các nghi lễ, nên có những trường hợp nhà
nghiên cứu không thể tham dự được.

Đây là điều tra mẫu với 120 đơn vị mẫu cá nhân, kết hợp phương pháp chọn
mẫu khu vực điển hình, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
+ Quy trình chọn mẫu:
- Dựa theo số liệu người Hoa trên toàn thành phố của Cục thống kê cùng với
sự tham mưu của Ban công tác người Hoa thành phố Hồ Chí Minh, chọn ba điểm
người Hoa Quảng Đông sống tập trung và có tính đại diện của các nhóm xã hội:
nghèo, trung bình, khá và giàu thuộc địa bàn các quận: 5, 6, 11.
- Theo báo cáo tình hình cư trú của cư dân tại ba quận (5, 6, 11), mỗi quận sẽ
chọn ba phường có số lượng hộ người Hoa Quảng Đông cao nhất: quận 5 (phường

7


6, phường 11 và phường 14); quận 6 (phường 5, phường 6, phường 10 ), quận 11
(phường 9, 11, 14). (Số lượng này do Ủy ban phường cung cấp)
- Bằng cách tập hợp danh sách hộ người Hoa Quảng Đông do người phụ trách
về người Hoa ở từng khu phố cung cấp (tuy nhiên cũng có những trường hợp nhầm,
họ là người Hoa nhưng không phải là người Hoa Quảng Đông, khi phỏng vấn tác giả
phát hiện, sẽ phải đổi mẫu: có 7 trường hợp nhầm người Hoa Triều Châu, Phúc Kiến.
Tuy nhiên, tác giả vẫn phỏng vấn những trường hợp để có thông tin so sánh với người
Hoa Quảng Đông), mỗi phường chọn một khu phố có đông hộ người Hoa Quảng
Đông nhất, lập danh sách toàn bộ những hộ ở chín khu phố này (do người phụ trách
về người Hoa khu phố cung cấp danh sách tên các hộ gia đình người Hoa Quảng
Đông), chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy k = (Bước nhảy
k= tổng số hộ Hoa Quảng Đông/120), trên cơ sở đó chúng tôi lập được danh sách cá
nhân cần phỏng vấn.
- Với 120 đơn vị mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống,
mẫu nghiên cứu sẽ đa dạng và mang tính đại diện về yếu tố giới, tuổi, nguyên quán,
tôn giáo, mạng lưới xã hội, địa vị kinh tế. Qua đó công trình có thể phác họa nên
bức tranh nhiều màu sắc về nghi lễ chuyển đổi của cộng đồng. Đây là điều lý tưởng,

năng của Bronislaw Malinowski và Radcliffe-Brown, lý thuyết biểu tượng trong
nghi lễ của Victor Turner.
Đóng góp thứ nhất, luận án cho thấy không phải tất cả thay đổi (của con
người) làm khuấy động cuộc sống xã hội và cá nhân, mang đến những tác động có
hại nên nghi lễ chuyển đổi mới ra đời. Có những thay đổi, đánh dấu một bước ngoặt
của cuộc đời nhưng không gây nên sự khủng hoảng (tại một thời điểm) mà vẫn có
nghi lễ chuyển đổi – lễ khai học, lễ mừng thọ. Mặt khác, luận án còn chỉ ra ba giai
đoạn trước ngưỡng, trong ngưỡng và sau ngưỡng trong các nghi lễ chuyển đổi mà
Anorld van Gennep đưa ra không phù hợp với tất cả các nghi lễ chuyển đổi của
người Hoa Quảng Đông.
Đóng góp thứ hai, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ nhận
định của Radcliffe Brown về các chức năng của nghi lễ nói chung và nghi lễ chuyển
đổi nói riêng là tạo quy củ và những cảm giác tích cực (đối trọng lại những cảm
giác tiêu cực hay mất niềm tin), gắn kết các thành viên trong cộng đồng, tạo và tái

9


tạo sức sống di sản của cộng đồng và truyền đạt giá trị văn hóa, đạo đức cho một thế
hệ tiếp theo.
Đóng góp thứ ba, góp phần bổ sung về một hình thức biểu tượng trong cộng
đồng người Hoa Quảng Đông vốn không có trong người Ndembu mà Victor Turner
đã nghiên cứu – dùng từ đồng âm, cận âm, cận nghĩa như những biểu tượng bên
cạnh các biểu tượng là sự vật, hành động, các mối quan hệ, hiện tượng và điệu bộ.
Về phương pháp luận: Đây là luận án tiến sĩ đầu tiên áp dụng ba lý thuyết cấu
trúc, chức năng và tương tác biểu tượng trong nghiên cứu trường hợp – nghi lễ
chuyển đổi của một cộng đồng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Về mặt tư liệu và luận cứ khoa học: Nghiên cứu góp phần tập hợp tư liệu về
nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông hiện nay, vốn còn thiếu trong các
nghiên cứu dân tộc học.

bố dân cư, các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Chương 2: Những nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông:Mô
tả dân tộc học.
Chương này có 41 trang, trình bày những nghi lễ chuyển đổi của người
Hoa Quảng Đông ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo dạng mô tả dân tộc học
để chỉ rõ những nghi lễ nào là nghi lễ chuyển đổi, phân tích các dấu hiệu của sự
phân ly, ngưỡng và hội nhập trong các nghi lễ; Nêu lên sự chuyển đổi của mỗi cá
nhân và những người có liên quan sau mỗi giai đoạn chuyển đổi: lễ đầy tháng, lễ
khai học, lễ cưới, mừng thọ và lễ tang.
- Chương 3: Chức năng của nghi lễ chuyển đổi.
Chương này có 41 trang, phân tích chức năng của nghi lễ dưới cấp độ cá
nhân và cộng đồng bao gồm ba chức năng: chức năng tâm lý, chức năng xã hội và
chức năng văn hóa - giáo dục.
- Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến nghi lễ chuyển đổi và sự biến
đổi trong nghi lễ chuyển đổi.
Chương này gồm 52 trang, tìm ra những khác nhau về hình thức và nội
dung nghi lễ dưới góc độ giới, tuổi, điều kiện kinh tế, mạng lưới xã hội, niềm tin tôn
giáo. Phân tích những nguyên nhân dẫn đến những biến đổi và những biến đổi đó

11


trong của nghi lễ hiện nay so với nghi lễ diễn ra vào những thập niên 50, 60 của thế
kỷ XX.
9. Những khó khăn và thuận lợi:
Thuận lợi: Địa bàn nghiên cứu cũng chính là địa bàn cư trú của tác giả nên
tác giả có điều kiện tham dự được nhiều nghi lễ của người Hoa, thu thập thông tin
phong phú về nghi lễ chuyển đổi. Vì có thời gian dài tham dự các nghi lễ cùng với
cộng đồng nên tác giả có cơ hội trải nghiệm, phỏng vấn sâu những người trong
cuộc.

13


KHUNG PHÂN TÍCH VÀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

NGHI LỄ CHUYỂN ĐỔI

Thuyết
cấu trúc –
Lý thuyết
Nghi lễ
chuyển
đổi của
Arnold
van
Gennep

Tiến trình và cấu trúc nghi lễ

Chức năng của nghi lễ

Nghi lễ chuyển đổi của
những nhóm xã hội khác
nhau

Hệ giá trị đạo đức
Cấu trúc xã hội của cộng
đồng

14

người biết để tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trước những đối tượng thiêng”
[63: 177]. Trong Golden Bough (1890), Frazer phân chia thế giới thành hai lĩnh
vực: thế tục và linh thiêng, nghi lễ thuộc lĩnh vực thiêng. Theo Jane Harrison (1912,
1913) nghi lễ là sự kịch tính hóa mang tính ma thuật những hoạt động thường nhật.
Để phân biệt những hành vi mang tính nghi lễ và không mang tính nghi lễ dựa vào
dấu chỉ có hay không có bối cảnh tôn giáo. Nghi lễ theo Tylor là phương tiện giao
tiếp với những thực thể linh hồn” là “cầu nguyện, hiến tế, nhịn ăn, định hướng và
tẩy uế” [15: 948]. Peter Winch cho rằng “nghi lễ thường bị chỉ trích là hành vi
không lý tính, không thực tế và không khoa học” [76: 4]. Nghi lễ là "hành vi trang
trọng và mang tính biểu tượng (Robert H. Winthrop) [86:124 ]. Theo Victor Turner,
nghi lễ (ritual) “là hành vi được quy định có tính chất nghi thức dành cho những
dịp, không liên quan đến công việc có tính chất kỹ thuật hàng ngày, mà có quan hệ
với các niềm tin vào đấng tối cao hay các sức mạnh thần bí” [96: 19].

15


Với những định nghĩa “nghi lễ” trên, có thể hiểu nghi lễ là những hành vi
được tổ chức vào những dịp nhất định có tính chất nghi thức, trang trọng và mang ý
nghĩa biểu tượng, được kiểu thức hóa, lặp đi lặp lại, diễn ra trong thời gian và
không gian được xác định.
Nghi lễ chuyển đổi [rite of passage]
Nghi lễ chuyển đổi là nghi lễ đánh dấu sự chuyển đổi của cá nhân trong suốt
vòng đời, từ tình trạng này sang tình trạng khác, từ vai trò, địa vị này sang vai trò,
địa vị khác, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và kinh nghiệm văn hóa với
vận số sinh học: ra đời, sinh con, chết đi. Những nghi thức này tạo sự khác biệt cơ
bản, được tiến hành trong tất cả các nhóm, giữa già và trẻ, đàn ông và đàn bà, sống
và chết. Con người thuộc về cả tự nhiên và văn hóa, thông qua nghi lễ chuyển đổi
con người có thể suy ngẫm, thể hiện [formulate] và thể hiện lại [reformulate] phần
con và phần người của con người. [54: 380-387].

nguyên tắc và phạm trù mà chúng ta yêu mến khỏi những điều trái ngược với
chúng”, “cái không rõ ràng là cái không trong sạch. Giai đoạn chuyển tiếp thì đặc
biệt ô uế, bởi họ không là cái này và cũng không là cái kia, hoặc có thể là cả hai,
hoặc không ở đây cũng không ở kia, hoặc thậm chí không ở đâu cả. Những người
đang được chuyển tiếp hầu như luôn luôn bị coi như nguồn gây ô uế” [94: 331].
Mircea Eliade trong Rites and Symbols of Initiation (Những nghi lễ và biểu
tượng của sự nhập môn) (1958) cho rằng những động lực trong nghi lễ chuyển đổi
cung cấp phương tiện, thông qua đó những người tham dự có thể đạt đến sự hoàn
hảo về mặt tôn giáo. Khái niệm đàn ông và đàn bà cung cấp tính cấu trúc nền tảng
trong trật tự xã hội thông thường, giới này bị thu hút bởi thuộc tính của giới kia [54:
380].
Alice Schlegel và Herbert Barry, hai nhà dân tộc học người Mỹ trong The
Evolutionary Significance of Adolescent Initiation Ceremonies (Ý nghĩa tiến hóa
của những nghi thức thành đinh tuổi mới lớn) cho rằng những nghi thức tuổi dậy thì
của thiếu nữ là một trong những nghi lễ chuyển đổi quan trọng [54: 380].
Trong công trình Transitions: Four Rituals in Eight Cultures (Sự chuyển tiếp:
Bốn nghi lễ trong Tám nền văn hóa (1980). Martha và Morton Fried đề cập đến bốn
sự chuyển tiếp then chốt: sinh ra, dậy thì, kết hôn và chết và cho rằng những chuyển

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status