ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
--------------
VŨ TOẢN
BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Luận án được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Văn Gầu
TS. Nguyễn Anh Quốc
Phản biện 1: ...........................................................................................
Phản biện 2: ...........................................................................................
Phản biện 3: ...........................................................................................
văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính
trị quan trọng của cả nước. những thành tựu kinh tế - xã hội của thành
phố Hồ Chí Minh đạt được thời gian qua là quan trọng, góp cùng sự phát
triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng tăng
trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế chưa tương
xứng với tiềm năng và thế mạnh của Thành phố. Kinh tế phát triển chưa
bền vững; lợi ích mang lại từ tăng trưởng kinh tế chưa cao; mức sống,
chất lượng sống của người dân vẫn đang là vấn đề tồn tại gây nhiều bức
1
United Nations Development Programme (UNDP - 1995). Human development report 1995. Oxford University
Press, pages 118.
4
xúc, đặc biệt các vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập lụt, an ninh trật tự
và an toàn xã hội.Việc thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế với nâng cao đời sống của người lao động, đặt trong điều kiện
của một địa phương phát triển năng động như thành phố Hồ Chí Minh,
đòi hỏi phải bám sát điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù, cũng
như những lợi thế so sánh và thách thức của Thành phố . Từ đó đưa ra
định hướng, giải pháp phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã
hội nhanh và bền vững. Xuất phát từ những lý do như trên, tác giả chọn
vấn đề “Biện chứng giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống
của người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có thể khái
quát theo các hướng cụ thể sau:
kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân thể hiện trong nhiều tác phẩm,
được Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2000 trong bộ “Hồ
Chí Minh toàn tập”, các tập 5, tập 7, tập 9, tập 10. Phát triển kinh tế
được coi là nhiệm vụ trung tâm, cải thiện và nâng cao đời sống là nhiệm
vụ quan trọng và thường xuyên. Những quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong “Văn kiện Đại
hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, năm 2013 và tiếp tục được khẳng định trong “Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, năm 2016. Ngoài ra, trong quá trình tiến hành Đổi mới ở
Việt Nam, cũng đã có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát triển kinh
tế - xã hội, các nghiên cứu đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tiêu
6
biểu như: “Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS.TS. Lê
Hữu Tầng (chủ biên), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997; “Những
vấn đề chủ yếu về phát triển kinh tế” của PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà nội, 2006; “Tăng trưởng và chất lượng tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam” do Cù Chí Lợi (chủ biên), Nxb. Từ điển
Bách khoa, Hà Nội, năm 2008; Sách chuyên khảo “Tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” do GS.TS. Hoàng Đức Thân
và TS Đinh Quang Ty (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010,
…
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về quá trình phát triển lịch
sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thành phố Hồ Chí Minh: Các công
trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến như: “Gia Định thành thông
chí” được Viện Sử học dịch từ nguyên bản tiếng Hán, Nxb. Giáo dục,
năm 1998; “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, gồm 4 tập, do GS.
trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh theo hướng cạnh tranh” do
PGS.TS. Đào Duy Huân – PGS.TS Lương Minh Cừ (đồng chủ biên),
Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, năm 2015…
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của
luận án
Mục đích của luận án: Từ những vấn đề lý luận chung về phát triển
kinh tế với việc nâng cao đời sống người lao động, luận án chỉ ra thực
trạng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống
người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh trong những thập niên qua;
qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp để thực hiện mối quan hệ
8
giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống người lao động ở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: Một là, trình bày và phân tích làm rõ lý luận
chung về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống
người lao động. Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống của người lao động ở
thành phố Hồ Chí Minh. Ba là, đề xuất phương hướng và giải pháp để
thực hiện đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời
sống của người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án: : Luận
án nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời
sống người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu từ
thời kỳ đổi mới (1986) đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ trong giảng dạy, nghiên
cứu, gắn lý luận với thực tiễn xung quanh vấn đề phát triển kinh tế với
phát triển xã hội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo, luận án được kết cấu với 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết.
10
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ NÂNG CAO ĐỜI
SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1.1. Quan điểm về kinh tế và phát triển kinh tế
“Kinh tế” được hiểu là tổng thể các yếu tố liên quan đến hoạt động
sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng nói chung. Kinh tế trở thành
một phạm trù cơ bản trong hệ thống lý luận mác xít, có liên hệ mật thiết
với đời sống xã hội, bởi kinh tế gắn với “việc tạo ra các điều kiện vật
chất cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu của toàn xã hội trong từng hoàn
cảnh lịch sử cụ thể”1. Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về
phát triển kinh tế, song tựu chung lại có thể thấy các quan niệm thể hiện
sự thống nhất ở những điểm cơ bản sau: Thứ nhất, phát triển kinh tế thể
hiện ở quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, phát triển kinh tế
gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng hiện đại
- công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thứ ba, khẳng định sự cần thiết của
việc gắn các chính sách kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội. Thứ tư, năng suất, chất lượng lao động chính là thước đo dùng
quản lý của người sử dụng lao động trong thời gian làm việc đã cam kết.
Thứ ba, người lao động là bộ phận cấu thành của lực lượng sản
xuất, là nhân tố quyết định đến mọi quá trình sản xuất xã hội, phản ánh
tổng hòa giữa thể lực, trí lực và tâm lực.
Trên cơ sở kế thừa và phân tích các luận điểm về người lao động nói
trên, tác giả luận án cho rằng: Người lao động là chỉnh thể thống nhất
giữa thực thể sinh học và thực thể xã hội, với sự phát triển toàn diện về
thể lực, trí lực và tâm lực, là chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất ra
của cải vật chất làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Với sự phát triển
12
toàn diện, người lao động là nhân tố quyết định hiệu quả, chất lượng
của phát triển kinh tế - xã hội.
Trong giới hạn của luận án này, tác giả chỉ tập trung tiếp cận chủ thể
người lao động ở hai nhóm thành phần là giới trí thức là công chức, viên
chức - người lao động làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp nhà
nước và công nhân, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp đóng
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Nói đến đời sống của người lao động là nói đến sự tham gia của
người lao động trong các lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần. Đời
sống của người lao động chứa đựng đầy đủ các khía cạnh cảm xúc, tình
cảm, phản ánh quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan... Tác giả
luận án cho rằng: Đời sống của người lao động là sự thống nhất giữa
đời sống sinh học và đời sống xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống
tinh thần. Sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh
thần là điều kiện để người lao động, xã hội tồn tại và phát triển. Nâng
cao đời sống người lao động là một quá trình giúp gia tăng khả năng
kiểm soát rủi ro và làm cho đời sống vật chất, tinh thần của người lao
định xã hội, làm cho kinh tế chậm phát triển. Người lao động được xác
định là nguồn tài nguyên quý giá nhất của quốc gia, là bộ phận tiên
quyết của lực lượng sản xuất.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao
động được xem nhân tố đảm bảo cho quá trình chuyển đổi thành công cơ
cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Người lao động cần có bước chuẩn bị
tri thức, sẵn sàng tâm thế trở thành công dân toàn cầu.
Ba là, mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trở thành động
lực thúc đẩy việc hoàn thiện chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, thực
hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Việc bảo đảm ngày càng tốt hơn an
14
sinh và phúc lợi xã hội đã trở thành một trong những nội dung chủ yếu
của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.
Mục đích sau cùng của phát triển kinh tế là vì con người, tạo môi trường
thuận lợi để con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có trí lực và cơ
hội tham gia, phát huy sáng tạo trong lao động sản xuất. Để cải thiện
năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, các chính
sách xã hội cần phải thể hiện sự linh hoạt, hợp lý và có hiệu quả. Đó là
kết hợp thực hiện tốt vấn đề công bằng xã hội, chế độ tiền lương, tiền
thưởng hợp lý, sử dụng lao động có hiệu quả. Chính sách khoán, thực
hành tiết kiệm, tăng cường tích lũy, huy động vốn, cải cách hành chính,
thực hiện công bằng trong lưu thông phân phối,… để giúp cho nền kinh
tế tăng trưởng nhanh, mạnh và vững chắc.
1.2.2. Sự tác động của việc nâng cao đời sống người lao động
đến phát triển kinh tế
Nâng cao đời sống người lao động có những tác động tích cực đến
phát triển kinh tế, cụ thể như sau:
Một là, nâng cao đời sống người lao động là góp phần phát triển
triển sản xuất hiệu quả.
Bốn là, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động
góp phần xóa đói giảm nghèo, phát huy sức mạnh tổng hợp các nguồn
lực khác nhau cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Phát triển
kinh tế trở thành nhu cầu tất yếu khách quan, đói nghèo vừa có nguyên
nhân chủ quan, vừa mang tính khách quan. Ở nước ta, vấn đề xóa đói
giảm nghèo được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Để đạt được
16
mục tiêu tăng trưởng, quá trình chuyển dịch kinh tế mang lại hiệu quả và
công bằng xã hội được thực thi cần phải có sự đầu tư, huy động mọi
nguồn lực cần thiết, trong đó để tăng cường sức sản xuất cần dựa vào
nguồn lực con người mà trước tiên là sức lao động, khả năng làm chủ,
sáng tạo của người lao động.
Như vậy, phát triển kinh tế trở thành nhu cầu tất yếu khách quan.
Gắn phát triển kinh tế với việc không ngừng nâng cao đời sống là để
đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của người lao động. Muốn đạt được
mục tiêu tăng trưởng, quá trình chuyển dịch kinh tế mang lại hiệu quả và
công bằng xã hội được thực thi cần phải có sự đầu tư, huy động mọi
nguồn lực cần thiết, trong đó để tăng cường sức sản xuất phải dựa vào
nguồn lực con người mà trước tiên phải biết dựa vào sức người, tinh
thần làm chủ, sáng tạo của người lao động.
Kết luận chương 1
Quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao
động là mối quan hệ biện chứng khách quan. Phát triển kinh tế cung cấp
nguồn lực vật chất, giúp gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu chất lượng
sống ngày càng cao của người lao động, góp phần giải quyết việc làm,
2.1.1. Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm kinh tế - văn
hóa xã hội của thành phố Hồ Chí Minh với phát triển kinh tế và
nâng cao đời sống người lao động
Về điều kiện địa lý tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh. Thành
phố Hồ Chí Minh có đặc điểm địa lý thuận lợi, là cửa ngõ giao thông
quốc tế quan trọng, nơi hội tụ các điều kiện thuận lợi để phát triển giao
thương kinh tế - văn hóa quốc tế. Bên cạnh đó, với địa hình bằng phẳng,
khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa ôn hòa với hai mùa mưa nắng,
quanh năm không có bão cùng với hệ thống song rạch chằng chịt, rất
phù hợp cho việc tổ chức giao thông, giao thương vận chuyển hàng hóa
từ khắp mọi nơi đổ về; đồng thời cung cấp nguồn nước ngọt lớn đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống dân cư.
Về kết cấu hạ tầng và đặc điểm kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển
tương đối hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại. Đây là địa phương đầu tiên
trong cả nước sớm tiếp thu, phát triển năng động nền kinh tế thị trường
hàng hóa nhiều thành phần. Kinh tế công nghiệp được kế thừa và phát
19
triển trên nền tảng của nền công nghiệp khá tiến bộ phương Tây do lịch
sử để lại, trong khi các địa phương khác của đất nước còn mang nặng
kinh tế tự cấp, tự túc. Thành phố trở thành trung tâm kinh tế phát triển
công nghiệp, dịch vụ, thương mại, khoa học - công nghệ. Quá trình giao
lưu, tiếp biến kinh tế - văn hóa diễn ra sâu rộng đã hình thành tư duy
khai phóng về kinh tế, đa dạng về văn hóa, giúp tập hợp và sử dụng hiệu
quả các nguồn lực phát triển kinh tế.
Về hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe : Thành phố Hồ Chí Minh có hệ
và quốc tế.
Với những thế mạnh riêng nổi bật nói trên, thành phố Hồ Chí Minh
có khả năng tạo ra một thị trường năng động kết nối phát triển kinh tế
vùng với khu vực và quốc tế. Hội tụ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Hiện nay, thành phố
Hồ Chí Minh đang tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, chuyển dịch mô hình đô thị hóa từ chiều rộng sang chiều sâu.
Hướng đến “xây dựng thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện
đại, nghĩa tình”.
2.1.2. Quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hồ Chí
Minh về gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động
Nội dung quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hồ Chí
Minh về gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động, có thể
khái quát ở những điểm chính sau:
Một là, khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế vốn có, tập trung
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng và
sức cạnh tranh của các ngành kinh tế mũi nhọn để tăng cường nguồn lực
cho phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở: “Tập trung
21
các nguồn lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh
các ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công
nghệ cao, giá trị gia tăng cao; phát triển nông nghiệp công nghệ cao,
nông nghiệp sinh thái; đi đầu cả nước trong chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều
sâu, đảm bảo chất lượng, hiệu quả cao, bền vững” 1. Mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020: “Phát triển
kinh tế nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng
kiện cho phát triển bền vững. Phát triển văn hóa là làm cho các giá trị xã
hội thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng cá
nhân, gia đình và toàn xã hội, hình thành nên đời sống tinh thần cao đẹp,
trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”. Phát triển văn hóa trên cơ sở phát huy chủ nghĩa
yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự
cường để tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh chống lại nghèo nàn,
lạc hậu, đưa thành phố Hồ Chí Minh phát triển giàu mạnh. Gắn phát
triển kinh tế với phát triển văn hóa để phát triển con người toàn diện
cũng chính là tinh thần được thể hiện trong Nghị quyết 33-NQ/TW của
Hội nghị Trung ương 9 (Khóa XI), nhằm “tạo môi trường và điều kiện
để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất,
tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp
luật” trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế. Mục tiêu chiến lược lâu dài là hướng đến “xây dựng thành phố Hồ
Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình” 1.
Bốn là, tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục - đào
tạo gắn với phát triển chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực lao
động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Việc tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển
nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao được cho là có vai trò
1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2015). Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, Trang 119.
23
quyết định làm gia tăng giá trị cả về vật chất, tinh thần, trí tuệ, kỹ năng,
(1990) lên 1365 USD (2000) và đến năm 2015 tăng lên 5538 USD, cao
gấp 2,62 lần so với mức bình quân chung của cả nước. Tổng sản phẩm
nội địa (GRDP) của Thành phố năm 2014 đạt trên 40 tỷ USD gấp 7,5 lần
so với năm 2000. Quá trình phát triển kinh tế của trong những năm qua
đã giúp cho hoạt động tái sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật được
của Thành phố mở rộng, điều kiện sống, môi trường làm việc được quan
tâm cải thiện, nâng mức sống của các tầng lớp nhân dân lao động. Tuy
nhiên, nguồn lực vật chất phục vụ nhu cầu nâng cao mức sống, chất
lượng sống của người lao động còn bộc lộ những tồn tại yếu kém sau:
(1) Chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế đạt được chủ yếu vẫn dựa
vào các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng, thiếu ổn định và có nguy cơ
giảm phát. (2) Tồn tại sự mất cân đối về nguồn lực cũng như mức độ hội
tụ các nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội giữa thành phố Hồ Chí
Minh với các địa phương khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
và cả nước. Nguyên nhân của những tồn tại trên, là do kết quả tăng
trưởng kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tăng trưởng về vốn thông qua
hình thức kêu gọi đầu tư quốc tế và lợi thế Thành phố tập trung đông
nhân lực lao động phổ thông, giá nhân công rẻ. Bên cạnh đó, nguồn lực
kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đã và đang bị vắt kiệt. Kinh tế
Thành phố hàng năm đã tạo ra gần 20% GDP và đóng góp hơn 30%
ngân sách quốc gia, nhưng thành phố Hồ Chí Minh chỉ được giữ lại chưa
đến 25% nguồn thu phục vụ cho phát triển.
Hai là, gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng
trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế với giải quyết nhu cầu
việc làm, phát triển lực lượng sản xuất: Thành phố Hồ Chí Minh đã và
đang tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, vị trí của một đô thị đặc
25