ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa đất
nước với tốc độ cao.Trong những năm qua, tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) tăng bình quân hàng năm là trên 8%, công nghiệp tăng bình
quân hàng năm là 13,3%. Đó là mức tăng trưởng khá cao so với các
nước trên thế giới và trong khu vực. Mục tiêu phấn đấu đã được Đảng
và nhà nước ta xác định là :”Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu
đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”.Theo định
hướng mục tiêu đó, dự kiến kế hoạch trong những năm tới, tăng
trưởng kinh tế ở nước ta, mặc dù có những khó khăn do tác động của
khủng hoảng tài chính thế giới và khu vực,vẫn phải được duy trì ở
mức cao, khoảng 6-8%/năm so với 8,2% của giai đoạn 1991-1995.
Một tốc độ tăng trưởng khá cao như vậy sẽ còn được dự kiến tiếp tục
duy trì trong một vài thập kỉ tới.
Sự tăng trưởng cao như vậy là một điều cần thiết nhằm làm
cho đất nước nhanh chóng phát triển, hòa nhập với nền kinh tế thế
giới và khu vực.nhưng đồng thời cũng chính sự phát triển với nhịp độ
cao như vậy cũng có nghĩa là một khối lượng tài nguyên thiên nhiên
ngày càng tăng được khai thác từ tự nhiên để chế biến, và một khối
lượng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng ngày càng tăng được thải vào
tự nhiên. Nhất là trong những năm gần đây, do nền kinh tế nước ta
đang đi trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã đẩy mạnh
quá trình đô thị hóa, dẫn đến tình trạng môi trường đô thị ngày càng ô
nhiễm nặng nề, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, các
thành phố lớn. Do vậy, bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề
quan trọng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược
chung về kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa -hiện đại hóa
đất nước. Để có một sự phát triển bền vững, cần phải có một chương
trình hành động thống nhất và có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau giữa
phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường. Nếu
không có một chính sách đúng đắn, cụ thể về bảo vệ môi trường, nền
III. Một số giải pháp để kết hợp phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái ở nước ta.
NỘI DUNG
2
I. Quan điểm biện chứng về mâu thuẫn.
- Khái niệm: Mâu thuẫn biện chứng là mối liên hệ tác động qua
lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật hay giữa sự
vật này với sự vật khác.
1. Tính phổ biến của mâu thuẫn.
Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong tất cá các sự vật, hiện
tượng. Mâu thuẫn hết sức phong phú và đa dạng.Tính phong phú và
đa dạng đó được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các
mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại giữa chúng,bởi trình độ tổ
chức hệ thống (sự vật) mà trong đó mâu thuẫn tồn tại.
Mâu thuẫn tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội dưới nhiều
hình thức khác nhau : mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài,
mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và
mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối
kháng. Không những tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới
mà mâu thuẫn còn tồn tại phổ biến trong suốt quá trình phát triển của
chúng. Không có sự vật, hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và
không có giai đoạn trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng lại
không tồn tại mâu thuẫn, một khi mâu thuẫn này mất đi thì lại có mâu
thuẫn khác được hình thành.Ngay cả trong lĩnh vực tư duy cũng vậy,
chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn ;chẳng hạn như mâu thuẫn
giữa năng khiếu nhận thức vô tận ở bên trong của mỗi con người với
sụ tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế
bởi hoàn cảnh bên ngoài,và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận
thứ, mâu thuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ
con người, thế hệ nào cũng đều đạt được những tiến bộ nhất định
các mặt đối lập “Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập
thì cũng không có đấu tranh giữa chúng .Thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện
chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa
tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu
thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
II. Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trường sinh thái ở Việt Nam.
1. Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trường.
1.1 Khái niệm:
• Phát triển kinh tế :
- Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện
cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện cho được ba nội dung sau:
+ Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
+ Sự biến đổi kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các
ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên,
còn tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống.
+ Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự
tăng lên của nhu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi
người được hưởng.
• Môi trường sinh thái – Kinh tế môi trường :
- Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và
phát triển cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riên,
của nền kinh tế - xã hội và nhận thức của loài người nói chung. Theo
nghĩa rộng, môi trường của con con người, của vật thể hay sự kiện là
tổng thể các điều kiện bên ngoài bao gồm các vật thể hữu sinh và vô
• Phát triển bền vững :
- Nguồn gốc chủ yếu của mọi biến đổi về môi trường sống của nhân
loại đang xảy ra hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta là các
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người. Các hoạt động
này một mặt cải thiện chất lượng môi trường sống của con người,
hơn nữa con người hiện đại có cuộc sống đầy đủ về vật chất, an
toàn về sinh mệnh, phong phú về văn hóa và các chuẩn mực khác.
Mặt khác các hoạt động này lại tạo ra hàng loạt các vấn đề khác như
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi
trường khắp mọi nơi trên toàn thế giới.
- Phát triển là áp lực của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hóa đã
và đang diễn ra trên hành tinh của chúng ta từ khi nó được hình
thành. Vấn đề đang được tìm tòi là phát triển như thế nào để con
người của các thế hệ hiện nay cũng như trong tương lai có được
cuộc sống hạnh phúc về vật chất cũng như tinh thần. Từ đó đã ra đời
khái niệm “phát triển bền vững” .Theo Hội đồng Thế giới về môi
trường và phát triển WCED thì “Phát triển bền vững là sự phát triển
đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của
các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.
1.2 Sự đối lập và thống nhất giữa phát triển kinh tế và môi
trường sinh thái.
1.2.1. Sự đối lập.
Trong cuộc sống ngày nay, do nhu cầu về điều kiện sống của con
người ngày càng cao nên tất yếu sẽ thúc đẩy chúng ta phải phát triển
kinh tế để thỏa mãn những nhu cầu đó. Tuy nhiên việc phát triển kinh
tế đòi hỏi phải có nguồn cung cấp nhiều hơn về nguyên vật liệu để
5
đảm bảo quá trình mở rộng sản xuất, mà nguồn cung cấp đó lại được
lấy từ tự nhiên và điều này tất yếu sẽ dẫn đến việc ảnh hưởng tới môi
trường sinh thái: khai thác quá mức, tàn phá tài nguyên trên phạm vi
7 – 10 năm nền kinh tế mới đổi mới được công nghệ của mình. Trong
khoảng thời gian đó thì môi trường đã phải chịu những tác động hết
sức nặng nề.
1.2.1.2. Cơ cấu các ngành sản xuất sẽ chuyển dịch theo hướng tăng
nhanh tỉ lệ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Các phương án phát triển được đề xuất ở tầm vĩ mô (cả nước),
tầm trung mô (ngành, địa phương) và vi mô (công ty, doanh nghiệp)
đều có nét chung nổi bật là tốc độ tăng trưởng cao của sản xuất công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ thường được xác định khoảng 12 – 15
% /năm so với sản xuất nông nghiệp (thường được xác định khoảng 4
– 6 % /năm). Kết quả là tỉ trọng của sản xuất công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ trong GDP có xu hướng tăng lên nhanh chóng. Sự tăng trưởng
cao của các ngành công nghiệp, xây dựng nhất định sẽ dẫn đến các
vấn đề môi trường cần quan tâm đặc biệt, bởi lẽ đằng sau mức tăng
6
trưởng của sản xuất công nghiệp tàng ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường. Kinh nghiệm quốc tế đã khái quát mối quan hệ giữa tăng
trưởng công nghiệp, đô thị hóa và chất lượng môi trường ở các nước
đang phát triển như sau:
Chúng ta có thể thấy rằng, nếu như không có các chính sách,
chiến lược phù hợp thì khi định hướng phát triển công nghiệp của Việt
Nam nhằm vào các ngành mà đất nước hiện đang có lợi thế so sánh
như: công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng,
chế biến nông, lâm, hải, sản, dệt may, thì sẽ càng thấy rõ những nguy
cơ tiềm ẩn lớn dần về ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ các ngành công
nghiệp nói trên đều thuộc loại danh mục các nguồn lớn nhất gây ô
nhiễm môi trường.
Nếu đi sâu vào cơ cấu sản xuất công nghiệp thì có thể dự báo
sự tăng nhanh hơn cả về nguồn gây ô nhiễm môi trường ở tốc độ khai
thác tài nguyên (than, dầu mỏ…) cao. Chiến lược phát triển dầu khí
cho thấy tổng lượng phát thải khí CO
2
vào năm 2010 từ sự tiêu dùng
năng lượng sẽ tăng gấp 3 lần năm 1999.
Vì vậy, ta có thể thấy từ thực tế Việt Nam những năm qua,
chúng ta càng tập trung vào các ngành công nghiệp, xây dựng, nền
kinh tế tăng trưởng càng cao thì môi trường sinh thái ngày càng bị ảnh
hưởng một cách nghiêm trọng. Đây chính là một trong những khía
cạnh chính của sự đối lập giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
sinh thái.
1.2.1.3. Không chỉ trong công nghiệp và xây dựng, việc phát triển
nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở ngay Việt
Nam nói riêng cũng đã và đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường
sinh thái.
Thâm canh trong sản xuất nông nghiệp ngày càng sâu rộng sẽ
tiếp tục sử dụng ngày càng nhiều chất hóa học vô cơ độc hại và khó
phân giải.
Trong cơ cấu GDP của nước ta, giá trị của nông, lâm ngư
nghiệp vẫn còn chiếm giữ một tỉ trọng tương đối lớn (khoảng gần ¼).
Ở phần lớn các tỉnh và địa phương, tỉ lệ này còn có nơi chiếm tới 50 –
60 %. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng của
sản xuất nông nghiệp sẽ gắn liền với việc thâm canh ngày càng tăng
trong sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Quá trình
thâm canh hóa sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục gắn
liền với việc tăng cường sử dụng các loại phân vô cơ, thuốc trừ sâu,
diệt cỏ. Vào năm 1996, mức sử dụng phân bón hóa học cho một hécta
sản xuất nông nghiệp ở nước ta trung bình vào khoảng 120 -150 kg.
1996 – 2000 2001 - 2005 2006 - 2010
Than nguyên khối 55.879 72.977 78.271
Than hầm lò 17.816 29.929 34.894