So sánh câu nghi vấn trong tiếng anh và tiếng việt trên bình diện ngữ dụng - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Thị Châu Anh

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 60 22 0110
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Công Đức
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP
PHẢN BIỆN 1
PHẢN BIỆN 2
PHẢN BIỆN 3

: PGS.TS Trần văn Phước
: PGS.TS Hà Quang Năng
: GS.TS Diệp Quang Ban
: PGS.TS Trần văn Phước
: PGS.TS Nguyễn Văn Huệ

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2012


i

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu
khoa học của tôi.
Các kết quả của luận án là trung thực và chưa từng được
ai khác công bố trong bất kỳ công trình nào khác.


iii

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1. Quy ước trích dẫn
Tài liệu trích dẫn được ghi theo số thứ tự tương ứng của nó trong danh mục TÀI LIỆU
THAM KHẢO trong dấu ngoặc vuông, ví dụ [125], nếu dẫn có số trang thì số trang được
ghi theo sau dấu phẩy “,” phía sau số thứ tự tài liệu tham khảo của tác giả đó trong phần
tài liệu tham khảo và được đặt trong ngoặc vuông.
Ví dụ: “A” [19, tr.45]: nghĩa là “A” được trích dẫn từ tài liệu số 19 trong TÀI LIỆU
THAM KHẢO và trích ở trang 45.
Dẫn chứng trích nguyên văn của tác giả được đặt trong ngoặc kép. Phần trích dẫn sẽ được
đặt trong đặt trong dấu ngoặc kép nếu trích dẫn nguyên văn không quá ba dòng. Tài liệu
được trích dẫn nhiều hơn 3 dòng sẽ được dẫn thành một đoạn in nghiêng, lùi vào lề trái
2cm.
Tài liệu tham khảo được ghi theo tên tác giả và năm xuất bản tạp chí, ấn phẩm, các công
trình khoa học được công bố và xuất bản. Tên tác giả đứng trước và kế đến là năm xuất
bản sách của tác giả trong dấu ngoặc đơn.
Danh mục tài liệu tham khảo được chia làm hai phần gồm các tài liệu bằng tiếng Việt và
các tài liệu bằng tiếng Anh hay các ngôn ngữ khác. Các tác giả là người Việt Nam được
xếp theo thứ tự abc theo tên và các tác giả người nước ngoài được xếp thứ tự theo họ
trong phần tài liệu tham khảo. Nếu tác giả có trên một tài liệu trong cùng một năm thì sau
năm có thêm ký tự a, b, c, …
Ví dụ: Nguyễn Đức Dân (1998a), (1998b)…
2. Quy ước đánh số
Các ví dụ được in nghiêng đánh số từ nhỏ đến lớn xuyên suốt luận án, từ ví dụ 1 đến ví dụ
n. Các biểu đồ minh họa được đánh số riêng cho từng chương. Các Biểu đồ trong Chương
1 được quy ước đánh số từ (1.1), (1.2), (1.3), … đến (1.n).
Các bảng minh họa cho phương phương pháp định lượng trong luận án sẽ được đánh dấu
theo từng chương. Chẳng hạn, Chương 1 sẽ bắt đầu từ Bảng 1.1 và Biểu đồ 1.1. Chương 2

C: Chủ ngữ

2

C - V: cấu trúc chủ - vị

3

GT: công cụ dịch tự động Google Translation

4

GV: giáo viên

5

HVNN: Hành vi ngôn ngữ

6

Sp: người nói, thoại nhân trong cuộc thoại

7

SV: sinh viên

8

V: vị ngữ


1.4
Khái niệm về phép lịch sự và hành vi ngôn ngữ có liên quan đến
câu nghi vấn trong tiếng Việt
Tiểu kết Chương 1
CHƯƠNG 2: SO SÁNH CÂU NGHI VẤN TRONG BẢN TIẾNG ANH CỦA
TÁC PHẨM HARRY POTTER, QUYỂN 1 VÀ TRONG BẢN TIẾNG VIỆT
CỦA DỊCH GIẢ LÝ LAN
Kết quả khảo sát câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.1
trong tác phẩm Harry Potter, Q1 về mặt hình thức
2.1.1
Kết quả thống kê phân loại câu nghi vấn trong tiếng Anh về mặt
hình thức
2.1.2
Kết quả thống kê phân loại câu nghi vấn trong tiếng Việt về mặt
hình thức
2.2
Nhận xét về tương đồng và khác biệt của câu nghi vấn trong cả
hai ngôn ngữ đang xét từ góc độ tiền dụng học đến dụng học
2.2.1
Những điểm tương đồng
2.2.2
Những điểm khác biệt
2.3
Kết quả khảo sát câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt
trong tác phẩm Harry Potter, Quyển 1 về mặt ngữ dụng
2.3.1
Kết quả thống kê và phân tích dữ liệu thống kê về các từ ngữ chỉ
xuất xưng và gọi trong tiếng Anh và tiếng Việt
Kết quả khảo sát các giá trị ngôn trung của câu nghi vấn trong tác

76


vi

CHƯƠNG 3: SO SÁNH CÂU NGHI VẤN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG
VIỆT QUA CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP TẠI LỚP HỌC
3.1
Những phương tiện diễn đạt lịch sự qua câu nghi vấn trong cả hai
ngôn ngữ Anh – Việt
3.1.1
Những phương tiện diễn đạt lịch sự qua câu nghi vấn trong tiếng
Anh
3.1.2
Những phương tiện diễn đạt lịch sự qua câu nghi vấn trong tiếng
Việt
3.2
Kết quả khảo sát câu nghi vấn về phương diện hình thức và
phương diện ngữ dụng qua 5 hành vi ngôn ngữ
3.2.1
Kết quả khảo sát về cách dùng các từ xưng hô của tiếng Anh và
tiếng Việt trong ngữ cảnh giao tiếp tại lớp học
3.2.2
Về phương diện hình thức
3.2.3
Về phương diện ngữ dụng
3.3
Nhận xét
Tiểu kết Chương 3
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG KẾT QUẢ ĐỐI CHIẾU NHỮNG PHƯƠNG TIỆN

KẾT LUẬN

77
81
86
90
93
93
97
105
126
137
139
139
142
152
155
160
164
165
169
179
181

Danh mục các công trình khoa học đã công bố của Nghiên cứu sinh

188

Tài liệu tham khảo


Bảng 2.1a: Thống kê mô tả sự phân bố của các dạng thức câu hỏi
tổng quát trong nguồn ngữ liệu tiếng Anh (N=213)

47

3

Bảng 2.1b: Thống kê mô tả sự phân bố của các dạng thức câu hỏi
chuyên biệt trong nguồn ngữ liệu tiếng Anh (N=213)

49

4

Bảng 2.2a: Thống kê mô tả sự phân bố của các dạng thức câu hỏi
tổng quát trong nguồn ngữ liệu tiếng Việt (N=213)

49

5

Bảng 2.2b: Thống kê mô tả sự phân bố của các dạng thức câu hỏi
chuyên biệt trong nguồn ngữ liệu tiếng Việt (N=213)

51

6

Bảng 2.3: Những điểm tương đồng về mặt hình thức của câu hỏi
chuyên biệt trong tiếng Anh và tiếng Việt


11

Bảng 2.8: Nhận diện các giá trị ngôn trung cầu khiến trên thang độ
lực ngôn trung

65

12

Bảng 2.9: Thống kê các giá trị ngôn trung của câu nghi vấn trong
tiếng Anh và tiếng Việt trên cứ liệu khảo sát

66

13

CHƯƠNG 3
Bảng 3.1: Thông tin mô tả về các tham nghiệm viên

78

14

Bảng 3.2 Tiêu chí đánh dấu tính lịch sự trong câu nghi vấn

90

15


Bảng 3.5: Thống kê tần số xuất hiện câu nghi vấn không chính danh
trong 5 hành vi ngôn ngữ trong tiếng Anh

99

20

Bảng 3.6: Thống kê tần số xuất hiện câu nghi vấn ở 5 hành vi ngôn
ngữ trong tiếng Việt

95

21

Bảng 3.7a: Bảng thống kê mô tả số lượng câu nghi vấn trong tiếng
Anh về mặt hình thức

99

22

Bảng 3.7b: Bảng thống kê mô tả số lượng câu nghi vấn trong tiếng
Việt về mặt hình thức

100

23

Bảng 3.8: Thống kê mô tả câu nghi vấn phân bố trên thang đo lịch
sự qua 5 hành vi ngôn ngữ trong tiếng Anh (Sp1

28

Bảng 3.11c: Hành vi chê dành cho bạn bè trong tình huống giao tiếp
tại lớp học

111

29

Bảng 3.11d: Hành vi mời dành cho bạn bè trong tình huống giao tiếp
tại lớp học

112

30

Bảng 3.11e: Hành vi yêu cầu dành cho bạn bè trong tình huống giao
tiếp trong lớp học

113

31

Bảng 3.12: Thống kê mô tả 5 hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt với
vai giao tiếp Sp1
36

Bảng 3.16b: Kết quả về cách thức đáp lại hành vi mời

123

37

Bảng 3.16c: Kết quả về cách thức đáp lại hành vi yêu cầu

124

38

Bảng 3.17a: Kết quả khảo sát về các yếu tố quan trọng tác động lên
lực ngôn trung của câu nghi vấn trong hành vi mượn

124

39

Bảng 3.17b: Kết quả khảo sát về các yếu tố quan trọng tác động lên
lực ngôn trung của câu nghi vấn trong hành vi mời

124

40

Bảng 3.17c: Kết quả khảo sát về các yếu tố quan trọng tác động lên
lực ngôn trung của câu nghi vấn trong hành vi yêu cầu


141

45

Bảng 4.2: Các loại lỗi trong hành vi mượn từ dữ liệu khảo sát

142

46

Bảng 4.3: Mô tả lối nói trực tiếp và gián tiếp khi sử dụng câu nghi
vấn trong hành vi mời

151

47

Bảng 4.4: Phân tích lỗi trên thực tiễn đối dịch Anh-Việt của sinh
viên và biện pháp khắc phục
Bảng 4.5: Mô tả và minh họa sự hành chức đa dạng của tiểu từ tình
thái trong các câu nghi vấn trong tiếng Việt

152

49

Bảng 4.6: Kết quả khảo sát đợt 3 về cách dùng các câu nghi vấn
chính danh và phi chính danh trên bình diện ngữ dụng


B. 19 BIỂU ĐỒ
STT

CHƯƠNG 2

Số
trang
46

1

Biểu đồ 2.1a: Thống kê phân loại câu hỏi tổng quát trong tiếng Anh

2

Biểu đồ 2.1b: Thống kê phân loại câu hỏi chuyên biệt trong tiếng Anh

48

3

Biểu đồ 2.2a: Thống kê phân loại câu hỏi tổng quát trong tiếng Việt

50

4

Biểu đồ 2.2b: Thống kê phân loại câu hỏi chuyên biệt trong tiếng Việt

52

8

Biểu đồ 3.4a: So sánh số lượng câu nghi vấn trong tiếng Anh về dạng
thức

100

9

Biểu đồ 3.4b: So sánh số lượng câu nghi vấn trong tiếng Việt về
dạng thức

101

10

Biểu đồ 3.5: Kết quả thống kê và mô tả 5 hành vi ngôn ngữ trong tiếng
Anh trên thang độ lịch sự từ A đến E

104

11

Biểu đồ 3.6: Mô tả hành vi chê trên thang đo lịch sự A,B,C,D,E trong
tiếng Anh (Sp1
Anh- Việt

167

17

Biểu đồ 4.3: Kết quả đối dịch 108 câu nghi vấn từ tiếng Việt sang
tiếng Anh

168


xi

18

Biểu đồ 4.4: So sánh kết quả thử nghiệm độ tin cậy của GT qua hai
cách nhập dữ liệu khác nhau

178

19

Biểu đồ 4.5: So sánh kết quả thử nghiệm độ tin cậy của GT khi dịch
108 câu nghi vấn từ Việt sang Anh theo cách nhập dữ liệu gồm 9 bước
đề nghị tại Chương 4

179

KẾT LUẬN

chức theo nền văn hóa của người Anh.


2

Để tìm lời giải cho những câu hỏi này nhằm đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng
trên, trong quá trình dạy kỹ năng dịch và các kỹ năng ngôn ngữ khác trong lớp học
như nghe, nói, đọc và viết, người thầy nên chỉ ra những điểm tương đồng và khác
biệt của hai ngôn ngữ trong hai nền văn hóa khác nhau là Anh ngữ và Việt ngữ và
những kiểu nói lịch sự trong các hành vi ngôn ngữ khi chuyển dịch qua lại giữa hai
ngôn ngữ Anh-Việt.
Việc so sánh những điểm khác biệt và tương đồng của câu nghi vấn trong cả hai
ngôn ngữ Anh và Việt từ một nguồn ngữ liệu phong phú về các phương tiện diễn
đạt câu nghi vấn theo nghi thức lịch sự trong tương tác xã hội là một việc làm cần
thiết, đặc biệt là có thể giúp cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh và sinh viên
nước ngoài học tiếng Việt có được một kim chỉ nam trong kỹ năng giao tiếp, từ đó
có được mối quan hệ hợp tác đúng đắn, năng động và lịch sự khi giao tiếp với nhau,
cụ thể là có thể sử dụng các hành vi ngôn ngữ theo đúng phép lịch sự trong các tình
huống giao tiếp cụ thể.
Trong giai đoạn phát triển của ngành ngôn ngữ học hiện nay, ngữ dụng học đã xác
định đối tượng của mình là ngôn ngữ đang vận hành chứ không phải trong một hệ
thống tĩnh tại. Cả hai ngôn ngữ đang xét, tiếng Anh và tiếng Việt, đều đang hành
chức trong hoạt động mang tính tương tác giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân
với xã hội. Một trong những vấn đề thiết yếu có liên quan đến nghi thức giao tiếp
trên bình diện ngữ dụng là phép lịch sự. Vấn đề lịch sự hay lễ phép chuẩn mực
trong tương tác xã hội trong cả hai nền văn hóa Anh và Việt là vấn đề ngày càng thu
hút sự chú ý của nhiều người trong thời đại xã hội đang phát triển về mọi mặt trong
giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Nghi thức lịch sự trong lời nói không chỉ là
một vấn đề thuần túy về ngôn ngữ học, mà nó còn được chi phối và ảnh hưởng bởi
những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ như tình huống giao tiếp, phong tục tập quán, văn

học tiếng Việt một tài liệu tham khảo về các chiến lược giao tiếp lịch sự trong nền
văn hóa Việt của người Việt qua các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt.
Giảng dạy sẽ là công việc lý thú nếu người dạy chỉ ra được những sai sót nơi người
học, đồng thời tìm được những giải thích ngắn gọn dễ hiểu nhất để truyền đạt đến
người học. Đối với người nước ngoài học tiếng Việt, tác giả của luận án cũng hy
vọng rằng những phân tích, mô tả đặc điểm về ngữ nghĩa–ngữ dụng của câu nghi
1

Tác giả luận án tạm dùng thuật ngữ học viên nước ngoài để chỉ chung những người nước ngoài, không phải
là người Việt hiện đang học và sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ.


4

vấn trong tiếng Anh khi so sánh với câu nghi vấn trong tiếng Việt có thể giúp cho
học viên nước ngoài sử dụng câu nghi vấn trong tiếng Việt qua các hành vi ngôn
ngữ trong giao tiếp được tốt hơn. Sinh viên có thể ứng dụng những nghi thức lịch sự
thích hợp, đúng chuẩn mực trong việc sử dụng câu nghi vấn trong cả hai ngôn ngữ
để giao tiếp với bạn bè và thầy cô tiêu biểu cho hai vị thế xã hội khác nhau: ngang
bằng và cao hơn trong thực tiễn giao tiếp xã hội.
Cũng xuất phát từ những bức xúc trong công việc giảng dạy tiếng Anh bậc cao
đẳng, đại học và đặt vấn đề về công tác truyền đạt kiến thức cho sinh viên, tác giả
của luận án đã mạnh dạn bước sang lĩnh vực nghiên cứu về các hành vi ngôn ngữ
được biểu đạt qua câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm biện pháp khắc
phục những khó khăn trong việc học ngoại ngữ của sinh viên trong thực tiễn giao
tiếp và dịch thuật. Hy vọng rằng những gì tìm thấy được trong lĩnh vực của đề tài
này sẽ quay lại phục vụ đắc lực cho học viên và cũng là nhiệm vụ thực tế của những
người thầy dạy tiếng. Đó cũng chính là lý do mà các công trình nghiên cứu của luận
án mong muốn được đóng góp.


(imperative) và thức cảm thán (exclamative). Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu bao
giờ cũng tồn tại dưới một thức nhất định. Thức của câu (sentence mood) trong tiếng
Việt là giá trị tình thái của các kiểu câu khi sử dụng trong giao tiếp. Thức của câu
tiếng Việt được diễn đạt bằng những dấu hiệu hình thức và biểu thức thức (mood
expressions) cùng với yếu tố tình thái khác trong câu làm thành phần thức và phần
còn lại trong câu có quan hệ với phần thức được gọi là phần dư (residue). Quan hệ
của phần thức với phần dư làm thành cấu trúc thức. Thức của câu cũng là cơ sở để
xác lập các kiểu câu.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (2003b) [22, tr.72-90], phạm trù xưng hô hay phạm trù
ngôi bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự
đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người đang giao tiếp với mình (đối xưng)
vào diễn ngôn. Phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp
đang diễn ra với điểm gốc là người nói. Khi vai trò của người nói luân chuyển thì
ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai cũng thay đổi theo. Ngôi thứ ba trong thực tế được
dùng để nói về người hay sự vật không tham gia vào cuộc giao tiếp. Trong các từ
xưng hô của tiếng Việt, có những từ chuyên ngôi là những từ chỉ dùng cho một ngôi


6

(tôi, tớ, mày) và những từ kiêm ngôi là những từ được dùng cho nhiều ngôi (người
ta, mình). Ý nghĩa liên cá nhân bao gồm cả ý nghĩa biểu cảm trong các đại từ xưng
hô của tiếng Việt. Ngoài ra, biểu thức “gọi” trong tiếng Việt nhằm hướng đến một
người nào đó làm cho người này biết rằng người gọi đang muốn nói gì đó với
“người được gọi”. Dựa trên nền tảng này, các vai đối xưng và tự xưng trong lý
thuyết ngôn ngữ của tác giả Đỗ Hữu Châu sẽ được luận án khảo sát cẩn thận bằng
nguồn tư liệu ngôn ngữ cụ thể trên diện rộng để đối chiếu cách dùng các từ xưng và
gọi trong phạm trù xưng hô trong cả hai ngôn ngữ.
Tác giả Nguyễn Đức Dân [27, tr.6, 17, 24, 65, 142-151] đã tổng kết sơ bộ những
công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có liên quan đến ngữ dụng học

Khi nói về các công trình của các tác giả nước ngoài về lĩnh vực ngữ dụng học
không thể không kể đến G. N. Leech. Theo Leech (1983) [188, tr.138-149], mục
tiêu của phép lịch sự được dựa trên khái niệm tổn thất và lợi ích. Dựa trên nguyên
tắc tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự và tối đa hóa những vấn đề lịch sự. Leech
đã đề ra những phương châm giao tiếp đóng góp trong hội thoại, trong đó ông cũng
đề cập về nguyên tắc hợp tác gồm: Quantity (Lượng), Quality (chất), Relation (quan
hệ), Manner (cách thức), và nguyên tắc lịch sự gồm các phương châm: khéo léo,
hào hiệp, tán đồng, khiêm tốn, thiện cảm, âm điệu của giọng nói thể hiện tính lịch
sự.
Tác giả Đinh Điền [30, tr.141-160] đã đề ra một số chiến lược dịch cơ bản trong
việc dịch máy. Ông đã kiểm định kết quả dành cho bài toán đánh giá chất lượng hệ
dịch EVT (English Vietnamese Translator), nêu được bài toán gán nhãn ngữ nghĩa
và ngữ pháp cho quy trình dịch máy. Đây là cũng là một gợi ý được xem như một
tiền đề và cơ sở lý thuyết cho tác giả của luận án nghiên cứu thử nghiệm chương
trình dịch máy Google Translate trên hệ thống mạng Internet toàn cầu nhằm kiểm
định độ tin cậy trong việc dịch câu nghi vấn từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược
lại từ máy dịch tự động Google Translate trên hệ thống mạng Internet nhằm đưa ra
các giải pháp đề nghị cải tiến chương trình huấn luyện chuyển dịch qua lại Anh –
Việt trên ngữ liệu song ngữ cho chương trình dịch máy Google Translation.
Các tác giả nghiên cứu về câu hỏi chính danh và không chính danh trong cả hai
ngôn ngữ trên bình diện kết học và ngữ nghĩa-ngữ dụng trong những năm gần đây


8

có liên quan đến luận án phải kể đến: 1) Nguyễn Đăng Sửu [109], [110], [111],
[112] đã có những đóng góp đáng kể về mặt phân loại các giá trị ngôn trung của câu
nghi vấn dựa trên một số tác phẩm và phân loại tần số xuất hiện của mỗi loại trên cứ
liệu khảo sát trong tiếng Anh và tiếng Việt; 2) Lê Đông (1996) [32] nghiên cứu về
ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt); 3) Nguyễn

tựu ngôn ngữ học của tác giả trên, thực hiện nhiệm vụ khảo sát chuyên sâu hơn về
so sánh câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt trong sử dụng ở tình huống giao
tiếp tại lớp học, và những ứng ứng dụng của nó trong việc dạy và học ngoại ngữ và
dịch thuật.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt
của loại câu nghi vấn trong sự hành chức của nó trên phương diện ngữ kết, và ngữ
nghĩa-ngữ dụng, qua đó làm sáng tỏ cách dùng câu nghi vấn trong thực tiễn dạy và
học ngoại ngữ cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh và trong một chừng mực nào
đó, cũng là tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên nước ngoài học tiếng Việt.
Việc đi sâu nghiên cứu bình diện ngữ dụng của câu nghi vấn trong tiếng Anh và
tiếng Việt với nguồn ngữ liệu đa dạng và phong phú từ các phiếu khảo sát của 1119
sinh viên cũng nhằm góp phần khẳng định được sự liên kết đa dạng của các thành tố
làm nên thức nghi vấn theo quan điểm của người dùng trong mối quan hệ liên nhân
trên phương diện lịch sự, đồng thời cũng phục vụ cho việc biên soạn các tài liệu
giảng dạy ngoại ngữ, trong đó câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt được
dùng trong nhiều bối cảnh giao tiếp khác nhau theo các mức độ lịch sự từ trang
trọng, trung hòa, thân mật đến suồng sã không khách sáo.
Để đạt được mục đích đã nêu, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
1. Nghiên cứu các vấn đề mang tính lý thuyết về câu nghi vấn trong cả hai ngôn ngữ
đang xét, các vấn đề về hành vi ngôn ngữ và phép lịch sự qua các hành vi ngôn ngữ
được thể hiện qua hình thức câu nghi vấn làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo
trên bình diện ngữ dụng;


10

2. Thống kê, phân loại, phân tích, mô tả những điểm khác biệt và tương đồng của
câu nghi vấn trong cả hai ngôn ngữ, đồng thời luận án cũng tìm hiểu sâu hơn về các


Để đạt được kết quả như mong đợi, tác giả của luận án sẽ sử dụng chủ yếu là
phương pháp phân tích ngữ nghĩa-ngữ dụng khi so sánh và đối chiếu câu nghi vấn
trong cả hai ngôn ngữ.
+ Phương pháp phân tích ngữ nghĩa-ngữ dụng: Trong mẫu khảo sát gồm 426 câu
nghi vấn chính danh và phi chính danh trong tiếng Anh (bản gốc) và tiếng Việt (bản
dịch) trích từ tác phẩm Harry Potter (Quyển 1), luận án sử dụng phương pháp phân
tích ngữ nghĩa-ngữ dụng và sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích giải
thích và chứng minh cho những điểm tương đồng và khác biệt của câu nghi vấn
trong 2 ngôn ngữ đang xét. Sự khác biệt rõ nét và cả những điểm khác tinh tế ẩn
mình ngay trong những chỗ được coi là giống hệt hoặc tương đương giữa hai ngôn
ngữ sẽ là cơ sở rất khoa học để xác định những khó khăn mà người Việt gặp phải
khi học tiếng Anh và từ đó, ở một chừng mực nào đó, có thể suy ngược lại những
khó khăn mà người bản ngữ Anh sẽ đối mặt khi học tiếng Việt.
+ Phương pháp thống kê: luận án khai thác nguồn ngữ liệu nghiên cứu bằng cách sử
dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi trắc nghiệm trong phiếu trưng cầu ý
kiến của sinh viên về cách sử dụng câu nghi vấn trên bình diện ngữ dụng. Phân tích
và tổng hợp dữ liệu khảo sát trên cơ sở thống kê mô tả bằng chương trình SPSS,
khảo sát câu hỏi mở trên diện rộng để có thể đưa ra những kết luận đáng tin cậy. Hệ
thống hóa phần miêu tả câu nghi vấn của hai thứ tiếng này bằng các bảng thống kê
và phân loại. Các biến định lượng và định tính trong tập dữ liệu được thu thập và xử
lý bằng chương trình phân tích kết quả thống kê “SPSS for Windows” theo phiên
bản 11.5. Qua thống kê và mô tả câu nghi vấn từ nguồn ngữ liệu thu thập, luận án sẽ
phân tích, chứng minh và giải thích các kết quả tìm được và kiểm định các giả
thuyết khoa học bằng nhiều phép thử để chứng minh tính đúng sai khi chuyển dịch
qua lại các câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt trong chương trình dịch tự
động GT.
+ Phương pháp trắc nghiệm: Để tìm ra những sai sót phổ biến khi sử dụng câu nghi
vấn trong tiếng Anh ở những học viên người Việt học tiếng Anh và làm tư liệu tham


3. Sự khác biệt của những yếu tố đánh dấu mức độ lịch sự trong câu nghi vấn
từ khách sáo/ trang trọng/ lễ phép đến không khách sáo/ thân mật/ suồng sã sẽ
gây khó khăn như thế nào cho người Việt học tiếng Anh khi phải nhập mã, giải


13

mã, và chuyển mã Anh-Việt hoặc Việt-Anh trong thực tiễn giao tiếp và dịch
thuật 2 ?
4. Có những lời khuyên nào dành cho người Việt học tiếng Anh (và ở chừng
mực nào đó có thể suy diễn ngược lại cho người bản ngữ Anh học tiếng Việt)
liên quan đến việc sử dụng câu nghi vấn trong giao tiếp và dịch thuật trên bình
diện ngữ dụng?
4.2 Nguồn tư liệu ngôn ngữ
Nguồn tư liệu ngôn ngữ phục vụ cho nghiên cứu trong luận án gồm 426 câu nghi
vấn trong tác phẩm Harry Potter (Quyển 1), cùng với bản dịch tiếng Việt tương ứng
và các câu nghi vấn được sinh viên dùng trong lớp học, qua 1119 phiếu khảo sát,
các câu nghi vấn được dùng trong thực tiễn dạy học trong các tài liệu giảng dạy
tiếng Anh (song ngữ).
Cũng cần khẳng định rằng các câu nghi vấn dùng làm ví dụ minh họa trong luận án
đều có xuất xứ rõ ràng, được trích từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy bằng tiếng
Việt và tiếng Anh và đều được công bố chính thức. Các phiếu khảo sát thu được từ
các trường cao đẳng và đại học trong và ngoài nước được ghi mã số cẩn thận và các
thông tin dưới dạng văn bản thu thập được qua phiếu khảo sát từ các tham nghiệm
viên được xử lý độc lập và cẩn thận bằng chương trình Excel và SPSS của máy tính.
Điều này khẳng định tính trung thực trong nghiên cứu đối tượng khảo sát và vì vậy,
góp phần đảm bảo giá trị của các kết quả thu được.
Nguồn ngữ liệu này cũng được dùng để minh chứng cho thực tiễn sử dụng câu nghi
vấn, là nguồn tư liệu tham khảo về cách dùng các hành vi ngôn ngữ đa dạng và
phong phú cho sinh viên Việt Nam học tiếng Anh cũng như sinh viên nước ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status