BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH
__________________________
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
NHẬN DẠNG SỰ TIẾN HÓA CỦA
KIẾN TRÚC CHÙA VIỆT
TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÍ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ KIẾN TRÚC
MÃ SỐ:
62.58.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KIẾN TRÚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS - TS KTS NGUYỄN ĐỨC THIỀM
PGS - TS KTS TRẦN BÚT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BTCT
: Công nguyên
: Khoa học xã hội
GĐ
: Kiến trúc
GS
: Kiến trúc chùa Việt
KHXH
: Kiến trúc Phật giáo
KT
: Kiến trúc sư
KTCV
: Kiến trúc truyến thống
KTPG
: Nghiên cứu
KTS
: Nhà xuất bản
: Tiến sĩ
TQ
: Truyền thống
Tr.
: Văn hóa Thông tin
TS
: Việt Nam
TT
:
VHTT
VN
XD
: Bê tông cốt thép
: Bản sắc văn hóa dân tộc
: Bà Rịa – Vũng Tàu
Xây dựng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.1.3.1.
Sự biến đổi của kiến trúc tháp Phật giáo………………………..……10
1.1.3.2.
Sự biến đổi của kiến trúc tu viện và điện thờ Phật giáo………..…….12
1.2. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến kiến trúc chùa
Việt............14
1.2.1. Những nghiên cứu về tư tưởng và lịch sử Phật giáo Việt Nam ………...14
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về kiến trúc chùa Việt……………………………14
Những nghiên cứu về sự hình thành và phát triển kiến trúc chùa Việt.....15
1.2.3.
1.2.4. Những nghiên cứu về đặc điểm kiến trúc chùa Việt…………………….19
1.2.4.1.
Về môi trường xung quanh chùa Việt……………………….………19
1.2.4.2.
Về cấu trúc, hình thức kiến trúc bên ngoài chùa Việt …..…………..22
1.2.4.3.
Về không gian kiến trúc bên trong chùa Việt………………………..23
2.1.1. Các khái niệm liên quan đến đối tượng nghiên cứu và tên đề tài………..29
Khái
2.1.1.1.
niệm
“chùa”………………………………………………….....29
2.1.1.2.
Khái
niệm
tiến
hóa…………………………………………….……..33
2.1.1.3.
Kiến trúc chùa Việt ………………………………...………………..34
2.1.1.4.
Sự tiến hóa của kiến trúc chùa Việt………...………………………..35
2.1.1.5.
Phong
khoa
học
(cơ
sở
phương
pháp
luận)………….……………50
2.4.1.1.
Các
quan
điểm
lí
luận
chung
nhất……………………………………51
2.4.1.2.
Các
2.5.2.
phương
pháp
nghiên
cứu
cụ
thể……………………………….……58
2.5.2.1.
Phương pháp điền dã…………………………………………………58
2.5.2.2.
Phương pháp phân tích và tổng hợp…………………………………58
2.5.2.3.
Phương pháp lịch sử - lô gích………………………………………..59
2.5.2.4.
Phương pháp hệ thống cấu trúc và phương pháp tiếp cận hệ thống....59
3.1.1.2.
Sự phát triển kiến trúc chùa Việt (TK VI – X)……………...……….67
3.1.2.
Kiến trúc chùa Việt phát triển mạnh dòng chính thống (TKX -
XIV)…..71
3.1.2.1.
Vị trí chùa gắn có ý thức với môi trường thiên nhiên và môi trường
văn hóa - xã hội…………………………………………………...….71
3.1.2.2.
Sự phát triển các thành phần kiến trúc trong tổng thể
chùa………….73
3.1.3.
Kiến trúc chùa Việt phát triển mạnh dòng dân gian (TK XVI -
XVIII)….81
3.1.3.1.
Kiến trúc chùa Việt ở Đàng Ngoài (TK XVI – XVIII)……………....81
3.1.3.2.
Sự tiến hóa trong vị trí xây dựng
chùa………………………………….112
3.2.2.
Sự
tiến
hóa
của
bố
cục
tổng
thể
kiến
trúc
chùa
Việt……...…………….114
Sự tiến hóa của không gian, hình thức kiến trúc và kết cấu điện
3.3.1.5.
Qua cách tổ hợp mặt đứng và tạo hình tượng nghệ thuật kiến
trúc...131
3.3.1.6.
3.3.2.
Qua cách chọn màu sắc và trang trí công trình kiến trúc…………...135
Kiến trúc chùa Việt - một đại diện tiêu biểu của kiến trúc truyền thống
Việt Nam……………………………………………………………….138
3.3.2.1.
Về yếu tố công năng – kiến trúc chùa Việt tổ hợp nhiều chức năng của
kiến trúc truyền thống ……………………………………………...139
3.3.2.2.
Về yếu tố vật liệu, kĩ thuật xây dựng – kiến trúc chùa việt phản ánh các
hệ thống kết cấu của kiến trúc truyền thống Việt Nam…..…….140
3.3.2.3. Về tạo hình nghệ thuật – kiến trúc chùa Việt mang đầy đủ đặc trưng tạo
hình thẩm mĩ kiến trúc truyền thống Việt Nam và đóng góp thêm hình tượng đặc
thù……………………………………………………141
3.3.2.4.
Quan hệ giữa kiến trúc chùa Việt với yếu tố môi trường…………..142
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN
Sơ đồ 0 – 2: Mục tiêu nghiên cứu của luận án
i
i
Sơ đồ 1 – 1: Quan hệ giữa Phật giáo và KTPG (tác giả)
ii
Sơ đồ 2 – 1: Quá trình tiến hóa của KTCV(tác giả)
vi
Sơ đồ 2 – 2: KTCV - sản phẩm văn hóa phục vụ nhu cầu cộng đồng xã hội
(tác giả)
vi
Sơ đồ 2 – 3: KTCV- Sản phẩm tiếp biến văn hóa TT VN (tác giả)
vi
Sơ đồ 2 – 4: Diễn trình lịch sử PG Việt Nam qua các triều đại (tác giả)
viii
Sơ đồ 2 – 5: Quan điểm hệ thống và biện chứng xem xét các yếu tố tạo thành
và yếu tố tác động đến KTCV (tác giả)
ix
Sơ đồ 2 – 6: Phương pháp luận nghiên cứu vấn đề (tác giả)
ix
Sơ đồ 2 – 7: Hệ thống các hướng tiếp cận KTCV (tác giả)
x
Sơ đồ 3 – 1: Vị trí thành Luy Lâu và chùa Pháp Vân [66]
xi
Sơ đồ 3 – 2: Đặc trưng KTTT Việt Nam phản ánh qua KTCV (tác giả)
xxxiii
Sơ đồ 3 – 3: KTCV – Một đại diện tiêu biểu của KTTT VN (tác giả)
xxxiii
Hình 1 – 2:
Hình 1 – 3:
1 – 3a:
Những con đường truyền bá của PG [102]
Luồng giao lưu giữa PG Giao châu và các tôn giáo châu Á [54]
Sự biến đổi về hình dáng và cấu trúc của các loại hình KTPG
Một số biến thể cơ bản từ stupa nguyên thủy Ấn Độ [154]
ii
ii
iv
iv
1 – 3b: Một số biến thể không từ hình thức của stupa, chỉ giữ lại phần ý
nghĩa ban đầu (tác giả tổng hợp từ các nguồn [52], [150], [157])
iv
1 – 3c: Các biểu hiện tương đồng về ý nghĩa của kiến trúc Phật giáo
(tác giả tổng hợp từ các nguồn [62], [150], [157])
iv
Hình 1 – 4: Sự biến đổi của kiến trúc tu viện và điện thờ Phật
v
1 – 3a: Cấu trúc và hình dáng tu viện ở Ấn Độ [157]
v
1 – 3b: Cấu trúc và hình dáng tổng thể KTPG [157]
v
1 – 3c: Hình thức phát triển của điện thờ Phật đến chaitya [154]
v
1 – 3d: Hình thức khác nhau của điện Phật [156], [157]
3 – 2b: Chùa Một Cột - Hà Nội (tác giả)
xiii
3 – 2c: Hình vẽ địa hình chùa Phật Tích - Bắc Ninh [95]
xiii
3 – 2d: Sơ đồ mặt bằng tháp thời Lý (tác giả)
xiii
3 – 2e: Sơ đồ mặt bằng điện Phật thời Lý (tác giả)
xiii
3 – 2f: Chân tảng đá hình hoa sen chùa Phật Tích [124]
xiii
3 – 2g: Bệ thờ đá thời Lý chùa Phật Tích [124]
xiii
3 – 2h: Sơ đồ mặt bằng tổng thể chùa Lấm - Quảng Ninh (tác giả)
xiii
3 – 2i: Sơ đồ mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh- Nam Định (tác giả)
xiii
3 – 2k: Mặt đứng tháp Phổ Minh [78]
xiii
3 – 2l: Sơ đồ mặt bằng chùa Lấm (tác giả)
xiii
3 – 2m: Mặt bằng điện Phật chùa Phổ Minh [78]
xiii
3 – 2n: Sơ đồ mặt bằng điện Phật thời Trần (tác giả)
xiii
3 – 2o: Bệ thờ đá thời Trần [124]
xiii
3 – 2p: Vì nóc thượng điện chùa Thái Lạc [78]
xiii
Hình 3 – 3: Đặc điểm KTCV giai đoạn phát triển dòng KT dân gian
Thời Mạc - Hậu Lê (TK XVI – XVIII) ở Bắc bộ (tác giả)
xiv
Hình 3 – 4: Đặc điểm KTCV giai đoạn phát triển dòng KT dân gian
Thời Tây Sơn (cuối TK XVIII) ở Bắc bộ (tác giả)
xv
3 – 4 a: Mặt bằng chùa Tây Phương – Hà Nội [8]
xv
3 – 4 b: Mặt bên chùa Tây Phương (tác giả sưu tầm)
xv
3 – 4 c: Chi tiết bẩy ngang chùa Tây Phương (tác giả sưu tầm)
xv
3 – 4 d: Mặt cắt chùa Tây Phương [8]
xv
Hình 3 – 5: Đặc điểm KTCV thời Nguyễn (TK XIX - XX) ở Bắc bộ (tác giả) xv
3 – 5a: Mặt đứng tam quan chùa Phổ Minh –Nam Định [124]
xv
3 – 5b: Mặt đứng chính chùa Láng – Hà Nội [8]
xv
3 – 5c: Bài trí tượng thờ và trang trí nội thất chùa Liên Phái- Hà Nội [124] xv
3 – 5d: Mặt cắt chùa Láng - Hà Nôi [8]
xv
3 – 5e,f : Tam quan, chi tiết trang trí bờ nóc chùa Lý Quốc Sư- Hà Nội [125] xv
Hình 3 – 6: Đặc điểm KTCV thời Nguyễn (TK XIX - XX) ở Trung bộ (tác giả) xvi
3 – 6a: Mặt bằng tổng thể chùa Trường Xuân – Huế (tác giả)
xvi
3 – 6b: Mặt bằng tổng thể chùa Thiên Mụ – Huế (tác giả)
xvi
3 – 6c: Mặt bằng tổng thể chùa Quốc Ân – Huế (tác giả)
xvi
3 – 6d: Mặt bằng tổng thể chùa Chúc Thánh – Quảng Nam (tác giả)
xvi
xvii
3 – 7d: Mặt bằng tổng thể chùa Tam Bảo – Rạch Giá (tác giả)
xvii
3 – 7e: Mặt bằng tổng thể chùa Ấn Quang – TP HCM (tác giả)
xvii
3 – 7f: Mặt bằng chùa Phước Hội - An Giang (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7g: Mặt bằng chùa Trường Thọ - TP HCM (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7h: Mặt bằng chùa Vĩnh Tràng – Tiền Giang (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7i: Mặt bằng chùa Tam Bảo – Rạch Giá (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7k: Mặt bằng chùa Ấn Quang – TPHCM (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7l: Mặt bằng tịnh xá Trung Tâm - TP HCM (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7m: Kết cấu khung gỗ chùa Giác Viên –TPHCM [11]
xvii
3 – 7n: Kết cấu khung gỗ chùa Giác Lâm –TPHCM (tác giả sưu tầm)
xvii
3 – 7o: Mặt đứng chùa Giác Lâm – TP HCM [124]
xvii
3 – 7p: Mặt đứng chùa Giác Hải – TP HCM [124]
xvii
3 – 7q: Mặt đứng chùa Tân An – An Giang [124]
xvii
3 – 7r: Mặt đứng chùa Từ Nghiêm – TP HCM [124]
3 – 16b: Trang trí gốm thời Trần tháp Bình Sơn chùa Vĩnh Khánh –
Vĩnh Phúc [124]
xxxii
3 – 16c: Trang trí gỗ thời Trần chùa Thái Lạc – Hải Hưng [124]
xxxii
3 – 16d: Trang trí vì kèo gỗ thời Hậu Lê [124]
xxxii
3 – 16e: Trang trí góc mái chùa Tây Phương [124]
xxxii
3 – 16f: Trang trí gỗ đầu dư chùa Tây Phương (tác giả sưu tầm)
xxxii
3 – 16g: Trang trí cẩn sành sứ trên cột chùa Phật Quang – Phan Thiết
(tác giả sưu tầm)
xxxii
3 – 16h: Trang trí cẩn sành sứ góc mái chùa Phật Quang (tác giả sưu tầm) xxxii
3 – 16i: Trang trí cẩn chén bát mái chùa Giác Lâm (tác giả sưu tầm)
xxxii
3 – 16k: Trang trí bằng hình tượng BTCT đúc sẵn cuối TK XX (tác giả ) xxxii
3 – 16l: Chi tiết trang trí bằng BTCT và thạch cao cuối TK XX (tác giả) xxxii
Hình 3 – 17: Cơ sở tỉ lệ hài hòa giữa KTCV với con người VN (tác giả)
xxxiv
3 – 17a: Modulor và KT cổ truyền Việt Nam [86]
xxxiv
3 – 17b: Phân tích tỉ lệ KT mặt đứng chùa Tây Phương - Hà Nội [65]
xxxiv
3 – 17c: Phân tích tỉ lệ mặt bằng, mặt cắt gác chuông chùa Phật Tích Bắc Ninh (tác giả sưu tầm)
xxxiv
3 – 17d: Tỉ lệ mặt đứng KT chùa Bút Tháp - Bắc Ninh (tác giả)
xxxvi
3 – 19e: Mặt đứng chùa Đại Giác – Đồng Nai [116]
xxxvi
3 – 19f: Mặt đứng chùa Tam Bảo – Rạch Giá (tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19g: Mặt đứng chùa Khải Đoan – Lâm Đồng (tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19h: Mặt đứng chùa Bái Đính – Ninh Bình (tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19i: Mặt đứng chùa Đại Tòng Lâm- Bà Rịa-VT(tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19k: Mặt đứng thiền viện Thiền Chiếu – Đồng Nai (tác giả sưu tầm) xxxvi
3 – 19l: Mặt đứng chùa Minh Thành – Gia Lai (tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19m: Mặt đứng chùa Ấn Quang – TP HCM [124]
xxxvi
3 – 19n: Mặt đứng chùa Vạn Đức – TP HCM (tác giả sưu tầm)
xxxvi
3 – 19o: Mặt đứng chùa Linh Phước – Lâm Đồng (tác giả sưu tầm)
xxxvi
Hình 3 – 20: Một số xu hướng trang trí nội thất điện Phật Nam bộ gần đây xxxvii
3 – 20a: Điện Phật chùa Kim Cang - Long An (tác giả sưu tầm)
xxxvii
3 – 20b: Điện Phật chùa Phật Quang –Phan Thiết (tác giả sưu tầm)
xxxvii
3 – 20c: Điện Phật chùa Viên Giác – TPHCM (tác giả sưu tầm)
xxxvii
3 – 20d: Điện Phật thiền viện Thiền Chiếu (tác giả sưu tầm)
xxxvii
3 – 20e: Điện Phật tịnh xá Ngọc Duyên-TPHCM (tác giả sưu tầm)
xxxix
4 - 2d: Mặt bằng chùa Thầy [131]
xxxix
Hình 4 – 3: Qua cách tổ hợp mặt bằng KTCV Trung - Nam bộ (tác giả)
xl
4 – 3a: Mặt bằng tổng thể chùa Vĩnh Tràng – Tiền Giang (tác giả)
xl
4 – 3b: Mặt bằng chùa Vĩnh Tràng (tác giả sưu tầm)
xl
4 – 3c: Mặt bằng tổng thể chùa Từ Hiếu – Huế (tác giả)
xl
4 – 3d: Mặt bằng chùa Từ Hiếu – Huế (tác giả sưu tầm)
xl
Hình 4 – 4: KTCV - Qua tổ chức mặt bằng tổng thể - so sánh với
Phật tự Trung Hoa (tác giả)
xli
4 – 4a: Mặt bằng tự viện Hiển Thông núi Ngũ Đài, Trung Quốc [157]
xli
4 – 4b: Mặt bằng thiền tự Pháp Vũ núi Phổ Đà, Triết Giang – Trung
Quốc (tác giả sưu tầm)
xli
4 – 4c: Mặt bằng chùa Ông – TP HCM (tác giả sưu tầm)
xli
MỞ ĐẦU
0.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
“Chùa”, một loại hình kiến trúc Phật giáo (KTPG) của Việt Nam, xuất hiện từ
khi Phật giáo (PG) từ Ấn Độ thâm nhập vào nước ta khoảng đầu Công nguyên (CN).
Từ đó ngôi chùa trở nên gắn bó với đời sống tâm linh nói riêng và tham gia vào đời
lịch sử (DTLS), các nhà NC buộc phải đi dần từng bước theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phục dựng từng sự kiện
Giai đoạn 2: Kết nối các sự kiện, tái hiện bức tranh toàn cảnh hoặc cuộn
tranh liên hoàn của một hoặc nhiều thời kỳ lịch sử.
Đề tài luận án “Nhận dạng sự tiến hóa của KTCV trong diễn trình lịch sử” thuộc
giai đoạn 2, lần đầu tiên thực hiện công việc kết nối các sự kiện của cả DTLS của
nó, nên chắc chắn chưa hoàn chỉnh. Công việc này cần phải bắt đầu, vì những lí do
sau:
1. Hiện chúng ta đã có 1 kho tư liệu sự kiện phong phú về KTCV ;
2. Cần hệ thống hóa các kết quả NC đi trước thành chuỗi giá trị;
3. Kết quả NC là tiền đề để những nhà NC sau này hoàn chỉnh tiếp.
Nghiên cứu sự tiến hóa của KTCV sẽ giúp nhận thức rõ hơn về lịch sử phát triển
của KTTT Việt Nam, vì ngôi chùa Việt là một trong số loại hình KT cổ có thời gian
tồn tại lâu nhất và đã để lại khối lượng di sản rất lớn, do đó phản ánh được nhiều
vấn đề liên quan đến sự phát triển của KTTT Việt Nam, nhất là vấn đề bản sắc văn
hóa dân tộc (BSVHDT) trong KT.
Bản sắc văn hoá trong nền KT của một dân tộc là tổng thể những đặc trưng của
nền KT đó, ở cả phần hữu thể - vật chất lẫn phần vô thể - tinh thần, giúp phân biệt
với nền KT của dân tộc khác. Hiểu biết, gìn giữ và phát huy BSVHDT trong mọi
lĩnh vực văn hóa trong công cuộc hội nhập vào đời sống của cộng đồng quốc tế
cũng là góp phần bảo tồn tính đa dạng văn hóa thế giới.
Phật giáo Việt Nam trong quá khứ thường xuyên giao lưu với PG các nước, vì
vậy trong KTCV thường có những yếu tố là kết quả của sự tiếp biến từ KT bên
ngoài được kết hợp với KTTT Việt Nam, để tạo ra những đặc thù không đâu có.
KTCV đã thể hiện rất tốt khả năng tiếp nhận và chuyển hoá những yếu tố ngoại lai
trong quá trình giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực.
Trong xu thế toàn cầu hóa, KT đang có xu hướng bị đồng hóa rất mạnh: có
những loại hình và phong cách được nhìn thấy ở mọi nơi từ Âu sang Á. Kiến trúc
-
Xác định những đặc trưng của KTTT Việt Nam biểu hiện qua KTCV.
Đây thực chất là 4 công việc cần làm, trong đó hoàn thành 3 việc đầu sẽ giúp
nhận dạng được sự tiến hóa của KTCV, việc thứ tư nhằm chứng tỏ KTCV là một đại
diện tiêu biểu của KTTT Việt Nam. (Sơ đồ 0-2)
0.6. Những đóng góp mới của luận án
-
Chứng tỏ được KTCV có tiến hóa trong DTLS theo 4 giai đọan phát triển do
nghiên cứu sinh đề xuất;
-
Quy các nguyên nhân gây nên biến đổi tiến hóa của KTCV về 3 tác động
chính và kiểu lựa chọn thích ứng của chùa Việt;
-
Bước đầu làm rõ dạng tiến hóa của KTCV, cách thức tiến hóa và quy luật
tiến bộ cụ thể của sự tiến hóa này;
-
Chứng minh KTCV phản ánh tương đối đủ các đặc trưng cơ bản của KTTT
VN ở từng thời kì lịch sử, là đại diện tiêu biểu của nền KT này.
của KTPG
KTPG châu
châu Á
Á
Tổng
Tổng quan
quan những
những NC
NC liên
liên quan
quan đến
đến KTCV
KTCV
Những
Những vấn
vấn đề
đề cần
cần được
được NC
NC tiếp
tiếp
Đối
Đối tượng
tượng NC:
NC: KTCV
KTCV
Phạm
Phạm vi
vi NC
NC
Nam phản
phản ánh
ánh qua
qua KTCV
KTCV
Bản
Bản sắc
sắc văn
văn hóa
hóa dân
dân tộc
tộc trong
trong KTCV
KTCV
Sơ đồ 0 - 2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Hệ
Hệthống
thống hóa
hóa đặc
đặc điểm
điểm KTCV
KTCV
ở
ở từng
từng giai
giai đoạn
đoạn phát
tố tác
tác động
động và
và lílí giải
giải
những
biến
đổi
phát
triển
của
KTCV
những biến đổi phát triển của KTCV
Kết
Kết nối
nối những
những phát
phát triển
triển qua
qua các
các giai
giai đoạn
đoạn
để
nhận
dạng
sự
tiến
hóa
hội) và lĩnh vực tinh thần (ý thức xã hội). Tồn tại xã hội là tất cả những gì đang diễn
biến xung quanh chúng ta, còn ý thức xã hội là kết quả phản ánh tồn tại xã hội vào
bộ não con người. Ý thức xã hội được phản ánh bằng nhiều hình thái khác nhau
trong đó có tôn giáo và nghệ thuật.
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh niềm tin của con người vào
những nguồn sức mạnh siêu tự nhiên. Sự ra đời của tôn giáo bắt nguồn từ nhu cầu
của con người về điểm tựa cho tinh thần trước những bất trắc đầy rẫy của cuộc sống.
Nhằm giải đáp những băn khoăn của con người về cội nguồn của thế giới và nền
tảng của tất cả sự sống, các tôn giáo đã đưa ra ý niệm về “Thực thể Thiêng liêng”.
Thực thể Thiêng liêng có thể mang tên khác nhau như Thần Linh, Kami, Thượng
Đế, Brahman, Phật Pháp, Chân Như, Đạo... ở các truyền thống tôn giáo khác nhau
[149, tr.27]. Thực thể Thiêng liêng có phẩm tính siêu việt, vô giới hạn và chế ngự tất
cả, con người không thể nắm được dù bằng lí trí. Vì vậy để miêu tả, các tôn giáo
phải sử dụng đến nhiều hình thái biểu hiện khác nhau như ngôn từ, lễ bái, thiền
định, sự im lặng, âm nhạc, khiêu vũ, tranh tượng...và cả KT. Kinh nghiệm của các
tôn giáo cho thấy KT có khả năng gợi lên cảm thức về “Thực thể Thiêng liêng” với
đầy sức mạnh và vẻ đẹp nhờ các yếu tố hình khối, đường nét, màu sắc và chất lượng
thẩm mĩ [153, tr.78].
Như các tôn giáo khác, PG cũng khai thác khả năng sáng tạo của con người để
sản sinh ra một nền nghệ thuật biểu hiện cái nhìn của PG về cuộc đời. Mặc dù nhấn
mạnh vào sự giác ngộ tâm linh, nhưng PG vẫn thông qua những hoạt động thông
thường của con người, trong đó có KT, để dẫn dắt tin đồ đi đến mục đích. (Sơ đồ 11)
Phật giáo do Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra ở Ấn Độ vào TK VI TCN. Phát
xuất từ vùng Đông - Bắc Ấn, PG bắt đầu lan rộng ra các vùng lân cận và các quốc
gia châu Á từ TK III TCN. Con đường truyền bá của PG phát triển theo hai hướng:
hướng thứ nhất về phía Nam châu Á - nơi lưu giữ được những truyền thống PG
Nguyên Thủy (Theravada); hướng thứ hai là các vùng phía Bắc châu Á đi theo tư
tưởng của các tông phái PG Đại Thừa (Mahayana). Sự phân tách này cũng được thể
nội dung cơ bản vẫn giữ nguyên ý nghĩa ban đầu và đó cũng là những mô hình được
các quốc gia theo đạo Phật tiếp nhận. Stupa, hình tượng trung tâm của KTPG, vẫn là
biểu tượng được tôn kính nhất. Các chaitya và vihara được đục vào vách núi hoặc
xây dựng trên mặt đất, có mặt ở khắp Ấn Độ, cách xa các trung tâm thành thị [146],
[154], [157]. (Bảng 1-1)
Giai đoạn phát triển đầu tiên của nghệ thuật KTPG được chia làm hai nấc: nấc
phát triển thứ nhất kéo dài trong khoảng TK II – III (tiền kì), có tính quyết định đối
với nghệ thuật KTPG, lan tỏa chủ yếu ở các vùng Gandhara (Tây - Bắc Ấn),
Mathurâ (Bắc Ấn), Amarâvati (Đông - Nam Ấn), vùng Tây - Bắc Dekhan; nấc phát
triển thứ hai xuất phát từ những thành tựu trước đó và kéo dài trong các TK IV – VI
(hậu kì), đã mở rộng phạm vi ra toàn đế quốc Gupta Ấn Độ. Trong khoảng thời gian
này, ở Indonesia và bán đảo Trung - Ấn, nghệ thuật KTPG bắt đầu hình thành, còn
tại Trung Quốc, nhờ sự lan truyền nhanh chóng qua vùng Trung Á, nghệ thuật
KTPG tiền kì đã đạt đến đỉnh cao. Làn sóng này nhanh chóng truyền sang Triều
Tiên (TK IV - VI) và Nhật Bản (TK VI - VII). Trong sự phát triển này nghệ thuật
KTPG Ấn Độ luôn đi trước một bước: Vào giữa TK V - VI khi phong cách thời Lục
Triều, chính là phong cách cuối cùng của Gandhara được cải biên, vẫn ngự trị ở
Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản thì nghệ thuật Ấn Độ đã tiến đến trình độ cổ
điển Gupta, và khi Đông Á đạt đến nghệ thuật cổ điển, khoảng giữa TK VII - VIII
thì nghệ thuật KTPG Ấn Độ đã vào giai đoạn suy tàn (giai đoạn thứ hai) . [148,
tr.74], [157, tr.80] (Bảng 1-2)
Nếu trong giai đoạn phát triển đầu tiên các sự kiện diễn ra gần như nối tiếp nhau,
dù ở những khoảng cách xa, thì sang giai đoạn thứ hai, các TK VII - VIII, là sự nở
rộ và sự thuần thục phổ biến của nghệ thuật KTPG trên toàn châu Á, trong đó tập
trung chính vào TK VIII với nhiều phong cách đã chín muồi như phong cách hậu
Gupta và Pala ở Ấn Độ, nghệ thuật Dvaravati ở bán đảo Trung Ấn, nghệ thuật
Khmer tiền kì, đỉnh cao nghệ thuật cổ điển thời Đường ở Trung Quốc, nghệ thuật
Silla ở Triều Tiên và nghệ thuật thời kì Nara ở Nhật Bản. Những công trình điển
hoàn toàn trái ngược và khích lệ đối với các nghệ sĩ về trách nhiệm và quan niệm
đối với một tác phẩm nghệ thuật. [157, tr.81]
Ở giai đoạn muộn này người ta còn quan sát thấy những thành tựu đáng lưu ý
khác của dân tộc Thái vào TK XIV - XV. Dù thâm nhập muộn màng vào một vùng
đất văn minh cổ xưa, người Thái vẫn có thể tạo ra những hình tượng tôn giáo đặc
trưng riêng trên cái nền của nghệ thuật Dvaravati và vương quốc Khmer.
Trong giai đoạn thứ tư, bắt đầu từ TK XV trở đi, không kể một số trường hợp
ngoại lệ, ở khắp mọi nơi người ta thấy rõ sự suy yếu nối tiếp nhau của sức sáng tạo
nghệ thuật PG, sự lặp lại các nguyên mẫu cổ điển và sự thiếu vắng một nội dung
tinh thần sâu sắc hơn hoặc những hình thức mới thật sự sống động. Nguyên nhân
hoặc là do chính PG phải lùi bước mỗi lúc một nhiều trước những sức mạnh tinh
thần bản địa, dân tộc như Ấn Độ giáo hay Khổng giáo; hoặc do người ta tự bằng
lòng với sự lưu truyền có tính quy ước của những kiểu thức đã qua thử thách thời
gian như tại các quốc gia theo PG Nguyên Thủy ở vùng Nam Á, nơi PG tồn tại như
một tôn giáo dân gian hoặc quốc giáo [157, tr.81].
Đó là bối cảnh chung của toàn châu Á. Trên đất Việt Nam, căn cứ vào các cứ
liệu và di tích lịch sử thì KTPG có thể đã có mặt ngay từ giai đoạn phát triển đầu
tiên, tức từ TK II - III. Lúc đó ở Việt Nam phần đất phía Bắc đang bị nhà Hán đô
hộ, phần đất phía Nam thuộc về vương quốc Phù Nam.
Đầu TK III, Khương Tăng Hội (sinh tại Giao châu, cha mẹ gốc vùng Sogdiane Trung Á) đã khai mở Thiền học Đại Thừa trên đất Việt. [5, tr.26], (Hình 1-2)
Đến TK V - VI, ở Giao châu đã có chùa, tháp cao [79, tr.197], [66,tr.14]. TK X
trở đi, khi đất nước ta giành lại được chủ quyền, KTPG Việt Nam mới thực sự có
điều kiện phát triển, nhất là dưới sự bảo trợ của triều đình. TK X - XIV, tương ứng
với giai đoạn phát triển thứ ba của nghệ thuật KTPG châu Á.
TK XV trở về sau, cùng nghệ thuật KTPG châu Á, KTPG Việt Nam cũng rơi
vào tình trạng suy thoái chung và phát triển chủ yếu trong dân gian.
.2.3. Sơ lược về sự biến đổi của kiến trúc Phật giáo ở các quốc gia châu Á
anda biểu thị vũ trụ vô tận, cây cột đứng của stupa tượng trưng trục vũ trụ. Mô hình
cổ điển này đã gợi ý cho biết bao kiểu tháp Phật ra đời ở khắp châu Á bằng cách
biến đổi các bộ phận của stupa nguyên thủy. Có thể nêu một số xu hướng sau đây:
[157, tr.85-111], (Hình 1-3)
Xu hướng ở Gandhara và Tây Bắc Ấn vào những thế kỉ đầu CN. Đế vươn thành
khối trụ nhiều tầng, bề mặt giữa các tầng bố trí những khám tường đặt tượng
Phật hoặc phù điêu để tín đồ chiêm ngưỡng khi chạy đàn. Cột trụ của lọng được
kéo cao và gắn thêm nhiều đĩa tròn. Ở một số nơi, khung hình vuông ở chóp biến
thành khối lập phương, bên trên chồng những phiến đá vuông nhô dần ra, đó có
thể là lưu ảnh ngọn lửa của nghi thức hiến tế trong tín ngưỡng Bà-la-môn giáo.
Một kiểu thức nữa cũng ở Gandhara là đế tròn chuyển thành đế vuông và có
nhiều tầng. Qua những biến đổi này bán cầu anda mất dần vai trò chính, sự quan
tâm chuyển dần sang đế và chóp stupa.
Xu hướng giữ nguyên mẫu nhưng sử dụng nhiều điêu khắc trang trí cho stupa
thêm sinh động ở Amaravati và miền Đông - Nam Ấn.
Xu hướng ở vùng Nam Á và bán đảo Trung - Ấn kéo dãn cân đối cả 3 phần đế,
thân, chóp và tạo những đường viền nhô ra thắt lại gây ấn tượng chuyển tiếp nhẹ
nhàng giữa các phần, dẫn đến một hình thức gần như quả chuông. Vẻ uyển
chuyển của nét cong từ chóp nhọn xuống đến chân đế rộng làm cho ngôi tháp
như bám chặt thêm vào mặt đất.
Các xu hướng trên lan sang các quốc gia phía Đông và Đông - Nam Ấn vào nửa
sau thiên niên kỉ thứ nhất và phát triển thành những hình thức cực kì hoành tráng mà
tiêu biểu nhất là Borobodur ở Java, Indonesia.
Xu hướng tháp Tây Tạng tôn trọng những nét cơ bản của stupa cổ điển nhưng
làm phồng phía trên bán cầu cho gần với hình cầu hơn.
Xu hướng phát triển tháp Phật không từ stupa gốc. Một bản khắc bằng đất nung
tìm thấy ở Kumrahar (Bắc Ấn- khoảng TK II) thể hiện một KT tháp nhiều tầng
vươn cao gồm những khối hộp chồng lên nhau, càng lên cao càng nhỏ dần, tầng