SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HÀ NỘI HIỆN NAY - Pdf 34

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

Sù BIÕN §æI V¡N HãA
LµNG NGHÒ TRUYÒN THèNG ë Hµ NéI HIÖN NAY
(Qua trư ờ ng hợ p làng Triề u Khúc và Thiế t Úng)

Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số : 62 31 06 40

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2015


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1. PGS.TS. Lê Quý Đức
2. TS. Lê Trung Kiên

Phả n biệ n 1: .............................................................
.............................................................
Phả n biệ n 2: .............................................................
.............................................................
Phả n biệ n 3: .............................................................
.............................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp cơ sở tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tất yếu của quy luật phát triển.
Sự biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống Hà Nội không
chỉ tác động đến đời sống xã hội, mà còn tác động đến cơ cấu tổ
chức, diện mạo, quy trình sản xuất, mẫu mã, hình thức, chất lượng sản
phẩm, phong tục tập quán…. của mỗi làng nghề. Xu hướng biến đổi
trên thực sự là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu kịp thời để đưa
ra những căn cứ khoa học, giải pháp phù hợp để giúp các nhà hoạch
định chính sách có những quyết sách hợp lý, vừa gìn giữ, vừa phát huy
được giá trị văn hóa truyền thống của các làng nghề.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng
nghề Hà Nội cho đến nay chưa nhiều, mới chỉ có một số công trình
nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng nghề vùng châu thổ sông Hồng,
qua nghiên cứu một số làng ở Hà Tây, Thái Bình, Gia Lâm, mà chưa
có công trình nghiên cứu tiêu biểu về Sự biến đổi văn hóa làng nghề
truyền thống Hà Nội hiện nay. Do đó, nghiên cứu về sự biến đổi văn
hóa các làng nghề truyền thống Hà Nội nói chung và hai làng nghề
dệt Triều Khúc, đồ gỗ mỹ nghệ Thiết Úng nói riêng không chỉ có ý
nghĩa lý luận, mà còn đáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong
việc bảo tồn và phát triển văn hóa các làng nghề truyền thống ở
nước ta hiện nay trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
toàn cầu hóa.
Vì những lý do trên, Nghiên cứu sinh nhận thấy việc nghiên cứu
đề tài “Sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống ở Hà Nội hiện
nay” (Qua trư ờ ng hợ p làng Triề u Khúc và Thiế t Úng) là một việc
làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong bối cảnh đổi mới
của xã hội.


2


niệm về văn hóa, nghề, làng nghề, làng nghề truyền thống, văn hóa làng
nghề truyền thống và lý thuyết về biến đổi văn hoá.


3

5.2. Phư ơ ng pháp nghiên cứ u
Để nghiên cứu sự biến đổi về văn hóa làng nghề đem lại hiệu
quả cao, việc áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử dựa vào quan điểm, đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa là việc làm
không thể thiếu. Bên cạnh đó, kết hợp sử dụng các phương pháp
nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương
pháp điều tra xã hội học, phương pháp điền dã, tham dự của nhân
học văn hóa.
- Phương pháp liên/ đa ngành
Nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội là
sự thu thập, tổng hợp kết quả nghiên cứu của rất nhiều lĩnh vực khoa
học chuyên ngành như nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc
học, xã hội học, tâm lý học, sử học…
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các tài liệu thứ
cấp liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhằm tìm ra điểm tương đồng
và khác biệt trong biến đổi văn hóa ở các làng nghề truyền thống
trên. Từ đó đưa ra những nhận định đúng đắn, sát thực với tình hình
cụ thể, làm rõ biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Nghiên cứu đề tài này,
Nghiên cứu sinh sử dụng 145 bảng hỏi khảo sát làng Triều Khúc,
182 bảng hỏi anket khảo sát làng Thiết Úng, 20 phiếu phỏng vấn sâu
những người thợ, cán bộ, nhân viên UBND xã am hiểu về lĩnh vực

triển hiện nay.
6.2. Đóng góp về mặ t thự c tiễ n:
- Đề tài chỉ ra xu hướng biến đổi văn hóa làng nghề truyền
thống, giúp các nhà quản lý tham khảo để từ đó nghiên cứu, xây
dựng những chính sách văn hóa hợp lý cho sự phát triển văn hóa làng
nghề Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa
làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu (9 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham
khảo (13 trang), phụ lục (115 trang), nội dung của luận án được kết cấu
thành 4 chương, 10 tiết:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (30 trang).
Chương 2. Khái lược về làng nghề truyền thống Hà Nội và hai
làng Triều Khúc, Thiết Úng (37 trang).


5

Chương 3. Khảo sát sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Triều
Khúc và Thiết Úng (45 trang).
Chương 4. Một số vấn đề cần bàn luận và đề xuất giải pháp bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề (24 trang).
Chương 1
T NG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C U VÀ C S LÝ LU N
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Sách, công trình viết về nghề, làng nghề, văn hóa làng nghề, biến
đổi văn hóa làng nghề Hà Nội có hơn 100 đầu tài liệu. Mặc dầu con số
trên còn khiêm tốn nhưng cũng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên
cứu những vấn đề trên, đặc biệt là trong điều kiện đổi mới hiện nay.

đổi: một số công trình đi sâu vào vấn đề cần thiết phải thực hiện việc đa
dạng hóa sản phẩm, thay đổi mẫu mã để vừa mang tính hiện đại, nhưng
vẫn giữ được yếu tố truyền thống; Một số công trình khác đi sâu vào việc
nghiên cứu về tầm quan trọng của môi trường kinh doanh đối với sự phát
triển và biến đổi của văn hoá làng nghề truyền thống...
- Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu và hệ
thống về biến đổi văn hoá làng nghề thống Hà Nội nói chung và làng
Triều Khúc, Thiết Úng nói riêng (ngay cả khái niệm văn hoá làng
nghề truyền thống cũng chưa được nhắc tới như đã nói ở trên), để từ
đó có được một cái nhìn toàn cảnh hơn, sâu sắc hơn. Bởi vì chính
những biến đổi này góp phần làm nên một diện mạo mới của các
làng nghề truyền thống Hà Nội ngày nay, trong đó có làng Triều
Khúc và Thiết Úng.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1. Các khái niệm cơ bản và cấu trúc văn hóa làng nghề
truyền thống
1.2.1.1. Văn hóa, Văn hóa nghề
- Văn hóa: Cho đến nay có hơn 500 định nghĩa khác nhau về
văn hóa, tuy nhiên, Nghiên cứu sinh nhận thấy định nghĩa về văn
hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phù hợp với vấn đề của luận án.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quan niệm về văn hóa như sau: “Vì lẽ
sinh tồn và mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã


7

Văn hóa làng nghề truyền thống gồm 3 thành tố tạo nên, đó là:
Văn hóa vật chất, văn hóa tổ chức cộng đồng và văn hóa tinh thần.
1.2.2. Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa là chủ đề nghiên cứu rộng của nhiều ngành
khoa học. Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về biến đổi văn hóa và


8

đều có điểm chung giống nhau khi cho rằng không có nền văn hóa
nào đứng yên một chỗ, cũng như không có một nền văn hóa nào
không có sự thay đổi gì so với thời kỳ khai nguyên của nó.
Lý thuyết về văn hóa sản xuất vật chất của A.A.Radughin và biến đổi
văn hóa của các học giả trong và ngoài nước cho thấy ở bất kỳ xã hội nào,
trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nhất định nào cũng đều có những biến đổi,
cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi. Những tiếp nối và biến đổi
bao hàm cả biến đổi về số lượng, chất lượng, trạng thái; Biến đổi giữa cái
cũ và cái mới; từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và văn hóa làng nghề
truyền thống cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Tiểu kết
Mặc dù có nhiều công trình của những tác giả là các chuyên gia
am hiểu sâu trong lĩnh vực văn hóa làng nghề, tuy nhiên nghiên cứu
về biến đổi văn hoá làng nghề truyề n thố ng Hà Nộ i vẫn còn là vấn
đề còn bỏ ngỏ, đặc biệt là các nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng
nghề Triều Khúc và Thiết Úng vẫn đang là khoảng trống. Công trình
nghiên cứu về biến đổi văn hóa hai làng nghề thực sự còn rất khiêm
tốn. Các bài viết, tạp chí về hai làng nghề hiện nay chỉ mang tính thời
sự, phóng sự, chưa đi sâu phân tích, đánh giá những biến đổi về văn
hóa cũng như đề xuất hướng giải quyết.
Kế thừa kết quả nghiên cứu cùng với các khái niệm về nghề,

2.1.2.3. Văn hoá làng nghề luôn tích hợp, giao thoa, toả sáng
2.1.2.4. Văn hóa làng nghề Hà Nội gắn với đô thị, thị trường
2.1.2.5. Văn hoá làng nghề Hà Nội nhạy bén, năng động, thích ứng
2.2. LÀNG NGH TRUY N TH NG TRI U KHÚC VÀ THI T ÚNG
2.2.1. Làng Triều Khúc (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì)
Làng Triều Khúc tên nôm là Kẻ Đơ thuộc xã Tân Triều, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Xưa kia, Triều Khúc thuộc Trang Khúc Giang, sau
này thường gọi là Đơ Đồng, khi có nghề thêu gọi là Đơ Thao. Làng
Triều Khúc nằm ở phía Nam đường Nguyễn Trãi, nối Cầu Mới với quận
Hà Đông, đoạn đầu đường Quốc lộ 6. Trước năm 1961, Triều Khúc thuộc
tỉnh Hà Đông, từ năm 1961, nhập vào huyện Thanh Trì.
2.2.2. Làng Thiết Úng (xã Vân Hà, huyện Đông Anh)
Làng Thiết Úng (làng Ống) còn được gọi là thôn Thiết Úng. Xưa
kia, Thiết Úng nằm bên dòng Hoàng Giang, tức sông Ngũ Huyện
Khê (cũ) thuộc hệ thống sông hào thành Cổ Loa, là nơi có cư dân cổ
sinh sống, lập nên xóm làng, phường thợ, vì vậy có tên là Xa Lập.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thôn Thiết Úng thuộc
tổng Hà Lỗ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sau


10

Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thiết Úng là một thôn của xã
Thiết Hà Châu. Từ năm 1949, Thiết Úng trở thành một trong năm
thôn của xã Vân Hà.
* Hai làng nghề đều có truyền thống hiếu học và yêu nước, di
tích lịch sử, văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia (đình, đền, chùa,
nhà thờ Tổ nghề), có nghề thủ công truyền thống hình thành từ vài
trăm năm trước (làng Triều Khúc có nghề dệt, nghề làm nón quai
thao...; làng Thiết úng có nghề đồ gỗ mỹ nghệ chạm trổ công phu,

Việc nhận diện và nêu rõ các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự
biến đổi văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội sẽ làm rõ được
nguyên nhân tác động tạo ra biến đổi, giúp chúng ta tìm ra những
giải pháp phù hợp, góp phần khắc phục những hạn chế, để văn hóa
làng nghề có hướng đi đúng, phù hợp trong điều kiện mới nhưng vẫn
duy trì và bảo tồn được văn hóa làng nghề truyền thống.
Tiểu kết
Làng nghề truyền thống Hà Nội với những điều kiện vị trí địa lý,
kinh tế, chính trị, giao thông thuận lợi đã và đang góp phần làm thay
đổi diện mạo văn hóa làng nghề. Ở chương 2 này, Nghiên cứu sinh
phân tích cơ cấu và đặc trưng văn hóa làng nghề truyền thống, Với
việc nhận diện và nêu rõ các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự biến
đổi văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội, nghiên cứu sinh đã phân
tích và chỉ ra được những nhân tố tác động đến sự biến đổi văn hoá
làng nghề Hà Nội hiện nay. Tiếp đó, Nghiên cứu sinh phân tích 5 đặc
trưng cơ bản của văn hoá làng nghề truyền thống Hà Nội, trong đó
đặc trưng nhạy bén, năng động, thích ứng là một trong 5 đặc trưng
thể hiện rõ nhất ở hai làng nghề Triều Khúc và Thiết Úng trong quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường. Đây
chính là đặc trưng không thể thiếu đối với bất kỳ làng nghề truyền
thống Hà Nội nào muốn bảo tồn, giữ gìn và phát huy văn hoá làng
nghề của địa phương.
Chương 3
KH O SÁT S BI N
I V N HÓA LÀNG NGH
TRUY N TH NG TRI U KHÚC VÀ THI T ÚNG
3.1. BI N I V N HOÁ V T CH T, C NH QUAN MÔI TR NG
Lĩnh vực văn hoá vật chất bao gồm: chế tác, sử dụng công cụ sản
xuất, cách thức chọn, sử dụng nguyên liệu sản xuất, sản phẩm làng
nghề, cảnh quan, không gian tồn tại nghề, không gian mưu sinh, cư trú

một địa điểm cho việc vừa sản xuất, vừa bán hàng, vừa ở, thì hiện
nay, việc dùng chung địa điểm đã khác. Bên cạnh đó, tính chuyên
nghiệp thể hiện rõ ở các khâu trong quá trình sản xuất. Yếu tố này đã
góp phần tiên quyết, chi phối sự thay đổi của hoạt động sản xuất.
Nếu người thợ không thay đổi quy mô sản xuất, địa điểm sản xuất,
phương thức sản xuất thì sẽ không tạo ra được năng suất cao và như
vậy họ khó có thể tiếp tục duy trì, phát triển được nghề.
3.1.4. Biến đổi cảnh quan, môi trường làng nghề
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, cùng với việc biến đổi cách thức
sản xuất, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, làng nghề Triều Khúc ở


13

trong lòng đô thị, những ngôi nhà ống, nhà cao tầng san sát mọc lên. Làng
Thiết Úng có lẽ xa trung tâm hơn, nên sự đổi thay không đạt đến tốc độ
nhanh như Triều Khúc. Nhưng so với trước, theo những người cao tuổi
trong làng thì vẫn khác trước rất nhiều, về cảnh quan làng nghề sạch đẹp
so với trước năm 2000 đã tăng lên, về mức độ chưa sạch đẹp giảm
xuống. Mặc dù đây đó còn những nhận xét về cảnh quan làng nghề,
nhưng về cơ bản, dân làng đều nhận thấy sự thay đổi cảnh quan theo
chiều hướng tích cực hơn, mang lại nhiều thuận lợi hơn cho cuộc sống
sinh hoạt và sản xuất của họ.
3.2. BI N
I L NH V C V N HOÁ T CH C C NG
NG
3.2.1. Biến đổi quan hệ gia đình
Xuất phát từ biến đổi phương thức truyền nghề và giữ gìn bí
quyết nghề nghiệp, từ việc chuyển đổi sang nghề nghiệp khác, vì
vậy, việc truyền nghề cho tất cả mọi người trong gia đình của người

ngày nay đã mở công ty, mở xưởng sản xuất lớn, họ đã tin tưởng và
mạnh dạn giao quyền quản lý cho những người con của họ chịu trách
nhiệm chính trong sự phát triển kinh tế.
Quan hệ anh chị em họ, ngày nay do nhiều mối quan tâm chi phối hơn
trước, nên việc thăm hỏi nhau không diễn ra thường xuyên. Trước đây, khi
nhà anh em nào có đám, người Triều Khúc và Thiết Úng thường tạm gác tất
cả việc nhà lại để đến giúp nhau. Nhưng ngày nay, do mỗi người đều có
những công việc nhất định, đặc biệt là công việc sản xuất không cho phép
chậm bàn giao sản phẩm, nên người thợ không thể bỏ công việc sang giúp
được mà chỉ cử người trong gia đình đại diện có mặt. Trừ khi có sự kiện
trọng đại tổ chức (như mừng thọ, hiếu hỷ), lúc đó tất cả các thành viên trong
gia đình mới tham dự.
Trong quan hệ hàng xóm láng giềng thì cho đến nay, người
Triều Khúc và Thiết Úng vẫn duy trì mối quan hệ làng xóm thân
thiết, thể hiện tình cảm gắn bó, đoàn kết, nhất là những khi “tắt lửa,
tối đèn”.
3.2.2. Biến đổi các quan hệ khác của làng nghề
Trước sự nghiệp CNH, HĐH, toàn cầu hoá, trước những biến đổi
của nghề, chủ thể văn hoá làng nghề là thợ thủ công cũng đã tự thay
đổi, do vậy các mối quan hệ xã hội làng nghề giữa chủ và thợ, giữa
thầy và trò, giữa người mua và người bán, giữa các phe, giáp,
phường, hội cũng vì thế mà biến đổi theo.


15

3.2.2.1. Biế n đổ i quan hệ chủ và thợ
Trước đây, nếu người thợ Thiết Úng muốn học nghề, họ mang
biếu thầy nồi gạo, ngày nay thì đơn giản và cởi mở hơn, người thợ
nào muốn học nghề, thầy sẽ tận tình chỉ dạy, miễn là người đó chăm

16

bởi yếu tố kinh tế, thu nhập. 60% người được hỏi đều trả lời rằng sẽ
hướng dẫn cho mọi người cùng làm nghề nếu người đó hỗ trợ họ trong
công việc hay tham gia làm trong các cơ sở sản xuất của họ. Yếu tố ảnh
hưởng thứ hai trong việc truyền nghề là tôn vinh nghề thủ công và tôn
vinh nghệ nhân.
Tiếp theo đó là mức độ tài hoa của bàn tay khối óc, tâm hồn của từng
cá nhân, quy luật kinh tế thị trường, tính chất bí quyết nghề, sự thay đổi
công năng của sản phẩm, nhu cầu lao động việc làm, tác động của CNH,
HĐH, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đều có ảnh hưởng đến việc
truyền nghề và giữ bí quyết nghề. Việc giữ bí quyết nghề còn được người
Triều Khúc và Thiết Úng thực hiện với mục đích đầu tiên là để duy trì
sức mạnh của gia đình, dòng họ, sau đó là chi phối quan hệ hôn nhân,
quan hệ thầy trò và quan hệ bất bình đẳng giới.
3.3. BI N

I L NH V C V N HOÁ TINH TH N

3.3.1. Biến đổi lễ hội làng và hội thờ Tổ nghề
Biến đổi trong lễ hội làng và lễ hội thờ Tổ nghề thể hiện ở
nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa nhân dân làng nghề với
những nét biến đổi cơ bản về chủ thể tham gia tổ chức, quy mô,
không gian, thời gian, hình thức tổ chức; là quan niệm của người
thợ biến đổi khi đánh giá về tầm quan trọng trong lễ hội Tổ nghề; lễ
vật dâng cúng Tổ nghề mở rộng hơn, phong phú hơn do kinh tế phát
triển, người dân làng nghề có thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định
và đầy đủ hơn trước.
3.3.2. Biến đổi phong tục, tập quán làng nghề
3.3.2.1. Biế n đổ i trong cư ớ i hỏ i

gần làng, trường hợp lấy chồng khác làng được miễn thủ tục trên.
3.3.2.2. Biế n đổ i trong lễ mừ ng thọ , khao vọ ng, đình đám
Trong xã hội truyền thống làng nghề Triều Khúc và Thiết Úng, lễ
mừng thọ, khao vọng, đình đám luôn được người làng coi trọng.
Ở Triều Khúc trước đây, lễ mừng thọ kéo dài 3 ngày, nay rút
xuống còn 2 hoặc 1 ngày, tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình.
Bên cạnh việc ăn uống là lệ đánh chắn ăn tiền của những người đến
mừng thọ như con cháu, họ hàng, làng xóm. Thời gian đánh chắn kéo
dài không chỉ ban ngày, mà còn diễn ra thâu đêm. Ngày nay, lệ đánh
chắn không diễn ra thâu đêm, suốt sáng nữa, nếu họ hàng, làng xóm
có đến mừng thọ, gặp đám chơi thì họ cũng chỉ tham gia chốc lát cho
vui, chứ không sa đà như trước kia.
Đối với làng Thiết Úng, tục mừng thọ xưa kia được quy định
nam giới đến 50 tuổi thì gọi là lão hạng, có cơi trầu đưa đến đình xin


18

vọng lão, được miễn giảm một nửa số sưu dịch. Người già 60 tuổi
được gọi là lão nhiêu, được miễn trừ hoàn toàn sưu dịch. Ngày nay
không còn chế độ sưu dịch nữa, người Thiết Úng khi đến tuổi 50, 60
vẫn sửa cơi trầu lên đình lễ, đến tuổi 70, 80 thì con cháu trong nhà
họp nhau lại để bàn việc tổ chức mừng thọ, làm cỗ mời họ hàng, làng
xóm đến chia vui.
3.3.2.3. Biế n đổ i trong tang ma
Với quan niệm “Nghĩa tử là nghĩa tận”, khi một gia đình nào đó
trong làng Triều Khúc có người mất, họ hàng, làng xóm đều đến
động viên, chia buồn, cùng gia đình tang quyến lo liệu chu đáo cho
người đã khuất. Tuy nhiên, hiện nay, hiện tượng thuê người khóc
mướn đã và đang diễn ra ở Triều Khúc là việc cần xem xét lại. Đây

ra trong bối cảnh hiện nay là điều tất yếu. Biến đổi văn hóa hai làng
đan xen cả yếu tố tích cực và yếu tố tiêu cực.
Về biến đổi mang tính tích cực, đó là biến đổi về hình thức công
cụ, công nghệ, cách thức sản xuất, mua nguyên vật liệu, biến đổi về
mẫu mã, sản phẩm. Bên cạnh những biến đổi mang tính tích cực, có
những biến đổi cần quan tâm để khắc phục, không nên để thấm sâu
hơn nữa vào đời sống cộng đồng.
Do đó, rất cần sự quan tâm của chính quyền địa phương, từ đó
tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người dân
làng nghề. Bên cạnh đó, cần sự hiểu biết hơn nữa, cũng như sự trân
trọng giá trị văn hóa làng nghề của những người thợ làng nghề. Chỉ
có những người thợ làng nghề hiểu được những giá trị cốt lõi đó,
chắc chắn họ sẽ điều chỉnh được suy nghĩ và hành động, để giữ gìn
nguyên vẹn tinh hoa của văn hóa làng nghề cha ông để lại.
Chương 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN LUẬN
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY
VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
4.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN LUẬN
4.1.1. Vai trò c a ch th
i v i s bi n i v n hoá làng
ngh truy n th ng
Có nhiều đối tượng ngoài cộng đồng chủ thể tham gia bảo vệ di
sản: cơ quan nhà nước, nhà nghiên cứu, tổ chức xã hội..., nhưng vai
trò quyết định thuộc về các chủ thể là cộng đồng sở hữu di sản. Qua
thực tiễn sự biến đổi văn hoá làng nghề ở hai làng Triều Khúc, Thiết
Úng và một số làng nghề truyền thống Hà Nội, Nghiên cứu sinh cho
rằng, chính những người thợ thủ công làng nghề với tư cách là chủ thể
văn hoá làng nghề truyền thống đã trực tiếp tạo ra những biến đổi văn


chức sản xuất sản phẩm, họ sẽ có những sáng tạo trong việc giữ gìn
và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn.
4.1.2. Cơ chế, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, vai
trò của các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội trước những biến
đổi của văn hoá làng nghề truyền thống
NCS nêu lên 6 vấn đề về vai trò, nhiệm vụ của cơ quan quản lý
nhà nước các cấp; các tổ chức đoàn thể; các hệ thống thiết chế trong
việc giáo dục cho mọi người cùng góp sức trong việc bảo tồn và phát
huy văn hóa làng nghề truyền thống, nhằm ngăn chặn những biến đổi
tiêu cực, không để những biến đổi đó làm xói mòn đi nét đẹp truyền
thống của các làng nghề.


21

4.2. GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
4.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức và chính sách
4.2.1.1. Bảo tồn, phát huy văn hoá làng nghề truyền thống là một
con đường (biện pháp) để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn
4.2.1.2. Bảo tồn, phát huy văn hoá làng nghề truyền thống để
góp phần bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc
4.2.2. Nhóm giải pháp về kinh tế, khoa học, công nghệ
4.2.2.1. Giải pháp về khoa học, công nghệ
4.2.2.2. Đầu tư vốn cho bảo tồn, phát huy, nhân cấy nghề truyền
thống và văn hoá làng nghề truyền thống
4.2.2.3. Đào tạo nghề, xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế
4.2.2.4. Mở rộng thị trường cho sản phẩm làng nghề truyền
thống và nguồn nguyên liệu sản xuất
4.2.2.5. Phát triển du lịch làng nghề truyền thống (kết hợp làng

ô nhiễm môi trường, phát triển các làng nghề truyền thống kết hợp
với du lịch, thực hiện các chương trình khuyến công quốc gia, đào
tạo thợ lành nghề, thợ giỏi, hỗ trợ khoa học công nghệ….
KẾT LUẬN
1. Đề tài tập trung nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của làng
nghề truyền thống Triều Khúc và Thiết Úng trong thời gian từ năm
2000 đến nay.
Luận án đã hệ thống hoá và xác định nội hàm một số khái niệm
về văn hóa, văn hóa nghề, văn hóa làng nghề, văn hóa làng nghề
truyền thống. Trên cơ sở đó, luận án vận dụng các quan điểm, đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để nghiên cứu
những vấn đề biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Hà Nội hiện
nay. Nhằm đem lại kết quả khách quan, luận án sử dụng các phương
pháp nghiên cứu liên/đa ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp,
phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp điền dã, tham dự của
nhân học văn hóa.
2. Kết quả nghiên cứu của luận án đã đánh giá, phân tích thực
trạng biến đổi văn hoá đã và đang diễn ra tại làng nghề Triều Khúc
và Thiết Úng, trong đó nghiên cứu sinh đã làm rõ biến đổi về văn
hoá sản xuất, biến đổi về văn hoá tinh thần và biến đổi văn hoá tổ
chức cộng đồng của người dân hai làng. Những biến đổi đó vừa có
hạn chế tiêu cực, vừa có tác động tích cực đối với người dân làng
nghề, là động lực để thúc đẩy họ luôn tìm tòi, đổi mới, không ngừng
vận động theo xu hướng đổi thay và phát triển của xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status