Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Văn hóa, thể thao và du lịchViện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Vũ Diệu Trung Sự Biến đổi văn hóa làng nghề
ở châu thổ sông Hồng
từ năm 1986 đến nay
(Qua khảo sát trờng hợp một số làng: Sơn Đồng
(Hà Tây), Bát tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình))
Luận án tiến sĩ Văn hóa học
(Hà Tây), Bát tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình)) Chuyên ngành : Văn hóa dân gian
Mã số : 62.31.70.05 Luận án tiến sĩ Văn hóa học
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn duy bắc
Hà Nội - 2013 Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi; các t liệu đợc sử dụng
trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ
ràng; những phát hiện đa ra trong luận án
18
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về 3 làng nghề Sơn Đồng, Bát Tràng và
Đồng Xâm
20
1.2. Cơ sở lý luận
26
1.2.1. Biến đổi văn hoá
26
1.2.2. Biến đổi văn hoá làng nghề
30
Chơng 2. biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở
làng sơn đồng, bát tràng và đồng xâm từ năm 1986
đến nay
42
2.1. Bối cảnh chung về chính trị, kinh tế, xã hội trong các làng nghề từ năm
1986 đến nay
42
2.2. Biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở làng Sơn Đồng, Bát
Tràng và Đồng Xâm
50
2.2.1. Biến đổi không gian, cảnh quan và di tích
50
2.2.2. Biến đổi hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác và sản phẩm
61
2.2.3. Biến đổi phơng thức truyền nghề và giữ gìn bí quyết nghề nghiệp
73
2.2.4. Biến đổi một số quan niệm và quan hệ xã hội
75
2.2.5. Biến đổi tín ngỡng, lễ hội và phong tục tập quán
90
Danh mục chữ Viết tắt BLĐTB&XH:
Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội
BNN&PTNT:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CB:
Chạm bạc
CBLTTP:
Chế biến lơng thực thực phẩm
CHXHCN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
EU:
Cộng đồng chung Châu Âu
DNTN:
Doanh nghiệp t nhân
GS:
Giáo s
Hội KHLSVN và Viện VĐBC:
1. Bảng kê số liệu
Trang
1.
Bảng 1. Giá trị sản xuất thủ công nghiệp ở Đồng Xâm 46
2.
Bảng 2. Kết quả hoạt động sản xuất nghề ở Đồng Xâm năm 2009 46
3. Bảng 3. Thống kê về nhà ở năm 2005, 2009 tại 3 làng Sơn Đồng, Bát
Tràng, Đồng Xâm
55
4.
Bảng 4. Thống kê về nhà ở năm 2005, 2009 của 61 làng nghề 56
5.
Bảng 5. Mức độ đầu t của ngời dân 3 làng nghề Sơn Đồng, Bát
Tràng, Đồng Xâm để trùng tu, sửa chữa các thiết chế văn
hoá thuyền thống
60
6.
Bảng 6. Mức độ đầu t của ngời dân 61 làng nghề để trùng tu, sửa
chữa các thiết chế văn hoá thuyền thống
60
7.
89
15.
Bảng 15. Số lợng điện thờ, bản hội, con nhang đệ tử của tín ngỡng
thờ Mẫu
97
16.
Bảng 16. Mức độ thực hành nghi thức trong đám cới ở 61 làng nghề 109
17.
Bảng 17. Mức độ thực hành nghi thức trong tang ma ở 61 làng nghề 111
4
2. Biểu đồ
Trang
1. Biểu đồ 1. Mức sống của những hộ làm nghề ở Sơn Đồng (2005)
47
2 Biểu đồ 2. Mức sống của những hộ làm nghề ở Sơn Đồng (2009)
47
3. Biểu đồ 3. Mức sống của những hộ làm nghề ở Bát Tràng (2005)
47
4. Biểu đồ 4. Mức sống của những hộ làm nghề ở Bát Tràng (2009)
47
5. Biểu đồ 5. Mức sống của những hộ làm nghề ở Đồng Xâm
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh
đạo là một sự nghiệp cách mạng to lớn, toàn diện và sâu sắc nhằm thực hiện
mục tiêu Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh tiến
bớc vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đã và đang làm biến
đổi mạnh mẽ và toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
đất nớc, làm chuyển biến nớc ta từ một nền nông nghiệp kém phát triển
sang trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
Chính nền kinh tế thị trờng đã mang đến những biến đổi tích cực về văn
hóa - xã hội, khai thác và phát huy đợc các tiềm năng sản xuất trong xã hội, làm
bật dậy sức sáng tạo to lớn của hàng chục triệu ngời lao động, là nền tảng bảo
đảm thực hiện quyền làm chủ về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của nhân
dân, trên cơ sở đó mở rộng và phát huy dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác của
đời sống xã hội. Song, thực tế cũng cho thấy bản thân nền kinh tế thị trờng
không phải là liều thuốc vạn năng. Cùng với sự kích thích sản xuất phát triển,
kinh tế thị trờng cũng chính là môi trờng thuận lợi để nảy sinh và phát triển
nhiều tệ nạn xã hội, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, thơng mại hóa các
lĩnh vực văn hóa - xã hội, làm suy thoái t tởng, đạo đức lối sống, phai nhạt các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tuy nhiên cho đến nay Công tác
nghiên cứu lý luận v thực tiễn cha làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn
hóa trong quá trình đổi mới [19, tr.52]. Thực tiễn phát triển văn hóa ở nớc ta
trong thời kỳ đổi mới đã và đang đòi hỏi cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng
kết về những biến đổi về văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ và phát huy những giá
trị văn hóa truyền thống dân tộc cũng nh xây dựng và hoàn thiện nhân cách
con ngời Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công
6
và đa ra giải pháp cho sự phát triển văn hoá làng nghề ở châu thổ sông Hồng
trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghề ở châu
thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới qua nghiên cứu 3 làng nghề Sơn Đồng
(Hoài Đức, Hà Tây cũ), Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) và Đồng Xâm (Kiến
Xơng, Thái Bình).
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của
các làng nghề, nhằm góp phần phát triển bền vững các làng nghề trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trờng, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập quốc tế.
3. Phơng pháp nghiên cứu
3.1. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một cách kết hợp và linh hoạt các phơng pháp nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó tuỳ theo nhiệm vụ giải quyết vấn đề ở
từng mục, từng chơng, mà áp dụng từng phơng pháp cụ thể với cách tiếp
cận chủ đạo, bên cạnh sự hỗ trợ của các phơng pháp khác mang tính liên
ngành. Có 4 loại phơng pháp đợc sử dụng nh sau:
- Phơng pháp nghiên cứu văn hóa dân gian
- Phơng pháp nghiên cứu dân tộc học, nhân học
- Phơng pháp nghiên cứu lịch sử
- Phơng pháp nghiên cứu xã hội học
3.2. Thao tác nghiên cứu
- Tổng hợp và phân tích văn bản.
- Quan sát tham dự.
- Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu cá nhân tại 3 làng nghề Sơn Đồng
(Hà Tây cũ), Đồng Xâm (Thái Bình) và Bát Tràng (Hà Nội).
- Phỏng vấn bằng bảng hỏi:
8
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
Trong công trình Làng nghề Việt Nam và môi trờng, các tác giả có đa
ra con số thống kê về số lợng làng nghề năm 2005 nh sau: Việt Nam có
1450 làng nghề với miền Bắc là 976 làng (làng nghề thuộc châu thổ sông
Hồng là 856 làng), miền Trung là 297 làng và miền Nam là 177 làng nghề
[16, tr.55-56]. Số liệu trên cho thấy, làng nghề ở miền Bắc nhiều gấp 3 lần so
với miền Trung và gấp 5 lần so với miền Nam. Theo báo cáo của Trung tâm
phát triển quốc tế Nhật Bản (JICA) trong dự án nghiên cứu về quy hạch phát
triển ngành nghề thủ công theo hớng công nghiệp hoá nông thôn ở nớc
CHXHCN Việt Nam và báo cáo 4 năm thực hiện Quyết định số 132/2000-
QĐ-TTg do BNN&PTNT ban hành, Việt Nam có 2017 làng nghề với 1,4 triệu
hộ gia đình tham gia sản xuất. Theo tiêu chí của BNN&PTNT, Việt Nam có
11 nghề thủ công chính: Nhóm ngành nghề gốm sứ thuỷ tinh; nghề cói; nghề
sơn mài; nghề mây tre giang đan; nghề thêu ren; nghề dệt; nghề gỗ; nghề
chạm khắc đá; nghề giấy thủ công; nghề tranh in khuôn gỗ; nghề kim khí đúc
đồng, chạm bạc Trong đó làng nghề mây tre đan là 713 làng (35,24%), làng
có nghề dệt là 432 làng (21,41%), làng sản xuất đồ gỗ là 342 làng (16,95%),
làng thêu ren là 341 làng (16,90%) còn 189 làng thuộc các ngành nghề khác.
Đây thực sự là những con số minh chứng cho vị trí của làng nghề đối với nền
kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Châu thổ sông Hồng là nơi tập trung nhiều làng nghề thủ công nhất
trong cả nớc, còn các làng nghề ở Trung và Nam Bộ hình thành và phát triển
là do một bộ phận dân c đã đa nghề thủ công theo trong quá trình Nam tiến.
Trong cuốn Ngời nông dân châu thổ Bắc Kỳ học giả P.Gourou đã dẫn ra số
liệu thống kê với 108 nghề thủ công khác nhau ở vùng đất này: ở Bắc Kỳ có
rất nhiều công nghiệp khác nhau: điều đó không có gì lạ, vì dân chúng ở châu
thổ phải tự túc về nhu cầu đối với hàng chế tạo. Chúng tôi đã đếm đợc 108
10
11
+ Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm có những bớc thăng trầm riêng,
đợc hình thành từ lâu đời với những quy ớc và luật tục rất chặt chẽ (Phúc
Lộc phờng). Trớc những năm đổi mới, nghề chạm bạc so với các nghề khác
ở châu thổ sông Hồng khá phát triển (mở rộng về quy mô, sản phẩm sản xuất
ra phục vụ xuất khẩu đi các nớc Liên Xô và Đông Âu). Sau đổi mới, quy mô
của làng nghề không chỉ giới hạn trong xã mà còn lan rộng ra cả vùng. Nhng
cho đến thời điểm hiện nay, tốc độ tăng trởng của làng nghề gần nh chững
lại, các sản phẩm chạm bạc truyền thống không còn là thế mạnh của làng
nghề mà thay thế vào đó là các loại sản phẩm mới phù hợp với thị trờng.
Đề tài của luận án đặt ra là nghiên cứu trờng hợp nhng vẫn phải đặt
sự biến đổi văn hoá làng nghề của 3 làng trong bối cảnh chung các làng nghề
vùng châu thổ sông Hồng. Vì vậy, ngoài nghiên cứu trờng hợp, chúng tôi còn
nghiên cứu mở rộng tới 61 làng nghề tại 3 huyện Hoài Đức, Gia Lâm, Kiến
Xơng để thấy đợc sự biến đổi văn hóa làng nghề mang tính tổng thể.
Về thời gian: Luận án tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đánh giá sự
biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (từ
năm 1986 đến nay).
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu (7 trang), kết luận (2 trang), tài liệu tham khảo (10
trang), phụ lục (107 trang), nội dung của luận án đợc kết cấu thành 3
chơng:
Chơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (25 trang)
Chơng 2. Biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở làng Sơn
Đồng, Bát Tràng và Đồng Xâm từ năm 1986 đến nay (76 trang)
Chơng 3. Bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề ở châu thổ sông
Hồng (38 trang)
12
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về làng nghề và văn hoá làng
nghề ở châu thổ sông Hồng
Thời kỳ phong kiến đã có những ghi chép về làng nghề hay nghề truyền
thống, nhng các ghi chép này thờng gắn liền với sự kiện lịch sử và chỉ điểm
xuyết tên một số nghề hay làng nghề nhất định. Theo số liệu thống kê, trong
cuốn Đại Việt sử ký toàn th [18], thì chỉ có 2 lần các sử gia nhắc đến tên làng
nghề nh: làng nghề làm nón Ma Lôi và thợ làng Cao Liệt với nghề làm mũ
cỏ, có 20 ghi chép về các nghề nh dệt gấm, đúc đồng, luyện sắt, trồng dâu
nuôi tằm, dệt gai, làm keo, làm sơn hay diêm tiêu và chỉ có 2 ghi chép về
việc quy định cho các thợ thủ công làm việc trong các công trình của triều
đình. Trong Đại Nam thực lục [87] có rất nhiều ghi chép về làng nghề và nghề
cổ ở nớc ta: 27 ghi chép về làng nghề, 117 ghi chép về nghề thủ công, 65 ghi
chép về quy định và việc thợ thủ công làm việc cho triều đình. Nhìn vào số
liệu trên, chúng ta thấy đợc sự hình thành của làng nghề thủ công trong lòng
chế độ phong kiến với sự quản lý chặt chẽ của chính quyền nhà nớc và sự
phát triển mang tính rộng khắp của làng nghề trong cả nớc. Điều này cũng
khẳng định rằng:
- Làng nghề trong lịch sử là một trong những công cụ phục vụ đắc lực
cho chính quyền nhà nớc phong kiến.
- Nghề thủ công góp phần làm tăng thêm mối quan hệ Làng Nớc.
Một nguồn tài liệu khác vô cùng phong phú về làng nghề đó chính là
truyền thuyết và ca dao dân ca. Trong công trình Kho tàng ca dao dân ca
ngời Việt (4 tập) của các tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Phan
Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang [60], chúng tôi đã thống kê
đợc trong tổng số 11.665 câu ca dao dân ca có 261 câu nói về làng nghề thủ
công:
- 98 câu nói về địa danh làng nghề (nhiều nhất là khu vực Hà Nội (bao
gồm cả tỉnh Hà Tây cũ)).
14
15
một bức tranh sinh động và khá đầy đủ của nghề thủ công mỹ nghệ ở đồng
bằng Bắc Bộ [67, tr.63].
Trong cuốn Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, tác
giả Phan Gia Bền đã chỉ ra tác dụng của thủ công nghiệp, phân tích một số
chính sách đối với làng nghề trong thời kỳ Pháp thuộc, đặc điểm của nghề thủ
công Việt Nam, đặc biệt là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Với công
trình này, tác giả đã nghiên cứu khá công phu, cung cấp cho ngời đọc những
tri thức cơ bản về sự phát triển thủ công nghiệp trong một giai đoạn lịch sử
khá dài. Tuy nhiên, do hớng tới một mục đích nhất định nên công trình này
chỉ đi sâu vào phân tích tiểu thủ công nghiệp và mô tả một số nghề gắn liền
với làng nghề nhất định chứ không đề cập chuyên sâu đến làng nghề hay vai
trò quan trọng của làng nghề trong sự phát triển chung của cả nền công nghiệp
Việt Nam thời bấy giờ [10, tr.80, 112, 113]. Về mặt lý thuyết, tác giả đã đóng
góp một phần không nhỏ vào việc đa ra những định nghĩa về thủ công
nghiệp, thợ thủ công mà cho đến hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn đang sử
dụng hoặc đa ra làm tiền đề cho những nghiên cứu của mình.
Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu về làng nghề của các tác giả
Việt Nam nghiên cứu tơng đối muộn so với những công trình nghiên cứu về
làng xã (kinh tế, xã hội, văn hoá), và thờng chủ yếu sử dụng phơng pháp
mô tả dân tộc học. Chẳng hạn nh bộ sách Nghề cổ truyền (2 tập) của tác giả
Tăng Bá Hoành tập trung khảo tả về nhiều làng nghề ở đất Hải Hng xa, nay
là tỉnh Hải Dơng và Hng Yên nh: nghề đan thuyền Nội Lễ, nghề làm tơng
Bần[45]. Những công trình nghiên cứu về làng nghề của tác giả Lâm Bá
Nam từ năm 1986 đến nay đã giúp chúng ta hiểu về qui trình của một số làng
nghề dệt, cơ cấu kinh tế, cũng nh sự tác động của kinh tế hàng hoá cận đô
vào làng nghề. Tác giả Nguyễn Văn Chính với bài viết Nghề thủ công trong
cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng Bắc Bộ, đăng trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế,
số 6, 1989 đã cho chúng ta thấy khái quát chung về cơ cấu kinh tế của làng
việc bảo vệ môi trờng tại các làng nghề: vấn đề xử lý rác thải công nghiệp,
17
tách khu sản xuất ra khỏi khu dân c, tuyên truyền giáo dục ngời dân về ý
thức bảo vệ môi trờng [117].
Qua đây, chúng ta thấy rằng, quan điểm phát triển làng nghề của các
chuyên gia đầu ngành đều dựa trên nền tảng cơ bản là bản chất t hữu nhỏ,
đặc tính tiểu nông của ngời nông dân để phát triển làng nghề theo mô hình
hộ gia đình. Điều này càng minh chứng rõ nét hơn, ngời thợ thủ công trong
các làng nghề về bản chất vẫn là ngời nông dân. Nh vậy, để tìm đợc hớng
đi cho các làng nghề trong nền kinh tế thị trờng là một bài toán khá nan giải.
Tác giả Chu Quang Trứ đi sâu Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc
cổ truyền đã viết về 3 nghề, đó là nghề đúc đồng, nghề chạm khắc gỗ và nghề
chạm đá (thành tựu của các nghề trong lịch sử, tín ngỡng thờ tổ nghề, kỹ
thuật làm nghề) [107], Jamieson.N.L với Làng nghề truyền thống Việt
Nam, in trong Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nớc
và Việt Nam (2000) đã khái quát các loại nghề truyền thống của Việt Nam
dới con mắt của ngời nớc ngoài.
Các công trình nh Nghề cổ nớc Việt (khảo cứu) của Vũ Từ Trang
[106], Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề (1996) của GS.
Trần Quốc Vợng và TS. Đỗ Thị Hảo miêu tả các nghề thủ công cổ truyền của
Việt Nam và tín ngỡng thờ tổ nghề của ngời Việt [116]; tác giả Nguyễn
Thái Lai với Làng tranh Đông Hồ [61]; tác giả Lê Huyên với Nghề Sơn cổ
truyền Việt Nam [50]; tác giả Trơng Minh Hằng với công trình Gốm sành
nâu ở Phù Lãng, Làng nghề thủ công mỹ nghệ miền Bắc đã cho thấy giá trị
văn hóa của nghề thủ công là những kỹ năng và bí quyết nghề nghiệp của
ngời thợ thủ công[39], [40]. Gần đây nhất là công trình Làng nghề Sơn
quang Cát Đằng xa và nay (2011) của Nguyễn Lan Hơng. Công trình đã
khái quát về nghề sơn ở Việt Nam, đa ra đặc trng và giá trị của làng nghề
sơn quang Cát Đằng. Mặt khác còn chỉ ra thực trạng của nghề sơn hiện tại và
châu thổ sông Hồng [32], Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay, Tô Duy
Hợp (chủ biên) và cuốn sách Đời sống văn hoá ở nông thôn đồng bằng sông
19
Hồng và sông Cửu Long của tác giả Phan Hồng Giang (chủ biên) [46], [28].
Các công trình trên đây đã dựa trên số liệu thống kê, điều tra xã hội học của
rất nhiều làng xã đã cho chúng ta thấy đợc sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế
trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng. Từ sự chuyển đổi này kéo theo hàng loạt hệ lụy đó là sự
biến đổi của xã hội nông thôn cổ truyền trong đó có cơ cấu tổ chức (bên trong
đó là các quan hệ sở hữu, quan hệ huyết thống và những quan hệ xã hội
khác), đời sống văn hóa xã hội, phong tục tập quán Đồng thời, diện mạo
của đời sống văn hóa xã hội ở nông thôn nớc ta hiện nay đợc các công trình
phác họa tơng đối toàn diện. Đây thực sự là những công trình có giá trị khoa
học nhiều mặt, giúp ích cho tác giả của luận án tiếp cận, kế thừa và học hỏi,
nhất là về mặt phơng pháp nghiên cứu liên ngành để áp dụng vào nghiên cứu
đề tài.
Tác giả Dơng Bá Phợng với công trình Bảo tồn và phát triển các làng
nghề trong quá trình công nghiệp hóa (2001) đã cho chúng ta thấy các nhân tố
ảnh hởng tới sự phát triển các làng nghề, tiềm năng và sự vận động của các
làng nghề trong nên kinh tế thị trờng, đồng thời đa ra phơng hớng bảo tồn
và phát triển làng nghề truyền thống [83, tr.10-15]. Năm 2003, tác giả Mai
Thế Hởn (chủ biên) cho xuất bản cuốn sách Phát triển làng nghề truyền thống
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nội dung: Làng nghề truyền
thống ở nông thôn Việt Nam và quá trình phát triển của nó, đa ra một số kinh
nghiệp trong việc phát triển làng nghề ở một số nớc Inđônêxia, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippin, Thái Lan, ấn Độ[47]. Làng nghề Việt
Nam và môi trờng (2005) của tác giả Đặng Kim Chi (chủ biên), Nguyễn
Ngọc Lân, Trần Lệ Minh là công trình nghiên cứu hiện trạng kinh tế - xã hội
và hiện trạng môi trờng các làng nghề trong cả nớc, đồng thời đa ra các
Công trình phải kể đến đầu tiên đó là Tợng Sơn Đồng (Hà Nội) in trong kỷ
yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1979 của tác giả Nguyễn Duy
Hinh, sau đó là bài viết Từ một vài trò diễn trong lễ hội làng của học
giả Trần Từ in trong Tạp chí NCVHNT số (3) năm 1991 [110]. Hai công
21
trình này viết về 2 khía cạnh khác nhau của làng nghề Sơn Đồng đó là tợng
thờ và tục múa mo trong lễ hội. Học giả Trần Từ đã so sánh và phân tích tục
múa mo ở xã Sơn Đồng với tục đánh phết ở Bích Đại, Thợng Lạp (Vĩnh Phú)
và đa ra một số nhận xét về tục thờ sinh thực khí, tín ngỡng phồn thực trong
trò diễn của một số làng vùng châu thổ sông Hồng. Năm 2005, tác giả Nguyễn
Xuân Nghị đã công bố bài viết Làng nghề Sơn Đồng với sản phẩm đồ thờ
truyền thống trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian số (1) [72]. Ngoài việc giới
thiệu làng cổ Sơn Đồng và lễ hội làng với tục giằng bông, tác giả còn cho
chúng ta thấy đợc kỹ thuật chế tác sản phẩm nh: tợng thờ, ngai thờ, khám
thờ, hoành phi, câu đối Năm 2008, tác giả Vũ Thị Thanh Tâm đã công bố t
liệu dân tộc học Nghề tạc tợng thờ Sơn Đồng trên Tạp chí Dân tộc học số
(2) với nội dung viết về lịch sử của nghề tạc tợng, các lễ tục trong nghề, quy
trình tạc tợng và hiện trạng làng nghề [95]. Trong công trình Làng nghề Sơn
Đồng (đề tài cấp Viện của Viện nghiên cứu Văn hóa, thuộc Viện Khoa học xã
hội Việt Nam) của tác giả Trơng Duy Bích và Nguyễn Thị Hơng Liên đã
khảo sát sự biến đổi của làng nghề Sơn Đồng dới nhiều góc độ khác nhau
nh: kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống [11]. Gần đây nhất là bài viết
Những biến đổi ở làng nghề Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam á số (7), 2011 của tác giả Nguyễn Thanh Hơng. Bài
viết đề cập đến sự biến đổi trong cách thức hoạt động nghề từ năm 1954 đến
nay và sự biến đổi trong việc dùng chất liệu và kỹ thuật chế tác của nghề tạc
tợng[52].
1.1.3.2. Các công trình nghiên cứu về làng nghề gốm Bát Tràng, Gia
Lâm, Hà Nội
năm này [58].
Năm 1995, tác giả Phan Huy Lê, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đình
Chiến cho ra mắt bạn đọc cuốn sách dịch 2 thứ tiếng Gốm Bát Tràng thế kỷ
XIV XIX (Bat Trang ceramics 14th 19th centuries) đợc các nhà khoa học
trong nớc và hội nghiên cứu gốm cổ Nhật Bản đánh giá rất cao [63].