luận văn Sự biến đổi văn hóa phố nghề ở Hàng Mã, Hàng Trống (Hà Nội) - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ”
Câu ca dao xưa phần nào đã nói lên đặc trưng của Hà Nội xưa, nơi
quy tụ của các làng nghề, phố nghề cùng với các nghệ nhân tài khéo tứ xứ.
Hà Nội với rất nhiều con phố cổ mang tên “Hàng” và có đến hàng
chục phố bắt đầu bằng chữ “Hàng” đi kèm theo một nghề nhất định, đặc
điểm này đã làm nên nét độc đáo của Hà Nội mà có lẽ không thủ đô nào
trên thế giới có được. Đây cũng là minh chứng cho sự hưng thịnh một thời
của các làng nghề, phố nghề trên mảnh đất này.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, do quá trình giao lưu hội nhập quốc tế
để phát triển, nhiều nghề thủ công mới ra đời, nghề cũ cũng có nhiều biến đổi
để phục vụ nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Nhiều tên phố “Hàng” nay
đã thay đổi, hoặc giữ lại tên nhưng không còn là nơi sản xuất hay buôn bán
mặt hàng đó nữa, lại cũng có nghề mới, sản phẩm mới trên phố cũ, nhiều phố
nghề đã trở thành phố du lịch, dịch vụ. Sự thay đổi đó khiến cho Hà Nội mất
dần đi những nét văn hóa truyền thống của vùng đất kinh kì.
Nghiên cứu, tìm hiểu sự biến đổi trong văn hóa của phố nghề Hà Nội,
người viết đã lựa chọn hai phố tiêu biểu là phố Hàng Mã và Hàng Trống.
Đây là hai phố chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu tâm linh, tinh
thần cho người dân Hà thành xưa. Sự biến đổi trong văn hóa sản xuất cũng
như văn hóa kinh doanh của hai phố nghề này sẽ giúp chúng ta nhìn rõ sự
biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa tâm linh và thị hiếu nghệ thuật của người
Hà thành hôm nay.
2. Lịch sử vấn đề
Phố nghề là một trong những yếu tố văn hóa quan trọng làm nên nét
đẹp của văn hóa Hà Nội. Bản thân mỗi phố nghề trong quá trình hình thành,
phát triển đều mang những nét đặc trưng riêng. Tìm hiểu nghiên cứu về các
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
1

Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Ngô Thị Minh với công trình nghiên cứu Sự biến đổi các giá trị văn
hóa thể hiện qua những mặt hàng kinh doanh trên phố Hàng Bạc, Hàng
Đào, Hàng Đường, Hàng Mã ở Hà Nội (Luận văn tốt nghiệp - Đại học sư
phạm Hà Nội năm 2008) đã tập trung nghiên cứu sự biến đổi về văn hóa
kinh doanh thể hiện qua hình thức kinh doanh, phương thức kinh doanh và
quan niệm kinh doanh trên các phố nghề Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng
Đường, Hàng Mã. Tuy nhiên, phần hình thức và phương thức kinh doanh
chưa đi sâu vào nội dung cụ thể của vấn đề, đôi chỗ còn viết lạc sang phần
lịch sử phố, công nghệ, kỹ thuật chế tác.
Các công trình nghiên cứu, bài viết lấy văn hóa phố nghề làm đối
tượng nghiên cứu đã giúp người viết phần nào tìm hiểu được những biến
đổi của một số phố nghề Hà Nội về một mặt nào đó của văn hóa sản xuất
hoặc kinh doanh. Chính những công trình nghiên cứu, bài viết này đã giúp
người viết có cơ sở để thực hiện công trình nghiên cứu về “Sự biến đổi văn
hóa phố nghề ở Hàng Mã, Hàng Trống (Hà Nội)”. Điểm mới của công
trình nghiên cứu đó là đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện
về sự biến đổi các hình thức sản xuất, hình thức và phương thức kinh doanh
ở hai phố Hàng Mã và Hàng Trống. Từ đó, người viết đưa ra một số giải
pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển phố nghề trong thời đại mới.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài: “Sự biến đổi văn hoá ở phố nghề Hàng Mã, Hàng Trống (Hà
Nội)” tìm hiểu sự biến đổi văn hoá của các nghề thủ công ở hai phố Hàng
Mã, Hàng Trống về các mặt:
• Các mặt hàng chính
• Văn hóa sản xuất
• Văn hóa kinh doanh
để thấy được sự biến đổi văn hoá của phố nghề Hàng Mã, Hàng Trống nói

nghề Hàng Mã, Hàng Trống
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT
PHỐ NGHỀ HÀNG MÃ, HÀNG TRỐNG TRONG TỔNG THỂ
LÀNG NGHỀ, PHỐ NGHỀ THĂNG LONG – HÀ NỘI
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố mới Phúc Kiến, Hàng Ngang
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Qua đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ”
Nếu như nhà văn Tô Hoài từng bảo Hồ Gươm - Kẻ Chợ tạo ra tiếng
Hà Nội, do trăm nhà, trăm vùng dung hợp lại mà thành, không giống như
bất cứ phương ngữ tiếng Việt nào thì “Hoa tay đất Rồng” (theo cách gọi
của Thọ Sơn) là kết quả của quá trình hội tụ và kết tinh của trăm nghề, trăm
ngành về đất này đua tài làm ăn. Đây chính là điều kiện cho sự hình thành
làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội trong đó có có hai phố Hàng

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì “làng nghề (như làng gốm Bát
Tràng, Thổ Hà, Phủ Lãng, Hương Canh làng đồng Bưởi, Vó, Hè Nôm,
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Thiện Lý, Phước Kiều , làng giấy vùng Bưởi, Dương Ổ…, làng rèn sắt
Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội…) là làng ấy tuy vẫn có trồng trọt theo lối
tiểu nông và chăn nuôi (lợn gà…), cũng có một số nghề phụ khác (đan lát,
làm tương, làm đậu phụ…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền , tinh xảo
với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, có ông phó cả…cùng một số thợ và
phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử
ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và
sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này có tính mĩ nghệ,
đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường
là vùng rộng lớn xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô (Kẻ Chợ, Huế,
Sài Gòn…) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước
ngoài.” [8; 9-10].
Định nghĩa này của Trần Quốc Vượng hàm ý nói về các làng nghề
truyền thống, những làng nghề đã nổi tiếng và có thời gian tồn tại từ hàng
nghìn năm. Còn theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng trong cuốn “Làng
nghề thủ công truyền thống Việt Nam” thì làng nghề được hiểu “là làng cổ
truyền làm nghề thủ công. Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản
xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng là người
làm nghề nông (nông dân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra
những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê hương
mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác. Khi nói đến một làng nghề thủ
công truyền thống, ta chú ý đến nhiều mặt, trong cả không gian và thời
gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó,
trong đó, yếu tố quyết định là: nghệ nhân, sản phẩm, kĩ thuật sản xuất, thủ

nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một
không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống
bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên hệ chặt chẽ về kĩ thuật
sản xuất, mặt hàng sản xuất và nguồn tiêu thụ.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
1.3. Khái niệm phố nghề
Giống như làng nghề, các phố nghề đã xuất hiện, tồn tại ở nước ta từ
rất lâu đời và cũng trải qua nhiều bước thăng trầm, tuy vậy, cho đến nay,
chưa có một khái niệm, định nghĩa nào nhất quán về phố nghề.
Để làm rõ khái niệm “phố nghề”, trước hết ta hãy làm rõ gốc tích và sự
phát triển của từ “phố”. “Phố” nguyên nghĩa là nơi bán hàng, ngày nay là các
cửa hiệu. Song do các “phố” đó tập trung chen sát nhau thành một dãy dài
nên cái dãy gồm nhiều “phố” ấy cũng được gọi là “phố”. Dần dần, theo thời
gian, từ “phố” với nghĩa là một dãy các cửa hàng lấn át từ “phố” nguyên
nghĩa là một cửa hàng, chính vì thế mới có tên “phố Hàng Bạc” để chỉ con
đường mà hai bên có dãy cửa hàng bán vàng bạc, “phố Hàng Mã” để chỉ con
đường mà hai bên có dãy cửa hàng bán đồ vàng mã, hương giấy…
Ở mỗi phố lại có các hiệp thợ thủ công ra Thăng Long để cư trú, làm
theo thời vụ. Dần dà, họ định cư hẳn, kẻ trước người sau tụ tập ở một góc
phường (trong số 36 phố phường), bám lấy hai bên một con đường để mở
cửa hàng (tức phố) vừa sản xuất, vừa bán buôn, bán lẻ.
Kể từ khi ra đời cho đến ngày nay, sự phát triển của các phố nghề đã
có nhiều thay đổi cùng với những biến thiên của lịch sử. Có nhiều phố nghề
đã tồn tại và phát triển mạnh, đồng thời còn mở rộng và có sự lan tỏa sang
các khu vực lân cận. Bên cạnh đó, cũng có những phố nghề phát triển cầm
chừng, không ổn định, thậm chí có phố nghề đã và đang dần bị mai một, bị
suy vong và mất đi. Chính vì vậy, tìm hiểu về sự biến đổi văn hoá phố nghề
là một việc làm vô cùng quan trọng trong công cuộc bảo tồn và phát huy

công tách ra khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp.
Khi đó, một số thợ thủ công không còn làm nông nghiệp nữa nhưng họ vẫn
gắn chặt với làng quê. Số người chuyên làm nghề thủ công ngày càng tăng
lên, tách rời hẳn khỏi nông nghiệp và họ sinh sống bằng nguồn thu nhập từ
chính nghề đó.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
10
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Sự hình thành phố nghề thì lại gắn chặt với quá trình “di cư” của
những người thợ thủ công từ “tứ chiếng” lên kinh đô làm ăn. Lúc đầu, họ
chỉ tạm trú ở đây, rồi thường trú khi làm ăn được. Những người thợ làm
hàng ở trong phường rồi bày bán hàng đó ở mặt phường, hình thành nên các
phố. Khi đã định cư ở đây, họ kéo theo anh em và những người làng cùng
lên làm nghề, mỗi phố chỉ làm một hoặc hai nghề hình thành nên các phố
nghề. Lúc này, họ mang theo cả “mô hình tổ chức” từ làng quê họ lên kinh
đô lập nên những “đình đền” trong phố để thờ vọng thành hoàng nơi bản
quán của họ.
Tựu chung lại, có thể thấy làng nghề là cái gốc sinh ra phố nghề. Các
phố nghề chính là nơi thúc đẩy các nghề thủ công phát triển tới trình độ cao
nhất. Phố nghề góp phần cân bằng sản xuất, kinh doanh thậm chí nhiều khi
phần kinh doanh còn chiếm ưu thế hơn. Làng nghề thì lại đặc biệt chú trọng
sản xuất, kinh doanh thường dưới hình thức bán buôn.
2. Lịch sử hình thành và vai trò của phố nghề Thăng Long – Hà Nội
2.1. Lịch sử hình thành của phố nghề Thăng Long – Hà Nội
Căn cứ vào những di vật khảo cổ cùng những cứ liệu văn hóa dân
gian, từ thời dựng nước (khoảng 2000 năm trước công nguyên), người Việt
cổ đã đến định cư ở vùng đất Hà Nội. Họ lập nên những làng xóm trên các
gò đất cao ven sông Tô, sông Nhuệ, sông Đuống. Cư dân ở đây ngoài nghề
nông còn thạo cả nghề đánh bắt cá và săn thú rừng. Bên cạnh đó họ cũng
bắt đầu biết dệt vải, xe chỉ, làm gốm, chế tác gỗ, mây tre đan…Như vậy, có

người” [19; 61]. Đó là chưa kể người của bốn phương tụ họp lại bởi những
hoàn cảnh và lý do khác nhau: hoặc là đi theo những người trong họ mình,
làng mình ra kinh đô vì có công tích, đi làm quan hay đi học như dân Thập
tam trại do người làng Mật và các vùng lân cận có công khai phá đầu tiên,
dân Phất Lộc (Thái Bình), dân Nhược Công; hoặc là phải đi hành nghề theo
lệnh của triều đình như dân Đông Các, Ngũ Xã; hoặc đi tìm kế sinh nhai như
phần lớn dân cư trong các phường phố, thôn trại Hà Nội.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
12
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Sang thời Trần, chính quyền phong kiến đã quy hoạch, sắp xếp lại
kinh thành, Thăng Long lúc này được chia lại thành 61 phường. Đến nay
chưa rõ hết tên 61 phường, xong còn lưu lại một số như Cơ Xá, An Hòa,
Giang Khẩu, Tây Nhai, Phục Cổ… Có giả thiết cho rằng, các triều đại đã
hành chính hóa đơn vị kinh tế phường (hội) để tiện cho việc quản lý, dẫn
chứng là ngoại thành Hà Nội có một xóm tên gọi là xóm Hàng Quang. Xóm
này lại có tên nữa là phường Hàng Quang. Xưa kia, xóm này đã có tổ chức
phường hội, họ chuyên mua tre nứa, song mây từ bến Chèm về làm quang
đan lát. Sự phát triển của Thăng Long đã ảnh hưởng không nhỏ tới những
vùng xung quanh và góp phần quan trọng trong việc hình thành nên một số
làng nghề như làng Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội) chuyên sản xuất gốm,
làng Ma Lôi (Hải Hưng) chuyên làm nón.
Bên cạnh đó, vào thời Trần, Thăng Long cũng tiếp nhận khá nhiều
thương nhân và cư dân nước ngoài đến buôn bán. Ba mươi thuyền Trung
Quốc được nhà Trần cho mở chợ, lập phố buôn bán ở phường Mai Tuân.
Những thương nhân người Hồi Hột, người Nam Dương, người Hoa ra vào
tấp nập. Đây chính là điều kiện thuận lợi để cho các phường nghề thủ công
có thị trường buôn bán, trao đổi.
Thế kỉ XV, nhà Lê đặt kinh đô thành phủ Phụng Thiên gồm hai
huyện Quảng Đức (sau đổi thành Vĩnh Thuận) và Vĩnh Xương (sau đổi

Với nhà Lý quê gốc Đình Bảng, dân tài xứ Bắc kéo sang đây. Với nhà Trần
quê miền biển xứ Nam, dân tài xứ Nam kéo lên đây. Với nhà Lê, rồi Lê
Trịnh, dân Thanh Nghệ kéo ra đây. Với nhà Mạc, dân tài xứ Đông kéo về
đây… Đó chỉ là những luồng di động dân cư lớn ở mỗi thời điểm lịch sử
hội tụ về kinh đô, còn liên tục qua thời gian, Thăng Long – Đông Kinh – Hà
Nội đã trở thành nơi quy tụ mọi tinh hoa, mọi nhân tài đất Việt vốn “khéo
tay hay nghề”.
Tựu chung lại, có thể thấy nghề thủ công ở Thăng Long – Hà Nội
được hình hành do ba nguồn chính:
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
14
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Trước nhất, đó là những nghề có sẵn ở các làng mạc, thôn xóm từ
trước khi Thăng Long trở thành kinh đô của cả nước, ví như nghề dệt lĩnh
làng Trích Sài, làng Tần, làng Nghè, làng Dâu đều thuộc vùng Bưởi nằm
ven sông Tô Lịch.
Thứ hai, do những biến cố lịch sử, thợ thủ công ở nơi khác kéo đến,
tìm chỗ thuận tiện lập nên làng xóm để hành nghề, như làng gốm Bát Tràng
do dân Bồ Bát (Ninh Bình) và Vĩnh Ninh Trường (Thanh Hóa) chuyển cư
ra; hoặc dân năm làng: Mỹ, Hè, Mai, Dí trên, Dí dưới của xứ Kinh Bắc,
theo lệnh vua Lý (thế kỷ XI), những thợ giỏi phải tập trung phía Nam hồ
Trúc Bạch để đúc tượng Phật phục vụ cho nhu cầu của triều đình đã lập nên
làng Ngũ Xã.
Ba là thợ thủ công ở các nơi kéo về nội đô làm ăn. Họ mang theo
những nghề đặc sắc của quê hương mình, vừa sản xuất, vừa bán hàng ngay
tại phố, phường. Thường mỗi phố phường chỉ bán sản phẩm của một hay
đôi ba làng nhất định, thí dụ phố Tô Tịch là nơi sản xuất và bán sản phẩm
của dân làng Nhị Khê, phố hàng Bạc là nơi sản xuất, buôn bán đồ kim hoàn
của dân chạm bạc Đồng Sâm, dân làng Định Công (Thanh Trì, Hà Nội) và
Châu Khê (Hưng Yên)…

phường Hà Nội, mỗi phố phường lại có hoạt động nghề nghiệp riêng, thợ
thêu chiếm cả một con đường, thợ mộc, thợ khảm, làm bánh kẹo cũng như
vậy” [19; 207]. Phố giàu như Mã Mây tập trung nhiều nhà buôn lớn, nhất là
thương nhân Hoa Kiều. Đường xá ở đây sạch sẽ, được lát đá, giữa hơi nhô
lên, hai bên có ngòi sâu và hẹp để thoát nước mưa hoặc nước cống rãnh thải
ra.
Phố nghề Thăng Long – Hà Nội không chỉ góp phần quan trọng trong
sự phát triển kinh tế thủ đô mà còn để lại một di sản văn hóa đồ sộ. Trước hết,
giá trị văn hóa mà “phố nghề” Thăng Long – Hà Nội còn để lại đến ngày nay
đó là các công trình kiến trúc nhà ở dân dụng, đền chùa, đình miếu.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
16
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Kiểu kiến trúc phổ biến ở các phố nghề là những dãy nhà xây theo kiểu
chồng diêm san sát nhau, đây vừa là nhà ở, lại vừa là cửa hiệu bán hàng, lòng
hẹp và sâu vào trong, chia làm nhiều phòng rộng, mỗi phòng được ngăn cách
với nhau bởi một khoảng sân. Đây là kiểu kiến trúc nhà ở đặc trưng của phố
nghề Thăng Long – Hà Nội mà còn lưu giữ lại cho đến ngày nay.
Bên cạnh đó, phố nghề Thăng Long – Hà Nội còn để lại cho thế hệ
sau rất nhiều đình đền thờ tổ nghề. Các đình này là do dân ngoại tỉnh ra
kinh thành hành nghề, tự nguyện đóng góp xây dựng để thờ cúng tổ nghề.
Trước đây, đình còn là nơi bán sản phẩm nghề như đình “Tú đình thị” là
chợ bán đồ thêu của người làng Quất Động (Hà Tây), “Đồng Lạc Quyên
yếm đình” là chợ bán yếm lụa của phường Đồng Lạc. Việc các phường thợ
lập đình thờ tổ nghề là biểu hiện của lòng uống ước nhớ nguồn, biết ơn
người xưa đã có công khai sáng hay cải tiến nghề nghiệp cho con cháu nhờ
đó mà sinh sống.
Ngoài ra, các công trình kiến trúc quốc gia như chùa Diên Hựu, tháp
Báo Thiên, Văn Miếu – Quốc Tử Giám chính là những sản phẩm tinh xảo
từ bàn tay khéo léo của những người thợ ở các phường nghề, phố nghề.

trên đất làng Yên Phú ở bên bờ Nam sông Tô Lịch là nơi tập trung những
người bán đồ đồng. Họ hầu hết là người làng Đê Cầu, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh. Những người ở đây làm ăn khá phát đạt nên họ về làng xây
đình riêng.
Sau năm 1954, đoạn phố có tên cũ Rue du Cuivre (Hàng Đồng)
không còn bán đồ đồng nữa vì đồng là mặt hàng do Nhà nước quản lý và có
nhiều gia đình di cư vào Nam. Một vài nhà còn bán những thứ đồ đồng nhỏ
và gò đồng lá làm nồi sanh thì ở bên phố Hàng Đồng mới.
- Kiến trúc
Phố Hàng Mã nổi tiếng với kiến trúc đặc sắc là nhà hình ống và nhà
chồng diêm. Nhà hình ống với chiều dài và bề rộng có giới hạn nhưng
người dân ở đây đã sáng tạo nên không gian ở, thờ phụng, nghỉ ngơi, sản
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
18
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
xuất và buôn bán đều hợp lý, vẫn có cả khoảng không để đưa thiên nhiên
vào trong nhà. Nhà chồng diêm là loại nhà hai tầng không hoàn toàn với
gác xép có cửa giả hoặc cửa cỡ nhỏ. Loại nhà này ngoài mái ngói nghiêng
xuống mặt phố còn có mái tranh vẩy thêm ra vỉa hè.
Hiện nay, một số nhà thịnh vượng, nhà cửa được làm theo kiểu mới,
nhà làm từ xưa theo kiểu cổ còn lại rất ít. Riêng chỗ ngã năm đầu phố Chả
Cá, Hàng Đồng vẫn còn tồn tại hai căn nhà cổ lụp xụp (nhà số 33 và 35).
- Các nghề thủ công
Trước thời Pháp thuộc, Hàng Mã là nơi bán các đồ mã nhỏ (ở phía
Đông phố), các sản phẩm đồ đồng (ở đoạn phía Tây) và có một mặt hàng
đặc biệt chỉ bày bán vào khoảng thời gian cố định từ 20 đến 30 tháng Chạp
hàng năm, đó là các món đồ cổ. Tuy nhiên, trong ba mặt hàng này thì đồ
đồng là hàng đúc sẵn đặt tại các lò đúc của phường Ngũ Xã, đồ cổ do dân
chơi các tỉnh (chủ yếu là dân Nam Định và Hưng Yên) mang đến bán, chỉ
có hàng mã là sản phẩm mà dân Hàng Mã đã có thời gian tự tay làm ra, và

tìm mua các sản phẩm của dòng tranh dân gian Hàng Trống như tranh thờ,
tranh trang trí, tranh dán Tết, tranh lịch sử… Nghề làm tranh này của dân
làng Tự Tháp sở tại. Tuy nhiên, những cửa hàng tranh này không nhiều.
Sau các hàng tranh là đến các cửa hàng bán đồ điện thờ như: kiếm,
gươm, lệnh, lọng, tàn tán… Nghề làm lọng, tàn tán là của người làng Đào
Xá (huyện Thường Tín, Hà Tây).
Đoạn giữa phố Hàng Trống là đất thôn cũ Khánh Thụy hữu. Đây là
nơi sản xuất và bán các mặt hàng thêu của dân làng Hướng Dương, Quất
Động (huyện Thường Tín, Hà Tây).
Đoạn cuối phố có thêm nghề khảm xà cừ. Nghề này trước làm ở
Tràng Tiền, Hàng Khay, sau vì ở Tràng Tiền hiệu Tây chiếm hết chỗ nên họ
phải chuyển sang phố Hàng Khay và một số về phố Hàng Trống.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
20
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
Như vậy, có thể thấy Hàng Trống là nơi quy tụ rất nhiều nghề thủ
công. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ chọn nghề làm
tranh Hàng Trống làm đối tượng chính để nghiên cứu, khảo sát.
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
21
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
CHƯƠNG HAI
KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA SẢN XUẤT
Ở PHỐ NGHỀ HÀNG MÃ, HÀNG TRỐNG
Các phố nghề ở Hà Nội đều có đặc trưng là không gian nhà ở vừa là
nơi sản xuất, vừa là nơi buôn bán các sản phẩm thủ công nghiệp. Hiện nay,
phố nghề đã thay đổi nhiều. Phố Hàng Mã vẫn là nơi buôn bán các sản
phẩm vàng mã, đèn trung thu… nhưng văn hóa sản xuất của một thời nay
đã lùi vào dĩ vãng. Phố Hàng Trống vẫn là nơi bán tranh nhưng tiếc thay,
không thể tìm thấy được một bức tranh dân gian Hàng Trống nào trong

mã, đó là phố Hàng Mã. Thực ra từ trước đến nay, hoạt động sản xuất ở phố
Hàng Mã không nhiều, thậm chí, vào những năm đầu thế kỉ XX, Hàng Mã
vẫn chỉ là một đoạn phố nhỏ chuyên làm và bán các đồ mã nhỏ và đồ mã để
cúng lễ (mũ thổ thần, mũ ông Táo, vàng giấy…) do dân làng Tân Khai
(Hàng Sắt và Cổng Đục) dọn đến làm và bán. Đồ mã nhỏ thì được làm tại
đây còn những đồ mã lớn dùng cho tang lễ (minh tinh nhà táng) hoặc đám
làm chay, đám lễ cầu mát đầu hè (hình Quan Ôn, voi ngựa, thuyền rồng,
lính tráng…) thì được đặt làm bên phố Mã Mây (gần phố Hàng Bạc). Phân
tích việc sử dụng hàng mã trong giai đoạn này, học giả Nguyễn Văn Vĩnh
đã ghi lại trong những trang viết về Tết: “Lòng thành kính của những
người giầu cũng như của những người nghèo, trong vấn đề thuộc về ăn
uống, vì rằng người ta chỉ dâng lên cho tổ tiên những thứ mà họ có thể
dành cho bản thân họ. May thay, những người đã chết chỉ ăn một cách
tượng trưng những thứ mà người sống dâng lên. Chi phí phụ thêm trong
những ngày đầu năm mới, dành cho tổ tiên, như vậy chỉ có tiền mua đồ mã:
quần áo, mũ nón, giầy dép, lụa là, vải vóc và những tiền âm phủ đủ các
loại, những đồ mã đại diện cho những giá trị giầu có hơn nhiều so với giá
tiền mua nó và gia đình chỉ mất công lựa chọn những chủng loại thích
hợp” (Báo L'Annam Nouveau, Số 415 ngày 3/2/1935). Đoạn văn này không
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
23
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Thanh Hương
chỉ cho chúng ta biết một số loại đồ mã thường dùng mà còn khắc họa vai
trò của nó đối với cuộc sống của những người dân nghèo thành thị, và còn
nói rõ lí do người ta thích mua đồ mã: trong khi thức ăn dâng cúng phải là
thức ăn thật thì “đồ mã đại diện cho những giá trị giầu có hơn nhiều so với
giá tiền mua nó”.
Từ khoảng những năm 1930 đến trước đổi mới, hàng mã ở phố Mã
Mây tàn, các gia đình ở phố Mã Mây chuyển sang phố Hàng Mã gần Đồng
Xuân và tiếp tục làm hàng mã. Khi các gia đình này chuyển tới phố Hàng

xuất. Bên cạnh đó, hiện nay đội ngũ lao động ở phố hàng mã tương đối trẻ,
độ chuyên nghiệp trong sản xuất gần như là không có. Chính vì vậy mà phố
Hàng Mã hiện nay, kĩ thuật sản xuất gần như đã không còn.
1.2. Kỹ thuật sản xuất
Trước đây, người dân phố Hàng Mã chuyên làm các đồ mã nhỏ trong
đó có các loại hoa giấy dùng để trang trí và để thờ cúng. Việc chuẩn bị
nguyên vật liệu làm hoa giấy hết sức đơn giản, trước hết là việc chọn mua
giấy màu. Bí quyết để làm được bông hoa giấy đẹp là phải chọn mua giấy
màu có màu sắc tươi tắn, rực rỡ, chọn mua được càng nhiều màu thì bó hoa
càng đẹp. Các loại giấy màu này thường được đặt mua với số lượng lớn từ
Nam Định, giấy màu xanh dùng làm lá và cuốn cành còn giấy màu đỏ, màu
hồng, màu điều… dùng làm nụ và cánh hoa. Ngoài giấy màu, để làm được
hoa giấy thì không thể thiếu các nguyên vật liệu khác như: nứa cây chẻ nhỏ,
dây thép để làm cành hoa, hồ dán, dao sắc để chẻ nan và kéo để cắt giấy
làm lá và hoa và đặc biệt là đôi bàn tay khéo léo của người thợ.
Khi đã có đủ nguyên vật liệu cần thiết, người thợ bắt tay vào thực
hiện các công đoạn làm làm cành, lá và cánh hoa. Để làm cành, người thợ
chẻ cây nứa ra thành nhiều nan nhỏ có độ dài bằng nhau (khoảng 40 cm) và
vót nhẵn các nan, sau đó họ đem đi nhuộm màu xanh lá cây, xanh lục cho
các cành nứa này. Cũng có những hộ gia đình không nhuộm màu mà quấn
giấy màu xanh lục quanh thân của nan nứa, với cách làm này, cành hoa
Lớp: K55B - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
25

Trích đoạn Mặt hàng kinh doanh Hình thức – phương thức kinh doanh Các mặt hàng kinh doanh Hình thức, phương thức kinh doanh THƯ MỤC THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status