Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT - Pdf 34

Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm
Văn học là một môn khoa học, đòi hỏi người dạy, người học phải say mê, suy ngẫm,
phải hào hứng khi tiếp cận thì chúng ta mới hiểu, mới làm rõ được vấn đề. Dạy văn, học văn
cũng là một nghệ thuật, cần đến sự sáng tạo và linh hoạt về phương pháp. Những năm gần
đây, ngành giáo dục nước ta đã có những đổi mới về mục tiêu, nội dung chương trình và
phương pháp giảng dạy nhưng những đổi mới về phương pháp dạy học vẫn chưa đáp ứng
được những yêu cầu đổi mới giáo dục.
Thực tế hiện nay chúng ta thấy rằng tình yêu Văn học trong học sinh đã giảm sút rất
nhiều. Một phần, do Văn học là môn học khó chiếm lĩnh, dù các em thích Văn nhưng không
phải em nào cũng có khả năng tiếp thu dễ dàng. Học sinh có năng khiếu học văn không
nhiều. Phần khác, do xu hướng phát triển của thời đại khoa học, nhu cầu của xã hội, yêu cầu
của nghề nghiệp, sự định hướng của gia đình... ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn môn
học của các em. Những ngành nghề các em thích, sau này có thu nhập cao, khối dự thi
thường là các ban Khoa học tự nhiên. Chính vì vậy, việc xem thường, coi nhẹ, xa lánh môn
Văn là điều dễ hiểu.
Song thực tế môn Văn vẫn là một môn quan trọng, có vị trí lớn trong trường học phổ
thông, nó giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh, giúp các em tự hoàn thiện
mình hơn trong các mối quan hệ xã hội. Là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể
hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn Văn sẽ tác động, hỗ trợ tích cực đến
các môn học còn lại.
Văn học là món ăn tinh thần của con người, không chỉ dùng lí trí để “nhận” mà còn
phải “cảm” bằng trái tim, tâm hồn. Vì thế người dạy không thể xem học sinh là “chiếc bình”
cần được đổ đầy kiến thức mà phải thấy được rằng các em là những “ngọn đuốc” cần được
thắp sáng. Vậy làm thế nào để đánh thức khát vọng học Văn vốn đang dần tắt nguội, để thắp
sáng những niềm sai mê văn chương trong học sinh, để các em chủ động đến với Văn và yêu
Văn? Đánh thức khát vọng văn chương không phải là điều dễ dàng, giáo viên phải có sự
chuẩn bị rất chu đáo, hoàn hảo về giáo án, về các bước lên lớp và đặc biệt là tâm trạng cởi
mở, tâm hồn tràn ngập niềm yêu Văn và quý mến học trò. Cũng từ đó mà tôi phát hiện ra

Ngữ văn, như:
Tài liệu Hướng dẫn học tập theo băng hình về đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh (theo Dự án phát triển giáo dục THPT
của Bộ Giáo dục và Đào tạo), Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
trong chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình phát triển giáo dục phổ thông của Bộ
Giáo dục và Đào tạo).
Nhiều năm qua một số chuyên mục của tạp chí “Văn học và Tuổi trẻ” , báo “Giáo
dục” cũng đã có rất nhiều bài viết, nhiều ý kiến bàn về cách thức “tạo tâm thế” cho học sinh
trong giờ Ngữ văn, đáng chú ý là một số bài viết, sáng kiến của các tác giả sau: “Một cách
tạo hứng thú học tập trong giờ Ngữ văn” – Dương Thế Vinh (Báo “Văn học &Tuổi trẻ”),
“Tổ chức họat động nhóm - một cách dạy - học Ngữ văn có hiệu quả cao” - Đồng Xuân Quế
(Báo “Văn học &Tuổi trẻ”),... Nhưng nếu máy móc áp dụng thì phương pháp dạy học đổi
mới chưa thực sự trở thành một chìa khoá, một công cụ để người dạy và người học văn giải
mã tác phẩm văn học.
Một thực tế khiến cho bao người làm công tác giáo dục và giáo viên dạy Văn không
khỏi trăn trở: từ hiện tượng chán Văn, xa rời Văn dẫn đến một thực trạng đau lòng là có học
sinh đã hiểu sai, hiểu lệch, thậm chí xuyên tạc, bóp méo tác phẩm văn học để hiểu theo một
cách dung tục. Một học sinh lớp 10 khi phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm
có đoạn viết :
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nói khi ông tìm nơi vắng vẻ không có người rất buồn chán,
ngồi suy nghĩ những người tìm đến chỗ đông đúc lao xao, nhộn nhịp để sinh sống. Rồi ông
mới biết là mình dại khi từ bỏ chốn quan trường náo nhiệt.
Một học sinh khác khi giáo viên cho đề: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp thiên
nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ “Cảnh ngày hè”, lại viết mở bài: Theo qui luật tự
nhiên: xuân, hạ, thu, đông đã được xếp vào từng vị trí, và ở đó con người đã trải qua từng
khoảnh khắc khác nhau. Có lẽ do cùng một tâm trạng, một suy nghĩ mà các thi nhân xưa
luôn chọn cho mình phong cảnh ngày hè để làm đề tài và Nguyễn Trãi cũng thế.
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

3


Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT

II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Những vấn đề chung
1.1. Quan niệm về biện pháp “tạo tâm thế”:
“Tạo tâm thế” cho học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản Văn học thực chất là việc giáo
viên tạo cho học sinh một tư thế vững vàng, một tâm lý thoải mái, một xúc cảm, hứng thú và
một tâm hồn đam mê khi tiếp cận một tác phẩm văn học cụ thể. Vì Văn học là môn học gắn
với cái đẹp. Học Ngữ văn là học cách khám phá cái đẹp của tự nhiên, cái đẹp của xã hội và
của con người, cái đẹp của sự sáng tạo nên không chỉ dùng lí trí mà quan trọng hơn là phải
giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp ấy bằng cả tâm hồn và sự rung động của trái tim.
Để tạo được tâm thế cho trò thì trước hết giáo viên phải biết tạo cho mình một tâm
trạng thoải mái, nhẹ nhàng, một tình cảm thân thiện, gần gũi hoà đồng với học trò. Muốn
vậy, giáo viên vừa phải căn cứ vào mỗi bài dạy để tìm ra hình thức “tạo tâm thế” phù hợp,
phải quên đi những nỗi buồn, bỏ đi những gì phiền lòng phía sau, khi lên lớp chỉ là một tâm
trạng hứng khởi, thoải mái. Bước lên bục giảng với các em là chúng ta phải có cảm giác
bước vào một thế giới hoàn toàn mới lạ, tràn đầy hưng phấn, thiết tha với sứ mệnh thiêng
liêng, cao cả là người đưa đường, mở cửa dẫn các em hoà vào cái đẹp, để được cười, được
khóc không chỉ cho mình mà cho cả giai cấp mình, dân tộc mình, cho những thân phận, số
phận đau khổ trên trái đất:
“Giờ văn nụ cười, nước mắt
Nghẹn ngào, thanh thản đan xen
Thầy đau nỗi niềm dâu bể
Trò day dứt cùng thế nhân”.
Như thế trong suốt giờ Văn, người thầy phải biết quên mình để sống với Văn, với học
trò, để cùng các em say sưa đi vào lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả. Người dạy Văn
không chỉ là nhà khoa học, nhà sư phạm mà còn là một nghệ sĩ trên bục giảng.

5


Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT
2. Một số biện pháp tạo tâm thế trong giờ đọc – hiểu văn bản cho học sinh THPT
Dưới đây là một số biện pháp “tạo tâm thế” mà tôi thường áp dụng trong thực tế
giảng dạy. Trong phạm vi của đề tài này, tôi tạm phân chia chúng thành 5 hình thức và xin
trình bày sơ lược về khâu chuẩn bị, yêu cầu nội dung, cách thức thực hiện và kiểm tra đánh
giá đối với từng biện pháp cụ thể.
2.1. Kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh:
Trong khâu kiểm tra bài cũ, tôi không chỉ kiểm tra nội dung kiến thức của bài học
trước mà tôi còn kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh cho bài học mới. Những câu hỏi
kiểm tra sự chuẩn bị bài mới có thể chỉ là đọc thuộc lòng một vài câu thơ hoặc nêu lên một
hình ảnh trong bài thơ mà em mới phát hiện được (nếu là với tác phẩm thơ); có khi là về thể
loại, là một nhât vật trong tác phẩm hay tóm tắt cốt truyện…(nếu là tác phẩm văn xuôi). Đây
cũng là một cách thu hút sự chú ý, tìm hiểu của học sinh vào bài học ngay từ bước đầu.
Nhưng phần lớn tôi thường đặt câu hỏi về hoàn cảnh ra đời tác phẩm, nhất là những tác
phẩm có sự đặc biệt về hoàn cảnh ra đời.
Ví dụ 1: Để kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh cho bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn
Mặc Tử, tôi cho các em xem một bức ảnh về thôn Vĩ và đặt các câu hỏi:
1. “Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc tử sáng tác ở đâu? Trong hoàn cảnh nào?
2. Bài thơ được khơi nguồn cảm hứng từ sự kiện gì?
3. Nhà thơ sáng tác thi phẩm này trong tình trạng sức khoẻ như thế nào?
Cách sinh động hoá những câu hỏi cũng chính là cách thức kích thích trí tò mò, tìm hiểu và
hướng sự chú ý của học sinh vào bài học.
Với những câu trả lời chính xác, đầy đủ, có sự đầu tư tìm hiểu, tôi thường khuyến
khích cho điểm khá, giỏi, vừa để ghi nhận sự chăm học, sự đầu tư tìm hiểu bài của các em,
vừa để “nhắc khéo” những học sinh khác cần phải chuẩn bị bài tốt hơn.
Với cách đặt câu hỏi gợi tìm và sự nhấn mạnh, giáo viên vừa tạo được tâm thế cho học
sinh vừa thông qua bài học mà bồi dưỡng lòng yêu thương con người cho các em hướng các

1. Quan niệm của em về thái độ sống “ngất ngưởng”?
2. Thái độ sống “ngất ngưởng” (trong bài thơ) là quan niệm sống hay là một phản ứng có
tính chất nhất thời?
3. Hãy liên hệ, so sánh với một số nhà văn, nhà thơ có thái độ sống “ngất ngưởng” mà em
biết?
4. Đối với xã hội ngày nay, thái độ sống đó có phù hợp hay không? Vì sao?
Để những cuộc tranh luận của học sinh thực sự bổ ích, tôi thường “định” cho HS
“hướng” thảo luận phù hợp. Mỗi nhóm sẽ đưa ra ý kiến bàn luận về một vấn đề và có nhiệm
vụ nhận xét, đặt câu hỏi phản biện cho các nhóm còn lại.
Ví dụ 2: Trong khi phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, tôi
cho HS thảo luận theo các dạng câu hỏi:
1. Đâu là nguyên nhân giúp Chí Phèo hồi sinh?
2. Vì sao sau khi giết Bá Kiến, Chí Phèo lại tự sát?
3. Có ý kiến cho rằng cái chết của Chí Phèo là “cái chết mở ra ý nghĩa sống”? Ý kiến của
em?
Sau mỗi lần thảo luận của học sinh, tôi tổng kết, nhận xét và khuyến khích cho điểm
đối với những trường hợp học sinh lập luận tốt hoặc nêu ra được cách cảm thụ độc đáo, mới
mẻ. Với cách thức này, giáo viên vừa tạo được bầu không khí hăng say, thân thiện trong học
tập, vừa giúp HS tự tin trả lời các câu hỏi, đưa ra những thắc mắc và mạnh dạn trình bày
chính kiến chủ quan của mình. Qua đó phát huy được tính chủ động của học sinh, rèn luyện
kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng ứng xử trước một vấn đề cuộc sống. Bởi văn học là
nhân học, qua văn học mà dần hoàn thiện nhân cách.
2.3. Mở rộng vấn đề bằng những bài viết đồng sáng tạo
Học văn dễ, nhưng dạy văn giỏi thì rất khó, đây là cả một vấn đề lớn. Làm sao để
truyền tải cho học sinh một tác phẩm văn học hay, nhiều khi một truyện ngắn, truyện dài,
truyện vừa hay cả một trích đoạn thơ dài? Trong khoảng thời gian ấy, chúng ta còn phải làm
nhiều việc khác như: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, rồi đọc văn bản hoặc đọc một số đoạn
quan trọng trong tác phẩm đã mất 1/3 thời gian tiết học, lại còn mở rộng vấn đề. Cũng có
nhiều ý kiến cho rằng dạy làm sao cho nó hết bài đã khó, chứ còn thời gian đâu mà mở rộng.
Tôi nghĩ, nếu chúng ta biết cách đan xen vẫn có thể mở rộng bằng cách đọc những câu thơ

Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.
Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.
Anh cũng như em muốn nhắn Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.
Ví dụ 2:
Khi đọc - hiểu tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao. Đây là một tác phẩm nổi tiếng của nền
văn học nước nhà, là kiệt tác của tác giả. Những gì mà chúng ta đang nghiên cứu, đang
chứng minh cho thấy giá trị đích thực của nó. Khi dạy, tôi đã hướng dẫn cho học sinh nắm
được nội dung truyện, song đồng thời cũng cho các em thấy được “chỗ đứng” của tác phẩm
trong lòng bạn đọc qua các bài viết mà tôi sưu tầm được:
“Chí Phèo vốn điển trai khoẻ mạnh
Hiền lành như hạt lúa, củ khoai
Tuổi hai mươi cũng mộng ước như ai
Mội mái nhà tranh xum vầy chồng - vợ”.

8


Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT
Học sinh chăm chú nghe và các em rất tâm đắc, các em thấy được sự ra đời, lớn lên và
những khao khát tuổi trẻ của Chí cũng giống như mọi người đàn ông lương thiện khác. Và
dẫn dắt học sinh đến nguyên nhân tha hoá của Chí bằng chính những câu thơ:
“Cướp của, giết người, đốt phá rạch thịt da
Vũ Đại quay lưng không thừa nhận hắn ta
Đã xếp hắn đứng vào hàng “quỷ dữ”.

hạnh phúc bên nhau.
2. Sau khi trở lại hoàng cung, Tấm ra lệnh bắt giam hai mẹ con Cám. Quá tức tối nhưng
không làm gì được, hai mẹ con Cám đã cắn lưỡi tự vẫn. Từ đó, Tấm và vua sống hạnh phúc
bên nhau.
3. Tấm đã trở về từ cõi chết, mẹ con Cám vô cùng sợ hãi, đưa nhau đi trốn. Dọc đường hai
mẹ con mụ dì ghẻ bị sét đánh chết. Vậy là hết đời những kẻ độc ác.
Những kết thúc tự tác này, tôi thường chọn và đọc điển hình một vài bài cho cả lớp nghe.
9


Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT
2.5. “Em là họa sĩ”
Đọc một tác phẩm văn học, dù ở mức độ nào thì cuối cùng vẫn phải đi đến mục đích
chung là hiểu văn. Khái niệm “hiểu” ở đây không chỉ là nhận ra kí hiệu và nghĩa của kí hiệu
mà còn phán đoán ra ý muốn biểu đạt của tác giả, tức là đồng cảm và nắm được những thông
điệp nghệ thuật mà nhà văn muốn nói, muốn gửi gắm tới người đọc. Đọc - hiểu văn bản là
quá trình đối thoại giữa học sinh, giáo viên với văn bản đó là cuộc đối thoại vượt thời gian,
vượt không gian, vượt chênh lệch lứa tuổi để đến với cái thật, cái đẹp, cái thiện. Và để cho
các em đến gần hơn với tác phẩm tôi sẽ cho các em tái hiện những hiểu biết, cảm xúc của
mình về tác phẩm bằng cách vẽ tranh.
Ví dụ 1:
Sau khi học xong bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến, tôi sẽ cho các em về nhà
(làm việc theo nhóm) vẽ bức tranh câu cá đó dựa vào cảm nhận hình ảnh, ý thơ đã học.
Ví dụ 2:
Vẽ tranh cổ động phòng chống AIDS trong bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống
AIDS, 1-12-2003.
Với các bức tranh này tôi sẽ cho các em chuẩn bị ở nhà và đến tiết học sau các em sẽ
trình bày sản phẩm trước lớp. Chính các học sinh trong lớp sẽ là giám khảo cho tranh. Với
các bức tranh cảm xúc nhất, phù hợp với tinh thần bài học nhất sẽ được điểm cộng.


2. Một số bài học kinh nghiệm
Qua quá trình giảng dạy và thử nghiệm những biện pháp trên, tôi đã rút ra một số kinh
nghiệm quý báu cho việc “tạo tâm thế” trong giờ đọc - hiểu văn bản Văn học như sau:
Giáo viên phải chuẩn bị cho tiết dạy của mình một cách chu đáo từ thiết kế giáo án, các
bước lên lớp, tiến trình bài học đến tâm trạng, cảm xúc. Dạy văn không thể dùng lí trí mà
phải cảm nhận và truyền giảng bằng tâm hồn.
Văn học là một môn khoa học mang đặc thù riêng, đòi hỏi người thầy phải thường xuyên
học hỏi, trau dồi, tích luỹ, mạnh dạn đổi mới về phương pháp, làm mới mình bằng những
bài giảng, những dẫn chứng gợi mở sinh động cho bài học. Cần phải chọn được những tình
huống, chi tiết, sự việc “có vấn đề” để phát huy tính tích cực, chủ động và khả năng cảm thụ
vấn đề của học sinh.
Các biện pháp “tạo tâm thế” này, cần phải áp dụng linh hoạt ở các khối, lớp, đối tượng
học sinh khác nhau. Ban đầu khi mới tiếp xúc với phương pháp học sinh còn xa lạ, rụt rè
nhưng sau một thời gian ngắn các em sẽ thích nghi và tự chủ động trong việc học. Đồng
thời, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải gần gũi, tìm hiểu, phát hiện để động viên
và đánh thức những khát vọng văn chương trong tâm hồn học sinh.
11


Một số biện pháp “tạo tâm thế” trong giờ Đọc – hiểu văn bản Văn học cho học sinh THPT

MỤC LỤC

I.ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do viết sáng kiến kinh nghiệm....................................................................................1
2. Thực trạng vấn đề............................................................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu................................................................3
II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Những vấn đề chung…………………………………………………………………….4
1.1. Quan niệm về biện pháp “tạo tâm thế”…………………………………………….....4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status