SKKN TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 9 - Pdf 34

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
*******************

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
LỚP 9

Năm học 2013 - 2014
1


Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1.Sáng kiến: Tổ chức trò chơi trong dạy học Tiếng Việt lớp 9
2. Lĩnh vực áp dụng kinh nghiệm: Môn Tiếng Việt lớp 9
3. Tác giả:
Ngày/ tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Khoa học xã hội
Đơn vị công tác:
Điện thoại:
4. Chủ đầu tư tạo ra kinh nghiệm:
- Đơn vị:
- Địa chỉ:
- Điện thoại:
5. Đơn vị áp dụng kinh nghiệm lần đầu :
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng kinh nghiệm: Đối tượng học sinh



Phần 2: MÔ TẢ KINH NGHIỆM
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận:
Đổi mới phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện tư duy sáng tạo và tích cực để học sinh chủ động nắm bắt kiến thức được coi
là nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục. Muốn thực hiện được nhiệm vụ này,
trước hết, mỗi giáo viên phải tạo được hứng thú cho học sinh để các em say mê,
hứng thú và sau đó là tự giác học tập. Một trong số những biện pháp để đạt được
mục đích trên đó là sử dụng trò chơi. Trò chơi là một hoạt động của con người
nhằm mục đích trước tiên và chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn sau những giờ
để nâng cao thể chất, phát triển tư duy, trí thông minh, sự tinh nhanh, nhạy bén.
Đặc biệt qua hoạt động vui chơi, các em được trực tiếp tham gia vào các hoạt
động, được rèn luyện kĩ năng sống qua việc chọn phương án đúng, cách xử lí các
tình huống cụ thể. Đây là bước trải nghiệm thực tế trước khi để các em rút ra kết
luận lý thuyết trưu tượng. Trò chơi cũng là biện pháp tăng cường sự thi đua, phấn
đấu tích cực trong các cá nhận hoặc các hoạt động nhóm. Từ đó phát triến kĩ năng
giao tiếp cho các em. Cũng qua các hoạt động này mà các em được bồi dưỡng về
khả nag suy luận, sự nhanh nhạy, tính quyết đoán, tình đoàn kết, sự hợp tác …để
dẫn đến thành công.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Thực tế những năm gần đây cho thấy học sinh ở tất cả các trường học nói
chung đều có phần không thích học bộ môn Ngữ văn, nhất là các em học sinh khối
lớp 9. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng, các em không thích một phần do xu hướng
cho rằng môn Ngữ văn không có tính ứng dụng cao như các môn Toán, Lí, Hóa
nhưng phần lớn là các tiết học Ngữ văn còn đơn điệu, tuy đã có sự đổi mới nhưng
chưa thoát ra khỏi tính lí thuyết khô khan, nhất là các tiết học Tiếng Việt. Vì đây
là phân môn vừa khô, vừa khó. Cũng vì thế mà các giờ học Tiếng Việt thường
căng thẳng dẫn đến việc nhận thức của học sinh bị hạn chế. Thiết kế một tiết dạy

2.3. Đối tượng áp dụng: Trong bài viết này, tôi trình bày các trò chơi được sử
dụng trong các tiết học Tiếng Việt cho các em học sinh lớp 9. Tuy nhiên, chúng ta
cũng có thể lựa chọn hình thức này để sử dụng trong các tiết học Văn bản, Tập
làm văn. Bên cạnh đó, chúng ta không chỉ áp dụng ở khối 9 mà còn áp dụng ở cả
các khối trong nhà trường THCS.
2.4. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, tôi sử
dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Tìm hiểu, nghiên cứu đặc thù của bộ môn Ngữ văn, trọng tâm là phân môn Tiếng
Việt lớp 9.
- Phương pháp trắc nghiệm hứng thú của học sinh đối với việc học môn Ngữ văn
và hoạt động trò chơi trong giờ học: Qua việc khảo sát, tôi đã thu được kết quả
nhất định. Trong số em học sinh được phỏng vấn và trả lời phiếu trắc nghiệm
khách quan, tôi nhận thấy trên 60% số đối tượng tham gia khảo sát đều cho rằng
không thích học môn Ngữ văn do mệt mỏi vì phải ghi chép nhiều. Và 100% các
em rất hứng thú với hoạt động tổ chức trò chơi trong giờ học.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu đã có về cách thức xây dựng các trò chơi với
đặc thù phân môn Tiếng Việt.
- Xác định phạm vi, thời gian áp dụng, cách thực hiện trò chơi
- Điều tra, quan sát học sinh trong các tiết học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2.5. Điểm mới của đề tài: Sử dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt là hình thức
không hoàn toàn mới, đã được các thầy cô sử dụng linh hoạt trong các tiết học.
5


Tuy nhiên hình thức hoạt động này chưa được vận dụng nhiều vì tâm lí các thầy
cô là sợ mất nhiều thời gian dẫn đến ảnh hưởng sang thời lượng của các đơn vị
kiến thức khác. Bên cạnh đó là hình thức các trò chơi đơn điệu, dễ gây nhàm chán.
Vì vậy, qua quá trình nghiên cứu, áp dụng, tôi thấy muốn thực hiện có hiệu quả
vấn đề này thì việc lựa chọn các hình thức chơi cho phù hợp với điều kiện cơ sở

thống câu hỏi; vận dụng linh hoạt, hợp lí, đúng mức và đúng lúc để không xáo
trộn nhiều không gian lớp học, nhanh chóng ổn định lớp học khi trò chơi kết thúc;
trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả
các tiết học, đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; trò chơi bao giờ cũng kết thúc
6


bằng thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng vừa vui dí dỏm vừa tế
nhị. Để thiết kế trò chơi một cách có hiệu quả, chúng ta cần chú ý đến một số
nguyên tắc sau:
4.1. Nguyên tắc phù hợp với phân môn, vừa sức, dễ thực hiện. Để các trò chơi
đạt được hiệu quả tốt nhất, khi thiết kế trò chơi, chúng ta phải đảm bảo các nguyên
tắc sau:
- Phù hợp với điều kiện thực tế của lớp, của trường.
- Phù hợp với nội dung kiến thức và kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh.
Mỗi trò chơi phải củng cố được một nội dung phần học cụ thể trong chương trình
(Có thể là kiến thức cần kiểm tra bài cũ, kiến thức bài mới, kiến thức thực hành,
luyện tập…)
- Được xây dựng theo nguyên tắc từ các dạng bài tập có chọn lọc của các
tiết học phải gây hứng thú, góp phần hình thành, củng cố hoặc hệ thống kiến thức.
- Phải có sức hấp dẫn, thu hút được sự tham gia của các học sinh, tạo không
khí thoải mái, hấp dẫn trong giờ học.
- Phải giúp học sinh rèn luyện kỹ năng phán đoán, phát huy trí tuệ, óc phân
tích, tư duy sáng tạo.
- Phù hợp với quỹ thời gian (từ 5 - 10 phút ), thích hợp với môi trường học
tập. Đối với các trò chơi diễn ra nhanh, không cần nhiều phương tiện thì có thể
thiết kế vào giữa tiết học. Còn đối với các trò chơi cần phương tiện và mất nhiều
thời gian hơn thì nên tổ chức trong phần củng cố. Tuy vậy, giáo viên nên thông
báo trước để tạo sự hứng khởi cho học sinh.
- Có sức hấp dẫn, thu hút được sự chú ý, tham gia của học sinh, tạo không

em, giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn, dần dần các em có đủ khả năng thể hiện
bản thân trước tập thể.
- Giáo viên định hướng, hướng dẫn nhằm đạt được mục tiêu cần đạt của bài học.
5.4. Chuẩn bị:
Đối với hình thức hoạt động này, sự chuẩn bị của giáo viên là rất quan
trọng, nó quyết định sự thành công của trò chơi và của tiết học. Vì vậy, khi chuẩn
bị giáo án, giáo viên cần phải:
- Đọc, tìm hiểu kĩ nội dung, xác định mục tiêu bài học.
- Chuẩn bị bài một cách chu đáo, dự kiến những tình huống có thể nảy sinh trong
khi tổ chức trò chơi để khi gặp có thể giải quyết cho tốt.
- Tuỳ nội dung bài mà sử dụng hình thức trò chơi cho phù hợp. Chú ý đến các
phương tiện cần sử dụng như: bảng phụ, phiếu học tập hay phương tiện nào
khác…
- Bố trí chia lớp hợp lí.
- Ngoài ra trong quá trình tổ chức trò chơi giáo viên cần tạo điều kiện cho tất cả
học sinh trong lớp cùng được tham gia. Có như vậy hiệu quả đạt được mới cao.
5. 5. Tiến trình tổ chức trò chơi.
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội
chơi), trọng tài.
- Các dụng cụ dùng để chơi
- Cách chơi: Từng hoạt động cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi,
những điều người chơi không được làm…
- Cách đánh giá kết quả và cách tính điểm chơi, các giải của cuộc chơi. (nếu có)
Bước 3: Thực hiện trò chơi
8


Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:

f. poupée ( Pháp)
7. cà vạt
g. cravate ( Pháp)
5. gôn
H. crème ( Pháp)
9. xúc xích
i. chemise (Pháp)
10. sơ mi
j. sandwich ( Anh)
11. xăng – uýt
k. saucisse ( Pháp)
12. kem
l. goal ( Pháp)
+ Tờ bìa khổ lớn với các hình minh họa cho các sự vật được gọi tên trong bài.
(Giáo viên có thể cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà). Lấy giấy che kín các hình,
có thể để một hình mẫu để học sinh nắm được cách chơi)
+ Chia lớp thành 2 đội, đặt tên cho mỗi đội.
9


- Cách thức tiến hành: Chia những người tham gia làm 2 đội. Mỗi đội khoảng 3
người. Người chơi nghiên cứu bảng từ trong khoảng 3- 5 phút, sau đó bấm
chuông để dành quyền điền từ vào dưới hình. Đội nào điền đúng cả hai từ thì
được tính 2 điểm và giành quyền chọn hình tiếp để lật. Đội nào điền trúng được 1
từ thì đội kế tiếp được quyền trả lời, nhưng sau đó đội trả lời chưa đúng hoàn toàn
cũng được tính 1 điểm. Khi kết thúc cuộc chơi, đội nào nhiều điểm sẽ thắng.
* Chú ý: Với một số hình, giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi phụ về giải nghĩa từ,
về cách viết, cách đọc… để cho học sinh trả lời.
6.2. Trò chơi “ Thay thế một chữ” kết hợp với trò “ Tiếp sức”. Trò chơi
này có thể áp dụng cho bài “ Trau dồi vốn từ” phần thêm bài tập bổ sung để củng


7. man mác
8. chia sẻ

man mát
chia xẻ

9. đánh bạc
10. cắm trại

đánh bạt
cấm trại

NGHĨA CỦA TỪ THAY THẾ
Muốn làm ngay một việc gì đó vì
cảm thấy bực bội, khó chịu.
Hỏi đến cùng cho ra lí lẽ
Nữ trang chứ không phải tài nghệ
Làm sao nói được nữa
Mặc cho người ta điều khiển, sai
khiến
Không phải đặc sản đồng quê mà
có thể gây ra chết người
Cảm giác về thời tiết, nhiệt độ
Chia một vật thành nhiều phần
khác nhau để cho không còn
nguyên vẹn nữa
Làm mất đi, dạt đi, át đi.
Ở yên trong trại, nội bất xuất,
ngoại bất nhập.

NHƯ
SINH
SƠN
LI

HẠT
THƯỢNG
LỘ
DÀI
LƯNG
DÒNG
HIỀN
VĂN
HAY
TỰ
CỤC

NHẤT
THÀNH
BẤT
BIẾN
TIÊU
BÌNH
TỐN
NHƯ
CHỮ
TỰ

NGÔN
XUẤT


TÂM
MÚA
Ý
CỬ
RĂNG
NƯỚC
MẮT

SẤU
SINH

THẦN
TAY
TẠI
LƯỠNG
LONG
NÓI
THÁNH
NÓI
TƯỚNG
NGHỀ

BẤT
TRONG
NGÔN
TIỆN
TÀI
MƯỢN
LƯỢC

1) Quân tử nhất ngôn.
2) Tâm thần bất định.
3) Múa tay trong bị.
4) Vạn sự như ý.
5) Ý tại ngôn ngoại.
6) Nhất cử lưỡng tiện.
7) Bé hạt tiêu.
8) Đầu bạc răng long.
9) Thượng lộ bình an.
10) Dài lưng tốn vải.
11) Vải thưa che mắt thánh.
12) Hiền như bụt.
13) Văn hay chữ tốt.
14) Tự lực tự cường.
15) Sinh nghề tử nghiệp.

16)
17)
18)
19)
20)
21)
22)
23)
24)
25)
26)
27)
28)
29)

bài “ Trau dồi vốn từ” và nhiều bài học khác.
6.5. Trò chơi “ Kết bạn”. Trò chơi này được sử dụng khi dạy bài “ Tổng
kết từ vựng” phần ôn tập “ Từ Hán Việt”.
- Mục đích:
+ Ôn tập yếu tố Hán Việt, củng cố thêm cho học sinh kiến thức về từ Hán Việt.
12


+ Qua trò chơi, nắm được cách giải nghĩa từ Hán Việt và hiểu nghĩa của một số
yếu tố, một số từ Hán Việt.
- Chuẩn bị: Những tấm bìa có dây đeo, khổ khoảng 20 x 30 cm. Mỗi tấm bìa có
ghi chữ cỡ lớn một trong các yếu tố Hán Việt sau:
1. tạo
8. hợp
15. phản
22. luận
29. phân
36. tập

2. lập
9. biến
16. công
23. xuất
30. giải
37. khởi

3. lưu
10. hóa
17. kích
24. hành

chuẩn bị số lượng tấm bìa cho đủ với số lượng học sinh. Trò chơi được tiến hành
vào cuối tiết học.
- Cách thức tiến hành: Giáo viên cho học sinh chơi làm 3 vòng.
+ Cho tất cả các em học sinh lên bốc thăm, mỗi em bốc thăm 1 bảng chữ đeo vào
trước ngực và đứng thành vòng tròn. Một điệu nhạc nổi lên và trò chơi bắt đầu.
Khi nhạc điệu kết thúc, mỗi người phải tìm cho mình một người bạn mà người đó
phải có bảng chữ kết hợp với bảng chữ của mình tạo thành một từ Hán Việt.
VD: Người có bảng chữ là “ tạo”, tìm đến người có bảng chữ là “ lập” hoặc
“ hóa” để tạo thành chữ “ tạo lập” hoặc “ tạo hóa”. Người có bảng chữ là “ phản”
tìm đến người có bảng chữ là “ công”, “ chiến”, hoặc “ kích”… để tạo thành từ “
phản công”, “phản chiến”, “phản kích”…Người tìm được bạn thì kết thành đôi
nhảy múa, ca hát. Người nào không tìm được bạn thì bắt phạt làm một việc gì đó
mang tính chất ngộ nghĩnh, vui cười. Trò chơi được diễn ra 3 lần, mỗi lần từ ghép
được phải khác nhau. Sau đó học sinh nộp bảng chữ và trò chơi lại bắt đầu. Trong
quá trình chơi, sau mỗi lượt học sinh kết bạn với nhau, giáo viên có thể yêu cầu
đôi bạn đó giải nghĩa yếu tố Hán Việt trên tấm bìa của em và từ mà các em vừa
ghép được.
6.6. Trò chơi “ Đấu loại”. Hình thức trò chơi này thường được dùng trong
các bài như “ Ôn tập Tiếng Việt”, “ Tổng kết từ vựng”. “ Tổng kết Ngữ Pháp”.
Giáo viên thiết kế câu hỏi theo nội dung bài học.
- Mục đích:
+ Ôn luyện kiến thức và kĩ năng về Tiếng Việt.
+ Phát triển óc suy luận và tinh thần thi đua, cố gắng.
- Chuẩn bị: 35 đến 40 câu hỏi dạng trắc nghiệm A,B,C; chia câu hỏi làm 3 cấp độ
từ dễ dến khóa.
- Máy chiếu để chiếu câu hỏi và đáp án.
13


- 20 đến 25 bộ bìa gồm 3 tấm, mỗi tấm ghi chữ cỡ lớn A, B hoặc C.

- Mục đích:
+ Củng cố kiến thức về câu ghép.
+ Luyện tập lắp ghép các phần câu có sẵn để tạo thành câu ghép
- Chuẩn bị: 52 lá bài ghi 32 cụm chủ - vị và 20 quan hệ từ sau đây.

* Các cụm chủ vị:
14


1. hoàn cảnh không thuận lợi
2. chi phí tăng cao
3. thời tiết khô hạn
4. vụ mùa thất bát
5. kĩ sư thiết kế
6. công nhân thi công
7. con cái hư hỏng
8. cha mẹ đau lòng
9. tập thể đoàn kết
10. nhiệm vụ hoàn thành
11. học trò nghịch ngợm
12. cô giáo quá hiền lành
13. mọi người càng giúp đỡ
14. nó càng ỷ lại
15. bạn bè chưa lên tiếng
16. nó đã phản đối

17. tôi đồng ý
18. em cần thứ gì
19. anh giúp thứ ấy
20. mây phủ đầy trời

bài cho phù hợp nhưng cần tính toán khả năng kết hợp của một cụm chủ - vị với
31 cụm chủ - vị còn lại, đảm bảo một cụm chủ - vị bất kì có khả năng kết hợp với
5 cụm chủ - vị khác.
6.8. Trò chơi “ Đối đáp”. Trò chơi này có thể vận dụng khi dạy bài “Tổng
kết từ vựng”, phần củng cố kiến thức về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa
15


- Mục đích:
- Ôn tập, củng cố kiến thức về từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa cho học sinh.
- Tạo phản ứng nhanh nhạy khi sử dụng ngôn ngữ.
- Chuẩn bị: Mỗi đội chuẩn bị một loạt từ trái nghĩa hoặc đồng nghĩa. Số lượng từ
để hỏi gấp 1,5 lần số lượng người chơi của mỗi đội để đề phòng trường hợp từ của
2 đội trùng nhau.
- Cách thức tiến hành:
Chia lớp làm 2, 4 hoặc 6 đội. Số người mỗi đội bằng nhau. Lần lượt từng cặp
đôi ra thi đấu. Đội A, từng người đưa ra một từ để hỏi một người đối diện ở đội B.
Người tương ứng bên đội B phải nhanh chóng nói ra từ đồng nghĩa (hoặc trái
nghĩa) của từ đó. Sau đó một người bên phía đội B đưa ra một từ để hỏi người đối
diện bên đội A và người bên đội A phải tìm từ đồng nghĩa ( hoặc trái nghĩa) với
nó. Trò chơi cứ thế tiếp tục cho đến khi có đội không tìm được đáp án hoặc đáp án
sai. Thi loại trực tiếp.
Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm. Giáo viên làm trọng tài cho cuộc thi đấu. Đội
nào có tổng số điểm nhiều hơn sẽ thắng.
6.9.Trò chơi “ Giải ô chữ” . Đây là trò chơi quen thuộc và đã được áp dụng
nhiều trong giờ học Ngữ Văn, cả trong tiết Văn học và Tiếng Việt
- Mục đích: Giúp học sinh:
- Củng cố, khắc sâu kiến thức đã được học
- Rèn luyện kĩ năng nhớ, vận dụng kiến thức của các loại văn bản vào giải ô
chữ để thực hiện yêu cầu của bài tập Tiếng Việt

16

T
C
T

U
I

M
N

Đ
R
T
H
C

C
T

Q

U

U
Â

M
P

M
A
I
Ô

N
G
Ư
P
H
A
P
T
I
Ê
N
G
V
I
Ê
T

T
T

Ư
Ư

H
T

N
Ư

T

Ư

O

A

I

Câu hỏi:
1. Gồm 6 chữ cái. Đây là tên gọi chung của những từ dùng để chỉ người, vật, hiện
tượng, khái niệm? ( Danh từ)
2. Gồm 6 chữ cái. Đây là tên gọi những từ chỉ hành động, trạng thái? ( Động từ)
3. Gồm 5 chữ cái. Đây là những từ chuyên đi kèm với từ ngữ trong câu để nhấn
mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó?
( Trợ từ)
4. Gồm 5 chữ cái. Từ nào thường đi kèm với động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa
cho động từ, tính từ? ( Phó từ)
5. Gồm 9 chữ cái. Đây là cách gọi tên những tổ hợp từ trong đó có tính từ làm
thành tố trung tâm. (Cụm tính từ)
6. Gồm 10 chữ cái. Khi cần biểu thái độ, cách đánh giá của người nói với sự việc
ở trong câu, người ta thường sử dụng thành phần này? ( Tình thái từ)
7. Gồm 8 chữ cái. Đây là thao tác căn cứ vào nội dung ý nghĩa và chức năng ngữ
pháp để xếp từ thành những từ loại khác nhau? ( Phân loại)
8. Gồm 5 chữ cái. Khi cần trỏ vào sự vật để xác định vị trí của sự vật trong không
gian và thời gian ta thường sử dụng từ loại này ? ( Chỉ từ)

đầu tiên của mỗi nhóm cùng một định nghĩa của một biện pháp nghệ thuật nào đó,
như ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ…nhưng chỉ nói một lần. Người này nói thầm những
gì mình nghe được vào tai của người bên cạnh và cứ thế tiếp tục cho đến người
cuối cùng của nhóm.
* Chú ý: Người chơi chỉ được nghe nói định nghĩa đó một lần và nói lại những gì
mình nghe được cho người kế tiếp. Người cuối cùng sẽ viết những gì mình nghe
được vào một mảnh giấy đem nộp lại cho giáo viên hoặc em dẫn chương trình.
Giáo viên (em dẫn chương trình) đối chiếu thông điệp ban đầu và kết quả cuối
cùng xem nhóm nào đúng hơn và trao phần thưởng cho nhóm đó.
6.11. Trò chơi “ Ai thông minh?” Đây là cách đặt tên trò chơi có tính khái
quát, ta có thể áp dụng nhiều trong các bài học với nhiều nội dung. Trong chương
trình Tiếng Việt 9, ta có thể áp dụng khi dạy các bài “ Tổng kết từ vựng”, “ Tổng
kết Ngữ pháp”. Ví dụ khi ta ôn tập thành ngữ trong bài “ Tổng kết từ vựng” ta có
thể bổ sung bài tập để củng cố mảng kiến thức này.
- Mục tiêu:
+ Củng cố, khắc sâu những hiểu biết về thành ngữ.
+ Luyện tập đặt câu có sử dụng thành ngữ.
18


- Chuẩn bị: Các cặp thành ngữ có một câu đúng và một câu sai ( hoặc ít được dùng
hơn) theo bảng như ví dụ dưới đây
A
1. a) Ướt như chuột lội
b) Ướt như chuột lột
2. a) Đi guốc trong bụng
b) Đi dép trong bụng
3. a) Đổ mồ hôi sôi nước mắt
b) Đổ mồ hôi rơi nước mắt
4. a) Thùng bể kêu to

b) Chạy long tóc gáy
6. a) Đơn phương độc mã
b) Đơn thương độc mã

D
1. a) Mật ngọt chết ruồi
b) Mật ngọt chết người
2. a) Chọc gậy bánh xe
b) Cản gậy bánh xe
3. a) Chim sa cá lặn
b) Chim bay cá lặn
4. a) Khỉ ho cò gáy
b) Khỉ ho gà gáy
5. a) Bán trời không giấy
b) Bán trời không văn tự
6. a) Lương y như từ mẫu
b) Lương y như phụ mẫu

- Cách thức tiến hành:
+ Chia lớp làm 4 nhóm. Giáo viên cho học sinh bốc thăm. Nhóm nào bốc thăm
được dãy chữ nào sẽ giải nghĩa dãy chữ đó. Mỗi người trong nhóm phải trả lời ít
nhất một lần.
+ Cách chấm điểm:
- Xác định đúng thành ngữ: 1điểm/ thành ngữ
- Giải thích đúng thành ngữ: 2 điểm/ câu
+ Nhóm nào không trả lời được câu hỏi dành cho nhóm mình thì nhóm khác có
quyền trả lời thay và được cộng điểm của phần đó. Nhóm nào được tổng số điểm
nhiều hơn sẽ thắng.
19


* Kết quả từ khảo sát từ phiếu trắc nghiệm khách quan vào thời điểm đầu năm
vàvà cuối năm.
Tiêu chí

HS yêu thích môn Ngữ văn
HS không yêu thích môn
Ngữ văn

Khi chưa áp dụng

Sau khi áp dụng

( Đầu năm học 2012 – 2013)
( 47 học sinh)

(Cuối năm học 2012 – 2013)
( 45 học sinh)

SL
15

%
30,6

SL
39

%
83,0



10.2

20

40.8

16

32.7

8

16.
3

24.5

27

60.0

6

13.3

0

0


năng lực của các em sau này.
8. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Có thể thấy, sử dụng trò chơi trong dạy học Ngữ văn nói chung và Tiếng
Việt nói riêng đem đến cho chúng ta những kết quả khả quan. Tuy nhiên, muốn
thực hiện tốt hoạt động này cần phái có những điều kiện sau:
- Giáo viên phải thật tâm huyết với nghề, với công việc ngoài giờ mà không có
quy định nào bắt buộc. Bởi vì, có chuẩn bị chu đáo thì trò chơi mới đạt hiệu quả
như mong muốn. Ngược lại, không có sự chuẩn bị đầy đủ, thiết kế trò chơi khoa
học thì có thể không có tác dụng, thậm chí là phản tác dụng vì mất quá nhiều thời
gian hoặc “ làm loãng” kiến thức bài học.
- Cần phải có nguồn kinh phí nho nhỏ để thực hiện hoạt động này. Giáo viên bộ
môn có thể kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và Hội cha mẹ học sinh để tăng
cường nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động trò chơi của các em.
- Các trò chơi cần phải gắn liền với việc củng cố, khắc sâu kiến thức và mang ý
nghĩa giáo dục, phải tạo được sân chơi bổ ích, tạo ra động lực thúc đẩy thi đua sôi
nổi giữa các cá nhân, các nhóm trong lớp học để học sinh đi từ hứng thú đến yêu
thích môn học hơn.
- Khi đánh giá cần đảm bảo công bằng, khách quan đối với mọi đối tượng học
sinh. Có như vậy, các em mới có thái độ tích cực, say mê.

Phần 3: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
1. KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
21


Bằng việc tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Việt lớp 9, các tiết học
Tiếng Việt đã trở nên sôi nối, các em đã có hứng thú hơn. Sự thể hiện rõ nhất là
các em đã chủ động, tích cực, giảm phần nhút nhát, e dè, nhất là giao lưu với các
thầy cô nhiều hơn. Nhiều học sinh không còn thụ động ngồi nghe giáo viên giảng
mà hăng hái phát biểu xây dựng bài, nhiều em mong đến giờ học để được tham gia

22


Phần 1: Thông tin chung về kinh nghiệm
Tóm tắt kinh nghiệm
Phần 2: Mô tả kinh nghiệm
1. Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3. Vai trò, tác dụng của việc sử dụng trò chơi trong dạy học
4. Nguyên tắc thiết kế trò chơi.
5. Một số điều cần lưu ý khi sử dụng trò chơi trong bài dạy Tiếng
Việt
6. Một số hình thức trò chơi được sử dụng trong các tiết học Tiếng
Việt có hiệu quả
7. Kết quả
8. Bài học kinh nghiệm
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
Mục lục

1
2
3
3
5
5
6
8
19
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status