SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE THIẾT YẾU CỦA NGƯỜI DÂN
TỈNH KON TUM NĂM 2014
Chủ nhiệm đề tài: Y Dêch Buôn-yă
SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG - GDSK
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE THIẾT YẾU CỦA NGƯỜI DÂN
TỈNH KON TUM NĂM 2014
Nhóm nghiên cứu
1. Y Dêch Buôn-yă, Chủ nhiệm đề tài
2. Phạm Thị Thu Huyền, cộng sự
3. Phạm Thành Tú, cộng sự
4. Trần Thị Thanh Xuân, cộng sự
5. Bạch Thị Vân, cộng sự
3.4. Các yếu tố liên quan
12-13
IV. BÀN LUẬN
14-19
4.1. Kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu của đối tượng nghiên cứu
14-17
4.2. Nguồn cung cấp thông tin
17-18
4.3. Các yếu tố liên quan
KẾT LUẬN
18
19-20
KHUYẾN NGHỊ
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
22
chăm sóc sức khỏe thiết yếu.
2. Tìm hiểu nguồn thông tin về chăm sóc sức khỏe mà người dân nhận
được.
3. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết
yếu của người dân.
Trên cơ sở đó, đề ra những định hướng về công tác phối hợp và đẩy mạnh
các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
1
I. TỔNG QUAN
Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) được tổ chức
từ ngày 06 đến 12/9/1978 tại Alma - Ata, Kazakhstan, do Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) bảo trợ, với 134 nước
(trong đó có Việt Nam) và 67 tổ chức quốc tế tham dự. Hội nghị đưa ra Bản
Tuyên ngôn nổi tiếng về CSSKBĐ là Tuyên ngôn Alma - Ata, gồm 10 điểm, là
chiến lược y tế toàn cầu nhằm đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người”.
Trước Alma - Ata, 1978, WHO nhận định: 80% dân chúng không được
chăm sóc sức khỏe một cách thỏa đáng và tình trạng sức khỏe nói chung là
không thể chấp nhận được; Nhân sự, kinh phí và trang thiết bị phân phối không
công bằng - tập trung chủ yếu ở đô thị trong khi đa số dân chúng sống ở vùng
nông thôn; Hệ thống y tế dựa vào điều trị, vào bệnh viện với kỹ thuật học cầu
kỳ, tốn kém, không quan tâm đến bối cảnh kinh tế văn hóa và nếp sống của
người dân địa phương; Đào tạo theo kiểu cũ, không phù hợp; Môi trường xã hội
và thiên nhiên thay đổi. Nhiều bệnh tật mới xuất hiện, phức tạp, phản ánh tình
trạng kinh tế - xã hội - chính trị, nên không thể giải quyết vấn đề đơn thuần bằng
cách tiếp cận lâm sàng, cá thể như trước.
CSSKBĐ là nền tảng triết lý và chính sách y tế của WHO, nhằm xây dựng
một hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng tình hình mới với sự thay đổi nhanh chóng
người dân với hệ thống y tế, đưa sự chăm sóc sức khỏe đến càng gần càng tốt
nơi người dân sống và lao động, trở thành yếu tố đầu tiên của một quá trình
chăm sóc sức khỏe lâu dài” (Tuyên ngôn Alma - Ata, 1978).
Để hiểu rõ thuật ngữ trên, cần chú ý các điểm: Chăm sóc là gì? Đó là sự
đáp ứng nhu cầu. Sức khỏe là gì? Năm 1946, WHO định nghĩa: “Sức khỏe là
một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không
phải chỉ là không có bệnh hay tật”. Ban đầu là gì? Từ “Ban đầu” này dễ gây
nhầm lẫn là “sớm, mới đầu, còn nhỏ, sơ bộ, cơ sở…”, thực ra không phải vậy
mà bao gồm những ý nghĩa như sau: Đó là sự chăm sóc sức khỏe: Thiết yếu; Kỹ
thuật học thực tiễn, khoa học, được xã hội chấp nhận; Phổ biến đến tận cá nhân
và gia đình; Tự lực, tự quyết; Tham gia tích cực; Phí tổn vừa phải; Gần gũi nơi
người dân sống và lao động; Nằm trong sự phát triển chung về kinh tế - xã hội
của địa phương. [1]
Như vậy, Chăm sóc sức khỏe thiết yếu là thành phần đầu tiên trong thuật
ngữ CSSKBĐ.
Nội dung của CSSKBĐ theo Alma - Ata có 8 yếu tố chính: Giáo dục sức
khỏe; Dinh dưỡng; Môi trường - Nước sạch; Sức khỏe bà mẹ trẻ em - Kế hoạch
hóa gia đình; Tiêm chủng mở rộng; Phòng chống bệnh dịch địa phương; Chữa
bệnh và chấn thương thông thường; Thuốc thiết yếu.
Ngoài 08 yếu tố trên, mỗi quốc gia đề thêm các yếu tố cần thiết khác theo
tình hình thực tiễn của mình. Việt Nam đề thêm 02 yếu tố sau đây (trở thành 10
yếu tố CSSKBĐ của Việt Nam): Quản lý sức khỏe và Xây dựng và củng cố
mạng lưới y tế cơ sở. [1]
Như vậy, Chăm sóc sức khỏe thiết yếu là yếu tố đầu tiên trong nội dung
CSSKBĐ.
Việc thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu sẽ mang lại hiệu
quả rất lớn cho cộng đồng. Nhận thức của người dân về tự chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe cho cộng đồng tăng lên, hạn chế những rủi ro lớn nhất có thể do bệnh
tật gây ra, sức khỏe và tuổi thọ được nâng cao.
Với ngành y tế, việc thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu sẽ
sống của người dân. [3]
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, với nguyên tắc cơ bản là đảm bảo
phục vụ nhân dân tốt nhất và có hiệu quả cao, các cơ sở y tế đã có khả năng đáp ứng
được nhu cầu chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho nhân dân. Đảng và Chính phủ Việt
Nam đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân như: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989, Pháp lệnh Phòng
chống HIV/AIDS năm 1995, Pháp lệnh An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2003,
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001- 2010, Chiến
lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001- 2010, Chiến lược Quốc gia về
chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001- 2010, Chương trình mục tiêu quốc
gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm (phòng chống sốt
rét, phòng chống lao, phòng chống sốt xuất huyết, phòng chống phong, phòng
chống bướu cổ, tiêm chủng mở rộng, bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng...
Đặc biệt, ngày 07/6/2011 Bộ Y tế ban hành Quyết định về việc phê duyệt
“Chương trình hành động công tác truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn
2011 - 2015” trong đó đề cập đầy đủ về các nội dung chăm sóc sức khỏe thiết
yếu bao gồm: Các kiến thức về phòng chống dịch bệnh; kiến thức về phòng
chống các bệnh không lây nhiễm; kiến thức về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe
trẻ em; kiến thức về thực hành vệ sinh cơ bản và y học thường thức; kiến thức
về vệ sinh an toàn thực phẩm... Đây là tiền đề quan trọng để thúc đẩy và thực
hiện có hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu. Thực tế, các chương
trình này đã và đang được triển khai thực hiện bằng nội lực của toàn ngành y tế
và được sự quan tâm lãnh đạo của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp, sự
tham gia tích cực của các đoàn thể quần chúng và nhân dân, sự giúp đỡ của các
4
tổ chức quốc tế. Nhân dân ngày càng được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, dịch vụ y
tế ngày càng phát triển, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi, các
chỉ tiêu về y tế, sức khoẻ không ngừng được cải thiện. Nhận thức của người dân
Kon Tum giai đoạn 2011-2020”. Trong đó, nêu rõ những khó khăn thách thức
trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc sức khỏe
thiết yếu nói riêng như: Hệ thống y tế đổi mới chậm, chưa thích ứng với sự phát
triển; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của
nhân dân; cơ sở hạ tầng (CSHT), trang thiết bị (TTB) đầu tư chưa đồng bộ; đội
ngũ cán bộ y tế (CBYT) hạn chế về chất lượng, cơ cấu chưa hợp lý... [5]. Đặc
biệt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe thiếu sự quan tâm đầu tư đúng mức
nên nhận thức của người dân về phòng chống dịch bệnh chưa cao. Đòi hỏi phải
xác định hướng đi cho việc phát triển y tế nói chung và công tác truyền thông
giáo dục sức khỏe nói riêng một cách hợp lý, có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân [5].
5
Nguyên nhân chính của khó khăn trên là do công tác truyền thông giáo
dục sức khỏe chưa được các cấp, các ngành, các đơn vị quan tâm đầu tư thỏa
đáng. Đội ngũ làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe còn thiếu về số
lượng và yếu về kỹ năng ở tất cả các tuyến đặc biệt là tuyến xã. Trang thiết bị
truyền thông đã hỏng và thiếu so với nhu cầu. Trong khi đó, sự chuyển biến về
nhận thức và hành vi sức khỏe của người dân còn chậm và thiếu bền vững;
người dân có thói quen xem ti-vi như một phương tiện giải trí, ít quan tâm đến
các chương trình giáo dục sức khỏe được phát trên các kênh truyền hình Trung
ương.
Do vậy, việc tổ chức khảo sát thực trạng kiến thức về chăm sóc sức khỏe
thiết yếu ở người dân trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo đúng phương pháp nghiên
cứu khoa học là rất cần thiết, có giá trị cho ngành Y tế tỉnh Kon Tum trong việc
đánh giá công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn tỉnh.
6
lý. Trong điều kiện cho phép, để tăng tính chính xác chúng tôi tăng cỡ mẫu 2
lần, 384 x 2 = 768, lấy chẵn N = 800.
- Cách chọn mẫu:
+ Chọn cụm (mỗi cụm ứng với mỗi thôn/làng/tổ dân phố): Trên cơ sở
danh sách thôn/làng/tổ dân phố hiện có trên địa bàn toàn tỉnh với đầy đủ thông
tin về dân số, số hộ gia đình…, tiến hành chọn mẫu cụm xác suất tỷ lệ theo cỡ
(PPS - Probability proportionate to size) với số cụm chọn là 100. Qua 3 bước
tiến hành: Tính khoảng cách mẫu, Chọn số ngẫu nhiên (qua website
http://www.random.org/) và Xác định cụm, kết quả chúng tôi có Danh sách 100
thôn/làng/tổ dân phố được chọn.
+ Chọn hộ gia đình: Dựa trên tổng số hộ gia đình của 100 cụm được chọn,
chúng tôi tính ra số hộ trung bình trong 100 cụm. Từ số hộ trung bình, chúng tôi
tính được số hộ cần phỏng vấn cho mỗi thôn/làng/tổ dân phố.
+ Chọn đối tượng: Mỗi hộ gia đình chọn 01 người có độ tuổi ≥18 và ≤60
để phỏng vấn. Không phân biệt trình độ học vấn, tôn giáo, nghề nghiệp. Đối với
7
hộ đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài tiêu chuẩn về độ tuổi, ưu tiên chọn đối
tượng có khả năng giao tiếp tốt bằng Tiếng Việt.
2.4. Thu thập thông tin:
Sử dụng bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn để thu thập thông tin. Cấu trúc bộ
câu hỏi gồm 2 phần chính:
- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, bao gồm: tuổi, dân tộc, địa
chỉ, trình độ học vấn, nghề nghiệp…
- Câu hỏi kiến thức 20 bệnh hoặc chủ đề khác nhau bao gồm: (1) sốt rét,
(2) sốt xuất huyết, (3) tay chân miệng, (4) tiêu chảy, (5) lao, (6) phong, (7) cúm
A(H5N1), (8) cúm A(H1N1), (9) HIV/AIDS, (10) tiểu đường, (11) tâm thần,
(12) ung thư, (13) hen phế quản, (14) tăng huyết áp, (15) ngộ độc thực phẩm,
(16) tiêm chủng mở rộng, (17) suy dinh dưỡng trẻ em, (18) tai nạn thương tích
Độ tuổi
18-30
31-41
42-52
53-60
T.Cộng
% theo giới tính
Nữ
%
34,4
31,1
20,5
13,9
100
84
76
50
34
244
30,50%
SL
219
175
104
58
Vùng
Dân tộc
Kinh
Xê-đăng
Ba-na
Jơ-rai
Giẻ - Triêng
Khác
T.Cộng
% theo vùng
SL
264
42
22
0
0
12
340
42,5%
%
77,6
12,4
6,5
0
0
3,5
100
59
800
100%
%
48,1
26,1
7,1
3,9
7,4
7,4
100
Dân tộc Kinh chiếm 48,1% đối tượng tham gia nghiên cứu. Có 42,5% đối
tượng tham gia nghiên cứu sinh sống ở thành thị.
Bảng 3. Trình độ học vấn và nghề nghiệp
Trình độ
Làm
nông
Buôn
bán lẻ
Nghề nghiệp
Doanh
CBCCVC
nhân
≤ THCS
29
25
54
6,8%
531
269
800
100%
66,4
33,6
100
Đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống
chiếm 66,4%. Có 64,3% đối tượng nghiên cứu sinh sống bằng nghề nông.
9
3.2. Kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 2a. Tổng hợp kiến thức đúng từ bộ câu hỏi phỏng vấn.
10
Biểu đồ 2b. Tổng hợp kiến thức đúng theo từng bệnh hoặc chủ đề.
Biểu đồ 2a, 2b cho thấy đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về phòng
bệnh sốt rét chiếm tỷ lệ cao nhất (62,7%), tiếp đó lần lượt theo thứ tự là bệnh sốt
xuất huyết (42,1%), ngộ độc thực phẩm (38,8%), bệnh tay chân miệng (35,9%),
bệnh tiêu chảy (32,9%), chương trình tiêm chủng mở rộng (26,9%), bệnh lao
đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu ở người dân vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa cao hơn vùng thành thị (288 so với 172); Số đối tượng có kiến thức
chưa đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu ở các dân tộc thiểu số cao hơn so với
dân tộc Kinh (283 so với 132); Số đối tượng có kiến thức chưa đúng về chăm
sóc sức khỏe thiết yếu ở người làm nông cao hơn so với những người làm nghề
nghiệp khác (327 so với 187). Các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (với
các giá trị p đều < 0,05).
13
IV. BÀN LUẬN
4.1. Kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu của đối tượng nghiên cứu
4.1.1. Kiến thức về phòng bệnh sốt rét: Tỉnh Kon Tum nằm trong vùng
dịch tễ sốt rét, do đó công tác tuyên truyền phòng bệnh sốt rét luôn được các đơn
vị y tế ở các tuyến quan tâm. Hiểu biết của người dân về phòng bệnh chống rét
cao hơn so với các nhóm bệnh khác là điều sát hợp với thực tế. Qua nghiên cứu,
tỷ lệ hiểu biết của người dân là 62,7%, đạt mức cao. Nghiên cứu tương tự của
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2012, tỷ lệ này là 56,9% [4].
4.1.2. Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết: Công tác phòng chống sốt
xuất huyết trên địa bàn tỉnh Kon Tum luôn được đẩy mạnh. Trong những năm
gần đây, hàng năm ngành y tế tổ chức chiến dịch hưởng ứng “Ngày ASEAN
phòng chống sốt xuất huyết”. Tỷ lệ hiểu biết của người dân về phòng chống
bệnh sốt xuất huyết là 42,1%, đạt mức trung bình. Nghiên cứu tương tự của tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu, tỷ lệ này là 71,3% [4].
4.1.3. Kiến thức về phòng chống ngộ độc thực phẩm: An toàn thực phẩm là
vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong
việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống. Đây là một lĩnh vực có
hệ thống quản lý từ trung ương đến cơ sở. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về
an toàn thực phẩm đã được ban hành. Công tác thanh tra, kiểm tra luôn được
người dân không liệt kê chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia phòng ngừa
được những bệnh gì. Hỏi thêm về thời gian tiêm chủng các loại vắc xin thì kết
quả là 51,3% người dân không biết, trong khi đối tượng phỏng vấn, phụ nữ vẫn
chiếm đa số (69,5%).
4.1.7. Kiến thức về phòng bệnh lao: Hiện nay hầu hết các đơn vị y tế tuyến
huyện, xã đều có cán bộ chuyên trách phòng chống lao. Bệnh lao đã được đưa
vào chương trình mục tiêu quốc gia về y tế từ rất sớm. Nhận thức về phòng
chống bệnh lao của người dân trên địa bàn tỉnh theo đánh giá chung là có tăng.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 25% người dân có kiến thức đúng về phòng
chống bệnh lao, tỷ lệ này vẫn ở mức thấp. Nghiên cứu tương tự của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tỷ lệ này là 73,6% [4].
4.1.8. Kiến thức về phòng bệnh phong: Tương tự, bệnh phong đã được đưa
vào chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Ở Kon Tum, mặc dù bệnh phong chỉ
lưu hành ở một số vùng nhưng công tác tuyên truyền vẫn thực hiện rộng rãi trên
địa bàn tỉnh và được duy trì thường xuyên. Hiện nay tỉnh Kon Tum đang tập
trung phấn đấu loại trừ bệnh phong vào năm 2015. Tỷ lệ người dân hiểu biết về
phòng bệnh phong theo nghiên cứu của chúng tôi là 21,1%, mức thấp.
4.1.9. Kiến thức về phòng bệnh ung thư: Ung thư là bệnh có tỷ lệ mắc ngày
càng gia tăng trên thế giới cũng như ở nước ta. Trong những năm gần đây, các
đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng đã tăng cường lồng ghép tuyên truyền giáo dục
sức khỏe về phòng chống bệnh ung thư trong các buổi truyền thông ở cộng
đồng. Tỷ lệ người dân hiểu biết về phòng bệnh ung thư theo nghiên cứu của
chúng tôi là 19,6%, mức rất thấp.
4.1.10. Kiến thức về phòng bệnh hen phế quản: Hen phế quản là một trong
những bệnh có tỷ lệ mắc ngày càng gia tăng. Theo đánh giá chung là nhận thức
của người dân về bệnh hen phế quản còn hạn chế. Việc tuyên truyền cho người
dân cũng chưa được nhiều so với các bệnh khác. Qua nghiên cứu, tỷ lệ hiểu biết
đúng về phòng ngừa bệnh hen ở người dân là 18,8%.
4.1.11. Kiến thức về phòng bệnh tăng huyết áp: Tăng huyết áp cũng là một
trong các bệnh có tỷ lệ mắc ngày càng tăng cao. Bệnh tăng huyết áp đã được xếp
vào nhóm bệnh có tính chất nguy hiểm cho cộng đồng, đã được đưa vào chương
16,1%.
4.1.15. Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS: Những năm gần đây, công
tác tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS đã được đẩy mạnh, mạng lưới cán bộ
làm công tác phòng chống HIV/AIDS đã được hình thành từ tuyến tỉnh đến cơ
sở. Tuy nhiên, tỷ lệ hiểu biết của người dân về phòng chống HIV/AIDS vẫn còn
ở mức rất thấp, 15,5%. Nghiên cứu tương tự của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỷ lệ
này là 69,3% [4].
4.1.16. Kiến thức về tác hại của hút thuốc lá: Đây là lần đầu tiên chúng tôi
tiến hành phỏng vấn sự hiểu biết của người dân về tác hại của hút thuốc lá trên
địa bàn tỉnh. Nội dung này đã được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện thông
tin đại chúng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 12,5% người dân hiểu biết
đúng về tác hại của thuốc lá.
4.1.17. Kiến thức về phòng chống bệnh cúm A(H5N1): Tương tự như cúm
A(H1N1), tỷ lệ hiểu biết về phòng chống bệnh cúm A(H5N1) còn rất thấp,
12,4%. Hầu hết các đối tượng được phỏng vấn không phân biệt được cúm
A(H1N1) với cúm A(H5N1), trong khi các địa phương khác đối với cúm
A(H1N1) người dân thường gọi là “cúm heo”, đối với cúm A(H5N1) người dân
thường gọi là “cúm gà”. Mặc dù cách gọi này là không chính thức nhưng dù sao
cũng dễ phân biệt, từ đó gợi ý cho họ có những biện pháp phòng ngừa đúng hơn.
4.1.18. Kiến thức về tác hại của uống rượu: Tương tự như thuốc lá, trong
nghiên cứu này, chúng tôi phỏng vấn cả hiểu biết của người dân về tác hại của
rượu đối với sức khỏe con người. Nghiên cứu của chúng tôi cho biết, trong 800
đối tượng phỏng vấn, có 30,5% đối tượng trả lời có uống rượu, 69,5% đối tượng
16
trả lời không uống. Kết quả thống kê chung có 12,1% đối tượng có kiến thức
đúng về tác hại của rượu đối với sức khỏe con người, tỷ lệ này ở mức rất thấp.
4.1.19. Kiến thức về phòng chống bệnh tiểu đường: Cũng như bệnh tăng
huyết áp, bệnh tiểu đường (còn gọi là đái tháo đường) là một trong những bệnh
phát sóng qua vệ tinh). Nếu không tính nguồn thông tin từ tivi ra thì rõ ràng
nguồn thông tin từ cán bộ y tế xã và nhân viên y tế thôn/làng chiếm tỷ lệ cao
nhất: 37,6% và 31,6% (nếu gộp lại 02 lực lượng này thì tỷ lệ là 69,2%), tiếp đó
nguồn thông tin từ báo chí (20%). Nghiên cứu về vai trò của các tổ chức, đoàn
thể trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe của tác giả Nguyễn Thị Kim
Vân, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Quảng Nam cũng cho kết quả
nguồn thông tin về sức khỏe cho người dân từ cán bộ y tế là 71,6% [8]. Đây là
đặc điểm mà các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng không thể bỏ qua khi xây dựng
kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn của mình. Nguồn cung cấp
thông tin về sức khỏe cho người dân trên địa bàn tỉnh chủ yếu nhất vẫn là lực
17
lượng cán bộ y tế xã và nhân viên viên y tế thôn/làng. Các kênh khác sẽ hỗ trợ
đắc lực cho lực lượng cán bộ y tế xã và nhân viên y tế thôn làng trong công tác
truyền thông giáo dục sức khỏe. Ngoài ra hiện nay còn xuất hiện thêm một kênh
mới, đó là internet, chiếm tỷ lệ 9,3%, trong khi khảo sát ở 381 đối tượng trên địa
bàn tỉnh năm 2012 của chúng tôi [9], nguồn thông tin này chưa được người dân
nhắc tới.
4.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức chăm sóc sức khỏe
Nhìn tổng thể Biểu đồ 3, chúng tôi thấy số đối tượng có kiến thức chưa
đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu cao hơn so với số đối tượng có kiến thức
đúng. Rõ nhất là ở các yếu tố vùng, dân tộc và nghề nghiệp. Ba yếu tố này có sự
chênh lệch rõ rệt mà ở phần trình bày kết quả nghiên cứu đã khẳng định có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; vùng dân tộc thiểu số; đối tượng làm
nông có tỷ lệ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe thấp hơn so với vùng thành thị, là
nơi tập trung dân tộc Kinh sinh sống bằng nhiều nghề khác nhau. Đánh giá
chung về các yếu tố liên quan trong nghiên cứu này là: không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê về kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu giữa đối tượng có
1.18. Tỷ lệ người dân hiểu biết về tác hại của uống rượu: 12,1%.
1.19. Tỷ lệ người dân hiểu biết về phòng chống bệnh tiểu đường: 10,1%.
1.20. Tỷ lệ người dân hiểu biết về phòng chống bệnh tâm thần: 9,9%.
Đánh giá chung, tỷ lệ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe thiết yếu của người
dân tỉnh Kon Tum là 18,6%. Đây là một kết quả rất thấp.
2. Nguồn cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe
- 83,3% từ kênh truyền hình (đối với nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì
kênh truyền hình của trung ương là chủ yếu).
- 37,6% từ cán bộ y tế xã.
- 31,6% từ nhân viên y tế thôn/làng/tổ dân phố.
- 20% từ báo chí.
- 15,6% từ hệ thống loa truyền thanh của xã/phường/thị trấn.
- 9,3% từ Internet.
- 8,4% từ đài FM.
19
- 5,6% từ tờ rơi, tờ gấp.
- 2,3% từ nguồn khác (cán bộ thôn, bạn bè, người thân).
3. Các yếu tố liên quan
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ hiểu biết về chăm sóc sức
khỏe thiết yếu giữa vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với vùng thành thị.
- Không có sự khác biệt về tỷ lệ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe thiết yếu
giữa đối tượng có trình độ học vấn trên trung học cơ sở và đối tượng có trình độ
học vấn dưới trung học cơ sở.
20
KHUYẾN NGHỊ
khỏe tuyến huyện và xây dựng thí điểm mô hình Phòng truyền thông giáo dục
sức khỏe ở Trung tâm Y tế dự phòng huyện.
[4] Nguyễn Văn Lên, Nguyễn Thị Thanh An, Cao Thị Phương Thủy, Lê Thị
Xuân (2013), Khảo sát kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại gia đình và
cộng đồng của người dân Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2013
[5] Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum (2011), Quy hoạch phát triển sự nghiệp
Chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020, định
hướng đến năm 2025.
[6] http://fsiu.mard.gov.vn/data/dinhduong/dinhduong2012.pdf, truy cập ngày
10/12/2014.
[7] http://www.baomoi.com/Kon-Tum-72-ti-vi-khong-xem-duoc-chuong-trinhdai-truyen-hinh-tinh/144/4959254.epi, truy cập ngày 10/12/2014.
[8] Nguyễn Thị Kim Vân (2013), Khảo sát vai trò của tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể các cấp trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại tỉnh
Quảng Nam.
[9] Y Dêch Buôn-yă (2012), Đánh giá kiến thức, thực hành phòng bệnh tay
chân miệng ở người dân độ tuổi 18-30 tỉnh Kon Tum.
22