SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
VŨ DUY CẢNG-TRỊNH VĨNH LONG-NGUYỄN MINH HẢO
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2
LƯU HÀNH NỘI BỘ
1
MỤC LỤC
Giới thiệu chung về tài liệu văn hóa địa phương.
3
Chương I: ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
Phần I: Địa lí Thanh Hóa
Bài 1. Địa lí tự nhiên
4
Bài 2. Xã hội dân cư
9
Bài 3. Địa lí kinh tế
15
Bài 6. Ôn tập về ngữ văn địa phương
59
Chương III: VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG
Bài 1. Danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử - văn hóa
61
Bài 2. Lễ hội
68
Bài 3. Phong tục tập quán
73
Bài 4. Một số trò chơi dân gian ở Thanh Hóa
78
Bài 5. Dạy học văn hóa địa phương ở tiểu học
81
Bài 6. Tổ chức thực hành giáo dục văn hóa địa phương
84
Bài 7 Ôn tập văn hóa địa phương
phương 10 tiết; ; phần ngữ văn 10 tiết; phần văn hoá địa phương 10 tiết.
Cách sử dụng tài liệu:
Tài liệu viết dưới dạng tập huấn giáo viên, dùng để tập huấn cán bộ quản
lí và giáo viên tiểu học, trước hết là bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên tiểu
học các đơn vị tham gia Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học.
Giáo viên dùng tài liệu này để lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp lồng ghép
trong các tiết giảng dạy về Địa lí, Lịch sử và Tiếng Việt, giáo viên cũng có thể
dựa vào tài liệu này để soạn thành tiết học riêng dạy học sinh phần kiến thức địa
phương quy định trong một số môn học.
Trong quá trình viết tài liệu, các tác giả tham khảo và sử dụng một số số
liệu, tư liệu trong cuốn Dư địa chí Thanh Hoá và trong trang Web: vi.
wikipedia.org
Tác giả bài viết là những cán bộ quản lí có nhiều kinh nghiệm trong quản
lí, chỉ đạo giáo dục tiểu học nhưng ít tham gia viết tài liệu nên bài viết không
tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý và chia sẻ của bạn đọc.
3
BAN BIÊN TẬP
Chương I. Địa lí và Lịch sử địa phương
Phần I. ĐỊA LÍ THANH HOÁ
Bài 1.
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
(2 tiết)
Mục tiêu
- Giúp học viên nắm được những nét chung nhất về địa hình, địa mạo, khí
tượng thuỷ văn và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Thanh Hoá.
biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm
3 vùng: Miền núi - Trung du; Đồng bằng; Ven biển. Thanh Hóa có thềm lục địa
rộng 18.000 km².
Vùng miền núi, trung du
5
Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa. Riêng
miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ
nét như ở Bắc Bộ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du
của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là
một phần không tách rời của miền núi nói chung.
Miền đồi núi Thanh Hóa bao gồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh,
Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát,
Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và Thạch Thành chiếm 2/3 diện tích của tỉnh, trong đó có
5 huyện có đường biên giới với Lào là Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Lang
Chánh, Thường Xuân. Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên
có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và
các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện.
Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển
cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc
hai huyện Như Thanh và Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý,
thú quý.
Vùng đồng bằng
Gồm các huyện (thị, thành phố): Nông Cống, Triệu Sơn, TP Thanh Hóa,
2) Gió Tây Nam: Từ vịnh Bengal qua Thái Lan, Lào thổi vào, gió rất nóng
nên gọi là gió Lào hay gió Tây Nam
3) Gió Đông Nam (còn gọi là gió nồm): thổi từ biển vào đem theo khí mát
mẻ.
Mùa nóng:
Bắt đầu từ cuối mùa xuân đến giữa mùa thu, mùa này nắng, mưa nhiều
thường hay có lụt, bão, hạn hán, gặp những ngày có gió Lào nhiệt độ lên tới 3940 °C
Mùa lạnh:
Bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau. Mùa này thường hay
xuất hiện gió mùa đông bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô. Lượng nước
trung bình hàng năm khoảng 1730-1980 mm, mưa nhiều tập trung vào thời kỳ
từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, còn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng
mưa chỉ dưới 15%.
Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ trung bình từ 23,3 °C đến 23,6 °C, mùa hè nhiệt độ có ngày cao
tuyệt đối đến 40 °C, nhưng mùa đông có ngày nhiệt độ xuống thấp tới 5-6 °C.
7
đang bị thất thoát do kiểm soát không chặt chẽ. Theo số liệu của Sở Tài nguyên
và Môi trường Thanh Hóa năm 2004 thì nguồn tài nguyên của tỉnh như sau:
Đá vôi làm xi măng: Trữ lượng 370 triệu tấn, chất lượng tốt, phân bố ở
các huyện: Quan Hóa, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bỉm Sơn, Hà Trung.
Sét làm xi măng: Trữ lượng 85 triệu tấn, phân bố chủ yếu ở các huyện:
Hà Trung, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Tĩnh Gia.
Sét làm gạch ngói: Trữ lượng trên 20 triệu khối, chất lượng tốt, phân bố
chủ yếu ở các huyện: Thạch Thành, Hà Trung, Thiệu Hóa, Yên Định,
Thọ Xuân, Quảng Xương, Tĩnh Gia.
Sét cao nhôm: Trữ lượng 5 triệu tấn, làm gạch chịu lửa và gạch ốp lát.
Cát xây dựng: Trữ lượng rất lớn, phân bố khắp tỉnh.
8
mạo, thời tiết, khí hậu, gió mùa).
2) Hãy nêu những tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Thanh Hoá.
Bài 2.
XÃ HỘI DÂN CƯ
(2 tiết)
Mục tiêu
Học viên nắm được các đơn vị hành chính trong tỉnh và sự phân bố dân
cư theo dân tộc và theo các đơn vị hành chính.
Từ sự phân bố dân cư đó, thấy được thế mạnh và những khó khăn của
từng vùng và cũng hiểu được chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát
triển bình đẳng của các dân tộc.
Các phương tiện hỗ trợ
9
- Bản đồ hành chính tỉnh thanh Hoá
- Biểu bảng về sự phân bố dân cư theo dân tộc và theo các đơn vị hành
chính.
Giới thiệu
Thanh Hoá là một tỉnh đông dân thứ ba trên toàn quốc (sau Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh), có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống. Để hiểu rõ sự
phân bố dân cư theo dân tộc và theo các đơn vị hành chính trong tỉnh, từ đó hiểu
được các chính sách của Đảng, Nhà nước và thấy được trách nhiệm của bản
thân trong sự phát triển bình đẳng các dân tộc, bài học hôm nay giúp chúng ta
thoả mãn những hiểu biết đó.
Hoạt động 2. Thảo luận theo nhóm 4
- Tỉnh thanh Hoá có bao nhiêu đơn vị hành chính (huyện). kể tên
Trong tổng dân số năm 2009, nữ giới có 1.717.067 người, dân số thành
thị là 354.880 người. Mật độ dân số vào loại trung bình: giảm từ 310 người/km²
(năm 1999) xuống 305 người/km² (năm 2009). Tỉ số giới tính (số nam trên 100
nữ) tăng từ 95,6 % (năm 1999) lên 98,0 % (năm 2009), tương đương với mức
chung của cả nước.
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân
tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, HMông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm
phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có
dân số và địa bàn sống thu hẹp hơn, như người Khơ Mú chỉ sống chủ yếu ở 2
bản Đoàn Kết - xã Tén Tằn và Suối Lách - xã Mường Chanh, huyện Mường
Lát.
Dân số
các dân
tộc chủ
yếu
Mường
Thổ
Khơ
Mú
Thái
HMông
Dao
Sơn,
Ngọc
Quan
cư trú Khắp tỉnh Lặc,Cẩm Xuân, Mường
Bá
Lặc,
Như
Lát
Hóa,
chủ yếu
Thủy,
Thước,Lang
Cẩm
Quan
Thanh
Thạch
Chánh,
Thủy
Sơn
Thành,
Thường
11
Bá Thước
Xuân
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
12
của người Thổ là bộ sắc phục của phụ nữ khá độc đáo, duyên dáng. Phương
thức canh tác chủ yếu là cấy lúa nước.
Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Khơ Mú sống tập trung ở 2 bản: Đoàn Kết, xã Tén Tằn và Suối
Lách, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát. Dân số năm 1999 là 607 người.
Dân tộc Khơ Mú không có chữ viết. Tiếng nói theo ngôn ngữ Khơ me. Nét đặc
trưng của đồng bào dân tộc Khơ Mú là sống hòa thuận trong chòm, trong bản.
Mối quan hệ dòng họ rất nghiêm ngặt. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi
chuyện. Người Khơ Mú hầu như chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế, còn quan
hệ tình cảm, văn hóa khép kín trong dòng tộc. Từ khi có chính sách định canh
định cư, cuộc sống của đồng bào dân tộc Khơ Mú đã có nhiều thay đổi. Con
trai, con gái đã được đi học, giao tiếp rộng rãi và đã lấy chồng, lấy vợ người dân
tộc khác.
Dân tộc Thái
Lịch sử người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ gần gũi và chặt chẽ với
người Thái ở Tây Bắc và có nguồn gốc từ dòng họ Lò Khăm (tiếng Thái Đen).
Các dòng họ chủ yếu của người Thái là: Hà, Phạm, Lang, Lò, Vi, Đinh... Người
Thái ở Thanh Hóa có 2 nhánh là: Thái Trắng (Táy Dọ) và Thái Đen (Táy Đăm).
Người Thái Trắng sống tập trung ở hai huyện Thường Xuân, Như Xuân và một
số bản giáp huyện Triệu Sơn. Người Thái Đen chiếm đa số, sống tập trung ở các
huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh... Dân số 210.908 người
(tính đến 1-4-1999).
Người Thái thường lập mường, lập bản theo sông, suối. Tên bản thường
đặt theo tên sông, tên suối, tên núi, tên đồi... nơi cư trú. Từ xa xưa, người Thái
đã biết dựa vào lợi thế tự nhiên của các thung lũng, bãi bồi ven sông để khai
khẩn thành ruộng nước, nhiều thửa ruộng tập trung thành cánh đồng phì nhiêu.
Đặc điểm của người Thái Trắng và Thái Đen về cơ bản giống nhau, chỉ
có các họ Phan, Phùng, Bàn... Nhà ở của người Dao làm theo kiểu nửa sàn, nửa
đất nhưng đến nay người Dao ở vùng thấp đã dựng nhà gần giống như nhà của
người Kinh.
Trước đây, người Dao sống du canh, du cư. Nguồn sống của bà con dân
tộc Dao dựa vào nương rẫy. Từ cuộc vận động định canh định cư, phần lớn
người Dao đã xuống núi tập trung sản xuất, vừa đa canh, vừa thâm canh. Mọi
chòm bản đều có trường lớp cho con em đi học. Tuy sống xen ghép với các dân
tộc đông người, nhưng người Dao vẫn giữ được nét riêng biệt, độc đáo của dân
tộc mình về văn hóa, lễ hội và sắc phục.
Dân cư phân bố theo các đơn vị hành chính
Theo kết quả các cuộc điều tra dân số, huyện Quảng Xương có số dân
đông nhất tỉnh trong khi huyện miền núi Mường Lát có dân số thấp nhất. So với
năm 1999, dân số của các huyện đồng bằng năm 2009 nói chung giảm đi do
thực hiện khá tốt kế hoạch hóa gia đình và do di cư đến các vùng khác trong
nước. Ngược lại dân số các huyện miền núi đều tăng lên.
Dân số các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Tên
Năm 1999 Năm 2009
Tên
14
Năm 1999 Năm 2009
Thành phố
Thanh Hóa
Thị xã
Bỉm Sơn
142.434
96.412
100.425
102.765
107.798
165.470
246.309
45.417
33.614
135.805
Ngọc Lặc
Như Thanh
Như Xuân
Nông Cống
Quan Hóa
Quan Sơn
Quảng Xương
Thạch Thành
Thiệu Hóa
Thọ Xuân
Thường Xuân
Tĩnh Gia
Triệu Sơn
Vĩnh Lộc
Yên Định
129.220
79.375
1. Tổng cục Thống kê Việt Nam. “Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và
Nhà ở 2009”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2010.
2. Tổng cục Thống kê Việt Nam. “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
1999”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2010.
Câu hỏi tự đánh giá.
Hãy nêu tên và đặc điểm sinh sống, văn hoá, phong tục của các nhóm dân
tộc chủ yếu sống trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá./.
Bài 3.
ĐỊA LÍ KINH TẾ
(2 tiết)
Mục tiêu
Giúp học viên nắm được các điều kiện tự nhiên của Thanh Hoá có nhiều
lợi thế cho phát triển các ngành kinh tế; thấy được bức tranh phát triển kinh tế
của tỉnh và những tiềm năng chưa được khai thác, từ đó xác định trách nhiệm
của bản thân trong việc góp phần phát triển kinh tế của tỉnh.
Các phương tiện hỗ trợ
Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hoá
Máy tính và máy chiếu đa năng.
15
Giới thiệu
Người ta thường nói: “Việt Nam rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”, tỉnh
Thanh Hoá như một nước Việt Nam thu nhỏ, cũng có rừng, có biển, có trung du
và đồng bằng rộng lớn, những lợi thế về tự nhiên đó đã có tác động thế nào đến
sự phát triển kinh tế của tỉnh? hiện trạng sự phát triển các ngành kinh tế của tỉnh
ta như thế nào?. Bài học hôm nay chúng ta sẽ làm rõ những vấn đề đó.
Hoạt động 1. Thảo luận theo nhóm 4
16
1) Sông Mã: dài 528 km, trong đó phần chảy trên lãnh thổ Việt Nam là
410 km. Riêng địa phận Thanh Hoá là 242 km. Các phụ lưu của sông Mã gồm
89 nhánh, trong đó có các sông, suối chủ yếu là: suối Sim, suối Quanh, suối
Xia, sông Luồng, sông Lò, Hón Nủa, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Chu,
sông Khao, sông Âm, sông Ðạt. Ðây là hệ thống sông lớn nhất Thanh Hoá,
trong phạm vi của tỉnh, lưu vực sông bao trùm tới 4/5 diện tích của toàn tỉnh.
2) Sông Yên: dài 94,2 km, trong đó có 50 km chảy qua vùng rừng, núi và
hơn 40 km chảy qua vùng đồng bằng. Diện tích lưu vực là 1.996 km2 (đồng
bằng và bán sơn địa chiếm 49,5%, diện tích ngoài đê là 107 km2, chiếm 5,3%;
diện tích rừng núi là 900 km2 chiếm 45,2% ). Sông Yên có 4 nhánh chính: sông
Nhơm, sông Hoàng, sông Lý, sông Thị Long.
3) Sông Hoạt: kể từ nguồn đến cửa sông khoảng 55 km, chảy qua hai
huyện Hà Trung và Nga Sơn. Từ cầu Cừ trở lên thường gọi là sông Man Bảo,
dưới cầu Cừ thường gọi là sông Hoạt.
4) Sông Lạch Bạng: dài 34,5 km, trong đó có 18 km chảy trên vùng đồi
núi, 16,5 km chảy qua vùng đồng bằng. Diện tích lưu vực 236 km2, trong đó
miền núi chiếm trên một nửa. Sông chủ yếu có hướng Tây Bắc - Ðông Nam,
nhưng trong vùng đồng bằng lại chạy theo hướng Tây Nam - Ðông Bắc, tạo với
hướng cũ thành hình chữ V với góc độ khoảng 1200.
Biển
Biển ở đây là những đặc trưng thiên nhiên đặc sắc của tỉnh Thanh Hoá,
nhân tố tác động thường xuyên đến nhiều hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên và
ảnh hưởng đến nhiều hoạt động xã hội.
Nước ở vùng biển Thanh Hoá nóng ấm quanh năm, vào mùa đông nhiệt độ
nước biển ít khi xuống dưới 200c, vào mùa hè nhiệt độ nước biển dao động ở
mức 25 - 270c.
Thềm lục địa, đáy biển Thanh Hoá kéo dài ra xa với địa hình tương đối
nghiệp của toàn tỉnh tăng 8,2 %, đây là mức tăng cao so với mức tăng bình quân
của cả nước là 4,6% (trong đó TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ tăng ở mức thấp
là 0,4% và 2,7%). Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công
nghiệp tập trung và phân tán. Một số khu công nghiệp:
Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn
Khu công nghiệp Nghi Sơn (nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện
Tĩnh Gia
Khu công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa
Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc Ga) - Thành phố Thanh Hóa
Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ Xuân
Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế
này được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành quy chế
hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này
nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và
đường sắt quốc gia chạy qua, có cảng biển nước sâu cho tầu có tải trọng đến
30.000 DWT cập bến. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trung tâm động lực của
vùng Nam Thanh Bắc Nghệ đang được quy hoạch, cũng được đánh giá là trọng
điểm phát triển phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng thời là cầu
nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái
Lan.
2.2. Nông nghiệp
Thống kê đến năm 2004, toàn tỉnh có 239.843 ha đất nông nghiệp đang
được sử dụng khai thác.
2.4. Ngư nghiệp
Ngư nghiệp Thanh Hóa có nhiều điều kiện phát triển
19
Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với
những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi
cho tàu thuyền ra vào. Vì vậy Thanh Hóa có điều kiện phát triển ngư nghiệp rất
tốt.
2.5. Ngân hàng
Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn
tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng
Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang
thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các công
nghệ tiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh
toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả.
2.6. Bảo hiểm
Là tỉnh có dân số đông thứ ba cả nước, Thanh Hóa được xác định là thị
trường tiềm năng ở tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện
tại trên địa bàn tỉnh có tám công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động bảo
hiểm. Các công ty bảo hiểm trên địa bàn đang không ngừng mở rộng thị trường,
tạo sự cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách
hàng.
2.7. Thương mại dịch vụ
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương mại Thanh Hóa đã có
bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán buôn, bán
lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận
tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
- Máy chiếu, màn hình để trình chiếu bản đồ, sơ đồ cũng như các hình ảnh,
tư liệu và nội dung chính bài học.
- Điều kiện cơ sở vật chất để các tổ thảo luận và trình bày.
Giới thiệu:
Qua các di chỉ khai quật trên địa bàn Thanh Hoá, các nhà khoa học đã khẳng
định con người xuất hiện trên quê hương Thanh Hoá từ rất sớm và không ngừng
phát triển, hoàn thiện từ người vượn cổ đến con người thông minh ngày nay.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử (từ thời các vua Hùng đến Cách mạng Tháng
Tám -1945), Thanh Hoá thực sự là một vùng “ Địa linh nhân kiệt” đóng góp
nhiều nhân tài, vật lực cho công cuộc xây dựng, đấu tranh giải phóng và bảo vệ
nền độc lập cho dân tộc. Trong khuôn khổ bài học 2 tiết, chúng ta chỉ tìm hiểu
từ thời Bắc thuộc đến cách mạng tháng 8 năm 1945
I. Thanh Hoá thời kì bắc thuộc và thực dân, phong kiến
Hoạt động 1: Hoạt động theo nhóm 5.
a) Những đóng góp của mảnh đất và con người Xứ Thanh trong thời kì Bắc
thuộc.
b) Khái quát những nét nổi bật về Thanh Hoá trong thời kì phong kiến tự chủ.
Những thông tin phản hồi:
1-Thời Bắc thuộc.
21
Sau thời các Vua Hùng và An Dương Vương của nước Việt cổ (Văn Lang,
Âu Lạc) là 1.000 năm Bắc thuộc (cuối thế kỉ II - đầu thế kỉ I trước Công nguyên
đến thế kỉ IX). Các vương triều Trung Hoa (Triệu, Hán, Tấn, Tề, Lương, Tùy,
Đường, Hậu Lương, Nam Hán) đã lần lượt thay nhau đô hộ nước ta, đặt các
vùng đất của lãnh thổ Việt Nam thành quận, huyện của chúng.
Đến đầu Công nguyên, người Việt cổ đã sinh sống trên khắp bốn vùng của
Thanh Hóa (vùng núi, trung du, đồng bằng, ven biển) trong bộ Cửu Chân. Thời
Xứ Thanh đã góp phần không nhỏ vào công cuộc này. Người Việt - Thanh Hóa
vẫn sống trong nhà sàn với đồ đồng, đồ gốm Đông Sơn, các nhạc cụ cồng,
chiêng, khèn... tục thờ cúng tổ tiên; lối chôn cất trong mộ vò, huyệt đất... quen
thuộc. Các ngành nghề thuở Văn Lang - Âu Lạc: làm ruộng nương, chăn nuôi,
đánh cá, làm muối, đúc đồng, đục đá, dệt vải, nghề gốm... cùng những trung
tâm tụ cư (Tư Phố - Đông Sơn, Định Công - Yên Định, Xuân Lập - Thọ Xuân,
Hoằng Quỳ, Hoằng Lý, Lạch Trường - Hoằng Hoá, Thần Phù - Nga Sơn, ...)
vẫn được duy trì. Mạnh mẽ hơn, có người Thanh Hóa còn lặn lội sang tận kinh
đô đế quốc phương Bắc vào năm 784 để tỏ rõ ý chí, khẳng định tài năng của
mình bằng khoa cử, hoạn lộ. Đó là anh em Khương Công Phụ, Khương Công
Phục người làng Cổ Hiểm, phường Sơn Ôi, nay là làng Tường Vân, xã Định
Thành - Yên Định. Hai ông đều đỗ tiến sĩ. Ông anh làm đến Gián Nghị đại phu,
ông em làm Bắc Bộ thị lang đời nhà Đường.
2 - Một nghìn năm phong kiến độc lập tự chủ.
Xứ Thanh có các tên gọi sau: Châu Ái (từ chính quyền họ Dương - 931 đến
Lý Nhân Tông - 1110). Năm 1111, Lý Nhân Tông đổi Châu Ái thành phủ
Thanh Hóa. Tên Thanh Hóa có từ đây. Năm 1256, Trần Thái Tông đổi thành
trại Thanh Hóa, đến cuối triều Trần đổi thành lộ sau đó là trấn. Tháng 4 - 1397,
đổi thành trấn Thanh Đô. Tháng 11 năm ấy, Trần Thuận Tông dời đô về Thanh
Hóa. Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, lập nên nhà Hồ định đô ở Tây Đô (Vĩnh
Long, Vĩnh Tiến - Vĩnh Lộc).
Năm 1403, nhà Hồ đổi thành phủ Thiên Xương. Sau chiến thắng quân
Minh, lập nên nhà Lê, Lê Lợi - Lê Thái Tổ chia cả nước làm 5 đạo. Thanh Hóa
thuộc Hải Tây đạo (1428). Đến 1466 gọi là đạo Thừa Tuyên Thanh Hóa. Các
đơn vị hành chính trực thuộc là huyện và châu. Đến năm 1469, Lê Thánh Tông
mới đặt thêm cấp phủ, trong phủ có huyện đối với miền xuôi và châu đối với
miền núi. Miền núi thường chỉ chia ra 3 đến 4 châu. Xứ Thanh bấy giờ gồm 4
phủ (16 huyện, 4 châu). Năm 1802, sau khi diệt vương triều Tây Sơn, Nguyễn
Ánh (Nguyễn Thế Tổ) đổi Thanh Hóa thành Thanh Hoa, là một trong 14 trấn
của Bắc Thành. Năm 1831 đổi thành tỉnh.
trên đất Thanh Hoá.
Ngày 25-6-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị
thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hàm Hạ (Đông Tiến, Đông Sơn)
được tiến hành. Chi bộ Hàm Hạ được thành lập, đồng chí Lê Thế Long được
bầu làm Bí thư. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở Thanh Hoá.
Tháng 7-1930, chi bộ đảng ra đời ở làng Phú Lợi, huyện Thiệu Hoá và Yên
Trường, huyện Thọ Xuân.
Như vậy là đến tháng 7-1930, tại Thanh Hoá đã có 3 chi bộ Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời, hội đủ điều kiện để thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt
Nam tỉnh Thanh Hoá.
Ngày 29-7-1930, tại làng Yên Trường, huyện Thọ Xuân, dưới dự chủ trì của
đồng chí Nguyễn Doãn Chấp, Hội nghị đại biểu ba chi bộ được tổ chức. Hội
nghị tuyên bố thành lập Đảng bộ tỉnh, bầu Ban chấp hành. Đồng chí Nguyễn
Thế Long được bầu làm Bí thư, đây là sự kiện đánh dấu một bước ngoặt phong
trào Cộng sản tỉnh nhà.
Sau khi Đảng bộ tỉnh thành lập, phong trào cách mạng trong tỉnh dâng lên
mạnh mẽ, các tổ chức hội lần lượt ra đời, nhưng thực dân Pháp ra sức đàn áp.
Số đảng viên toàn tỉnh đến cuối năm 1930 chỉ còn 25 người. Qua một thời gian
được sự giúp đỡ của Xứ uỷ Trung kì, ngày 1-1-1931 tại làng Hồ Thượng (huyện
Tĩnh Gia), Hội nghị BCH Tỉnh uỷ lâm thời được triệu tập, đồng chí Ngô Đức
Mậu được cử làm Bí thư.
24
Ngày 17-3-1934, Hội nghị đại biểu các cơ sở Đảng lại được triệu tập họp ở
làng Thuần Hậu, lập cơ quan ấn loát và bầu Ban chấp hành Tỉnh uỷ lâm thời và
cử đồng chí Lê Chủ làm Bí thư. Hội nghị đánh dấu một bước phát triển của
phong trào cách mạng toàn tỉnh. Nhờ có hệ thống in ấn, tuyên truyền, mặc dù
phong trào bị đàn áp dã man, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt bị sa vào tay kẻ
thù nhưng các cơ sở Đảng vẫn được duy trì, phong trào cách mạng của quần
Ngày 24-7-1945, theo lệnh của quan thầy, tri phủ Hoằng Hoá là Phạm Trọng
Bảo đã đưa lính về đàn áp phong trào cách mạng ở Hoằng Trung, Hoằng Lộc.
Lực lượng cách mạng đã đập tan cuộc khủng bố của kẻ thù. Thời cơ cách mạng
25