tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cấp trung học cơ sở môn ngữ văn - Pdf 22



SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ

MÔN NGỮ VĂN
(Lưu hành nội bộ) SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM


TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN HÈ 2014MÔN: NGỮ VĂN THCS Chuyên đề I: Đổi mới kiểm tra đánh giá và cách ra đề
môn Ngữ văn cấp THCS theo hướng đọc hiểu.
Chuyên đề II: Giải đáp và hướng dẫn về giảng dạy
phần Ngữ văn địa phương cấp THCS.


Giáo dục và Đào tạo đã tập trung chỉ đạo nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản về
tổ chức hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục trong các trường trung học. Tại công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày
07 tháng 8 năm 2013 Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học
2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều
hướng tới phát triển năng lực của học sinh; Đối với các môn khoa học xã hội và
nhân văn cần tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng
cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày
tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”.
Nhằm
góp phần hỗ trợ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cấp THCS
phát triển năng lực để thực hiện tốt yêu cầu đổi mới của giáo dục, Sở GDĐT Gia
Lai tổ chức biên soạn tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cấp THCS môn
Ngữ văn để phục vụ cho đợt bồi dưỡng thường xuyên hè năm
2014. Tài liệu biên
soạn gồm hai chuyên đề:

1
Chuyên đề 1: Đổi mới kiểm tra, đánh giá và cách ra đề mô
n Ngữ văn cấp
THCS theo hướng đọc-hiểu (20 tiết).
Chuyên đề 2: Giải đáp và hướng dẫn giảng dạy phần Ngữ văn địa phương
cấp THCS (10 tiết).
Tài liệu có tham khảo các nguồn tư liệu liên quan đến đổi mới PPDH và
đổi mới KTĐG của các tác giả trong nước và các n
guồn thông tin quản lý của Bộ
GDĐT và các tác phẩm của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai.
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn tài liệu không tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất m
ong nhận được sự góp ý của các bạn

quá trình dạy học hiện nay;
- Hệ thống hóa những nội dung cơ bản, hiện hành về kiểm tra, đánh giá;
cách thức đổi mới kiểm tra đánh giá của môn học Ngữ văn cấp THCS;
- Bổ sung kiến thức về Văn học Gia Lai (qua tài liệu, qua trực tiếp giao lưu
với một số nhà văn nhà thơ tiêu
biểu của Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai).
Về kĩ năng
- Tổng hợp và vận dụng các kiến thức về đổi mới kiểm tra, đánh giá để xác
định mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá đối với môn Ngữ văn cho từng bài,
từng chủ đề, nhóm chủ đề của m
ôn Ngữ văn cấp THCS;
- Củng cố việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn theo yêu cầu đổi mới kiểm tra,
đánh giá; bước đầu biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn
theo định hướng năng lực.
- Giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình giảng dạy phần
Ngữ văn địa phương.
Về thái độ
- Có ý thức đổi mới dạy học và kiểm t
ra, đánh giá;
- Thống nhất trong chỉ đạo và thực hiện việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập của HS đối với môn Ngữ văn.
II. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG
1. Giới thiệu về đổi mới kiểm t
ra, đánh giá trong dạy học nói chung và đổi
mới kiểm tra, đánh giá môn học Ngữ văn nói riêng.

3
2. Hướng dẫn đổi mới cách ra đề m
ôn Ngữ văn cấp THCS và đổi mới cách
đánh giá bài làm của học sinh.

hướng phát triển năng lực học sinh t
rong trường THCS vùng khó nhăn nhất, môn
Ngữ văn - Bộ GD&ĐT, năm 2014.
8. Bài giảng quản lí hoạt động dạy học và giáo dục – PGS TS Nguyễn Sĩ
Thư
9. Đề khảo sát môn Ngữ văn của PISA.
10. Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học
tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THCS - Bộ
GD&ĐT, năm
2014.
11.Văn học Gia Lai (1945 - 2010) - Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai, Nhà
Xuất bản Đà Nẵng, 2012.

xử lí thông tin về trì
nh độ, khả năng thực hiện mục tiêu đã xác định của học sinh
nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và
cho bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến bộ hơn. Kết quả của việc đánh giá
được thể hiện chủ yếu bằng điểm số theo thang điểm đã được quy định, ngoài ra

6
việc đánh giá còn thể hiện bằng lời nhận xét của giáo viên.
Kiểm t
ra và đánh giá là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau. Kiểm
tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của thông tin do hoạt động kiểm tra
cung cấp. Đánh giá là xác định mức độ đạt được của quá trình dạy học so với
mục tiêu dạy học. Kiểm tra là phương tiện và hình thức đánh giá nhằm cung cấp
thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh (H
S) thực chất là việc xem xét mức
độ đạt được của hoạt động học của HS so với mục tiêu đề ra đối với từng môn
học, từng lớp học, cấp học. Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hoá thành các
chuẩn kiến thức, kĩ năng (KT, KN). Từ các chuẩn này, khi tiến hành kiểm t
ra,
đánh giá kết quả học tập môn học cần phải thiết kế thành những tiêu chí nhằm
kiểm tra được đầy đủ cả về định tính và định lượng kết quả học tập của HS.
Kiểm tra, đánh giá có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu dạy
học: so sánh kết quả quá trình dạy học mà HS đạt được khi kết thúc
một giai
đoạn học tập (kết thúc một bài, chương, chủ đề, chủ điểm, mô đun, lớp học, cấp
học) Chuẩn KT-KN của CT giáo dục . Thực hiện chức năng này, kiểm tra đánh
giá đòi hỏi tính chính xác, khách quan, công bằng.
- Chức năng tư vấn, thúc đẩy, điều khiển:

2. Tính toàn diện
Kiểm tra đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo yêu cầu và mục
đích đề ra.
3. Tính hệ thống
Kiểm tra, đánh giá tiến hành liên tục và đều đặn theo kế hoạch nhất định,
đánh giá thường xuyên, có hệ thống sẽ thu được những thông tin đầy đủ,
rõ ràng
và tạo cơ sở để đánh giá một cách toàn diện.
4. Tính công khai và tính phát triển
Đánh giá được tiến hành công khai, kết quả được công bố kịp thời, tạo ra
động lực để thúc đẩy đối tượng được đánh giá m
ong muốn vươn lên, có tác dụng
thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt chưa tốt.
5. Tính công bằng

8
Đảm bảo rằng những HS thực hiện các hoạt động học tập với cùng một
mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực sẽ nhận được kết quả đánh giá như nhau.
2. Quan điểm chỉ đạo về đổi mới k
iểm tra, đánh giá của Bộ GDĐT
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương
khóa XI đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”.
Tại công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 8 năm 2013 Hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014, Bộ Giáo dục và
Đào tạo nêu rõ: “Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực
của học sinh; đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tiếp tục nâng cao

- Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào
là hiểu một văn bản; các y
êu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa
chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để
làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm
một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh.
Các câu hỏi phần đọc hiểu tập trung vào
một số khía cạnh như:
+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa
của văn bản, tên văn bản;
+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản;
+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng.
- Để làm tốt phần thi viết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết vận dụng
những kĩ năng viết đã học để tạo lập văn bản về một đề tài xã hội h
oặc/và tác phẩm,
trích đoạn văn học nào đó theo hướng mở và tích hợp trong môn và liên môn, tập
trung vào một số khía cạnh như:
+ Tri thức về văn bản viết (kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản, quá trình
viết), nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề văn;

10
+ Các kĩ năng viết (đúng chính tả; ngữ pháp, viết theo phong cách n
gôn
ngữ viết, sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong bài viết; lập dàn ý và phát triển
ý; bộc lộ quan điểm, tư duy một cách độc lập…);
+ Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng, hoàn
cảnh của các tình huống khác nhau (vận dụng vào thực tiễn học tập và đời sống).
- Về viết nghị luận văn học, năm 2014 vẫn sử dụng ngữ liệu l
à tác phẩm
hoặc trích đoạn nêu trong chương trình và sách giáo khoa nhưng cần đổi mới cách

- Phong trào đổi mới cách ra đề thi theo hướng mở, phát huy tính tích cực
của HS đã dấy lên ở nhiều địa phương và đã thu được những kết quả đáng kể
đáng kể.
1.2. Hạn chế
- Nhận thức về ý nghĩa của khâu kiểm tra, đánh giá ở một số địa phương,
trường học chưa đồng bộ, nhất là ở một bộ phận cán
bộ chỉ đạo chuyên môn.
- Nhiều GV còn yếu về kĩ năng kiếm tra, đánh giá như: kĩ năng xác định
mục tiêu, nội dung kiểm tra, đánh giá; kĩ năng xác định các cấp độ kiểm t
ra,
đánh giá. Chẳng hạn: bao nhiêu phần trăm là ghi nhớ, tái hiện – tức là biết; bao
nhiêu phần trăm là hiểu; bao nhiêu phần trăm là vận dụng; kĩ năng sử dụng các
hình thức, phương tiện, công cụ kiểm tra, đánh giá (trắc nghiệm, tự luận; các PP
đo lường; các phần mềm kiểm tra, đánh giá)
- Chưa phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá một cách khoa học, nghiêm
túc để thúc đẩy sự tiến bộ trong học tập của HS.
- Còn có biểu hiện của sự thiếu công bằng và thiếu công khai trong kiểm
tra, đánh giá.
Do các hạn chế trên nên việc ra đề kiểm tra còn nặng về chủ quan; việc
đánh giá còn cảm tính, chung chung, chưa thật sự gắn với mục tiêu. việc kiểm tra
chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số đã dẫn đến
tình trạng GV và HS duy trì dạy học theo lối "đọc-chép" thuần túy, HS học tập
thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức. Nhiều GV chưa vận dụng đúng
quy trình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của
người dạy. Hoạt động kiểm tra đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động
dạy học trên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học và hiệu quả.
Các hoạt động đánh giá diện rộng quốc gia, quốc tế được tổ chức chưa thật sự

12
đồng bộ hiệu quả, thậm chí còn rất xa lạ đối với một bộ phận không nhỏ GV và

Nội dung và cách thức kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn cấp THCS phải

13
tuân thủ theo hướng dẫn tại các văn bản sau:
- Chuẩn Kiến thức, kĩ năng hiện hành của Bộ GDĐT.
- Công văn số 5842/BGDĐT- VP ngày 1/9/2011 của Bộ GDĐT về việc
Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học môn Ngữ văn, cấp THCS và cấp THPT
(gọi tắt là nội dung giảm tải).
- Công văn số 872/SGDĐT- GDTrH ngày 30/9/20112011 của Sở GDĐT
Gia Lai về việc Điều chỉnh nội dung dạy học môn Ngữ văn, cấp THCS và cấp
THPT.
- Công văn số 1336/QĐ-SGDĐT- GDTrH ngày 30/9/20112011 của Sở
GDĐT Gia Lai về việc Quyết định ban hành Phân phối chương trình THCS,
THPT.
- Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30/12/2010 của Bộ GDĐT về việc
Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra.
- Công văn số 1469/ SGDĐT-GDTrH ngày 16/11/2012 của Sở
GDĐT Gia Lai
về việc Tăng cường quản lí phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
Ngoài ra, GV Ngữ văn cấp THCS nghiên cứu vận dụng Công văn số 1933/
BGDĐT-GDTrH ngày 15/4/2014 của Bộ GDĐT về việc Hướng dẫn ôn thi tốt
nghiệp THPT năm 2014 đối với môn Ngữ văn để triển khai phù hợp với việc
kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn cấp THCS.

2.3. Các bước Kiểm tra, đánh giá theo chuẩn KT-KN:
Đối với người GV, việc kiểm tra, đánh giá theo chuẩn KT-KN được tiến
hành theo quy trình 06 bước cơ bản sau:
- Bước 1: Xác định mục đích kiểm tra đánh giá
Mục đích kiểm tra, đánh giá được xác định theo chuẩn KT-KN bài học,
tiết học hoặc nhóm bài học. Cụ thể là bám sát mục I. Kết quả cần đạt trong

kể lại, viết lại theo cách hiểu của m
ình.
- Các động từ tương ứng với mức độ Thông hiểu: tóm tắt, giải thích, mô
tả, so sánh, chuyển đổi, ước lược, diễn giải, phân biệt,chứngtỏ, hình dung, trình
bày lại, lấy ví dụ, sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải theo cấu trúc
lôgic.

15
(Các hoạt động trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ Thông
hiểu: sắm
vai, tranh luận, dự đoán, cho ví dụ, diễn giải).
Vận dụng thấp: Mức độ Vận dụng thấp là năng lực sử dụng thông tin và
chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, sử dụng các kiến thức đã học
vào một hoàn cảnh cụ thể mới.
- Vận dụng thấp là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo, tức là vận dụng
những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới.
- Những hoạt động tương ứng với mức độ Vận dụng thấp: chuẩn bị, sản
xuất, giải quyết, vận hành hoặc theo một công thức.
- Các động từ tương ứng với mức độ Vận dụng thấp: giải quyết, m
inh họa,
tính toán, diễn dịch, dự đoán, áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng
minh.
(Các hoạt động trên lớp học có thể thực hiện để phát triển mức độ vận
dụng thấp: mô phỏng, sắm vai và đảo vai trò, quảng cáo, phỏng vấn, )
Vận dụng cao: (Phân tích, tổng hợp, đánh giá): Là khả năng phát hiện và
phân biệt, hợp nhất các thành phần, rút ra kết luận, phán xét các bộ phận cấu
thành của thông ti
n hay tình huống. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân tích,
phân loại.
- Những hoạt động tương ứng với mức độ Vận dụng cao: vẽ biểu đồ, lập

với đánh giá của đồng nghiệp.
- Bước 6: Xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá
Việc đánh giá kết quả bài làm của HS được tính theo thang điểm 10. Căn
cứ vào kết quả kiểm tra, có thể xếp loại HS ở các trình độ Giỏi
, Khá, Trung bình,
Yếu.
Căn cứ vào việc phân loại bài làm của HS theo thang điểm trên, đồng thời
dựa trên các nguồn đánh giá ở bước 5, GV xác định các nhóm đối tượng HS
khác nhau ở trong lớp để có biện pháp tác động phù hợp. Đây là một trong
những cơ sở quan trọng để thực hiện nguyên tắc phân hóa trong dạy học, từ đó
phát huy tính tích cực, sáng tạo của từng HS, nhóm HS.
2.4. Một số lưu ý:
- Kết hợp thật hợp lí
các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự luận và trắc
nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt ; phát huy ưu điểm và hạn chế
nhược điểm của mỗi hình thức.

17
- Đánh giá chính xác, đúng thực trạng: đánh giá cao hơn thực tế sẽ triệt
tiêu động lực phấn đấu vươn lên; ngược lại,
đánh giá khắt khe quá mức hoặc
thái độ thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí
tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
- Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của
HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót. Đánh
giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của
HS, chú trọng đánh giá hành động, tình cảm của HS: nghĩ và làm ; năng lực
vận dụng vào thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp ; quan tâm tới mức độ
hoạt động tích cực, chủ động của HS trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới,
ôn luyện cũng như các tiết thực hành, thí nghiệm.

HS,cơ sở giáo dục;thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tạo động lực đổi
mới PP dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Hạn chế chỉ ghi nhớ máy móc, không nắm vững KT-KN môn học. Trong
quá trình dạy học, cần đổi mới kiểm tra đánh gi
á bằng cách nêu vấn đề mở, đòi
hỏi HS phải vận dụng tổng hợp KT, KN và biểu đạt chủ kiến của bản thân.
- Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để đổi mới kiểm tra
đánh giá và ứng dụng trong công tác quản lý chuyên môn.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp theo nội dung của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS
tích cực” nhằm đảm bảo tính linh hoạt về hình thức dạy học, hình thức kiểm t
ra
đánh giá, rèn luyện kỹ năng hoạt động xã hội cho HS.
- Quán triệt đặc trưng của các nhóm môn học để nâng cao chất lượng dạy
học, kiểm tra đánh giá các môn học và hoạt động GD.
3. Kiểm tra đánh giá theo hướng đọc - hiểu (đọc hiểu)
3.1. Giới thiệu chung về dạy học đọc hiểu:
Hoạt động dạy học Ngữ văn trong nhà t
rường đã trải qua ba giai đoạn
nhận thức, ba mô hình thao tác: từ giảng văn qua phân tích văn học đến đọc
hiểu văn bản. Mô hình dạy đọc hiểu được triển khai đại trà ở cấp THCS từ năm
học 2002 - 2003 đối với lớp 6 và tiếp tục lên các lớp trên ở các năm học kế tiếp
và cho đến nay.

19
Cách dạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một ch
iều cho học sinh những
cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS
cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn
bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có

cầu về nội dung, nghệ thuật của văn bản nên để đáp ứng các yêu cầu của đề thi,
giáo viên cũng tập t
rung cung cấp kiến thức cho học sinh. Năng lực “hiểu văn
bản” của học sinh thường phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức của giáo viên giảng
dạy. Hầu hết giáo viên tập trung hướng đến cung cấp kiến thức cho các em học
sinh. Do đó, năng lực đọc – hiểu văn bản của các em chưa được phát huy tối đa.
Vì vậy, vấn đề đang bàn ở đây chủ yếu là dạy cách đọc cho học sinh chứ
không phải là truyền thụ kết quả đọc của ai đó, bắt học sinh học thuộc. Cái sự ép

buộc, áp đặt, phi dân chủ như vậy vẫn ngang nhiên tồn tại trong m
ôn văn, môn
học mang bản chất nhân văn là một điều thật mỉa mai.
Đọc là một hành vi thầm kín, mà kết quả thì có thể kiểm tra được. Chính
vì vậy mà người ta phải nghĩ ra những hình thức kiểm tra mới. Chẳng hạn trong
một đoạn văn, thường là đoạn văn mà học sinh chưa học trong nhà trường có độ
khó tương đương với các bài đã học. Nếu có từ mới thì phải chú thích. Yêu cầu
học sinh đọc và trả lời một loạt
câu hỏi từ 5 – 7 câu thuộc các loại câu sau:
- Giải thích một số từ ngữ trong đoạn văn. Cho một số câu giải thích, chỉ
ra câu có cách giải thích đúng.
- Giải thích ý một đoạn văn trong đó cho một cụm các cách hiểu, chỉ ra
cách hiểu sai hoặc đúng ở trong đó, hoặc tự diễn đạt cách hiểu của mình.
- Khái quát tư tưởng bà
i văn. Cho một số cách khái quát, tìm cách khái
quát đúng ở trong đó, hoặc tự viết lời khái quát.
- Trong bài văn có một chữ để trống, yêu cầu tìm từ thích hợp điền vào.
- Trích ra một ý trong bài văn, yêu cầu phát triển thành một bài văn.
Ngoài ra còn có các câu hỏi về văn học sử, tác giả phong cách, thủ pháp tu
từ… Ở đây việc đọc văn đã tích hợp tự nhiên với tri thức tiếng V
iệt và Làm văn.

(4) Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài.
(5) Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời ngắn.
(6) Câu hỏi yêu cầu học sinh dùng lập luận để thể hiện việc đồng tình hay
phản đối.

22
(7) Câu hỏi yêu cầu học sinh lập luận và suy nghĩ một cách logic dựa trên

tình huống thực tế…
- Riêng về các câu hỏi đánh giá năng lực đọc hiểu (reading literacy) được
đánh giá ở 3 cấp độ:
+ Cấp độ 1: Thu thập thông tin.
+ Cấp độ 2: Phân tích, lí giải văn bản.
+ Cấp độ 3: Phản hồi và đánh giá.
Lưu ý: Các cấp độ trên tương đương với 4 cấp độ tư duy mà Bộ GDĐT
đang triển khai thực hiện trong các văn bản Hướng dẫn đổi mới KTĐG hiện nay
(như đã nêu ở phần trên). Đó là: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng cấp độ thấp,
Vận dụng cấp độ cao. Tuy nhi
ên, nội hàm các khái niệm trên của đề thi PISA
yêu cầu có cao hơn. Cụ thể như sau:
- Nhận biết: Học sinh nhớ các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc nhận
ra chúng khi được yêu cầu.
- Thông hiểu: Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng
chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách giáo viên đã
giảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học.
- Vận dụng (ở cấp độ thấp): Học sinh có thể hiểu được các khái niệm ở
một cấp độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái
niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã được trình
bày giống với bài giảng của giáo viên hoặc trong sách giáo khoa.
- Vận dụng (ở cấp độ cao): Học sinh có thể sử dụng các khái niệm về môn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status