SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH QUẢNG BÌNH
TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
DẠY HỌC
Quảng Bình, tháng 10/2013
1
MỤC LỤC
2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC
Để giúp các giáo viên có thêm tư liệu và kiến thức về dạy học ứng dụng
công nghệ thông tin, nhóm tác giả đã sưu tầm biên soạn tập tài liệu “Một số vấn
đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”
1. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC KHI ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC
1.1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT)
Trong những năm gần đây ở Quảng Bình số lượng giáo viên (GV) sử
dụng máy tính trong việc dạy học tăng lên một cách đáng kể. Điều này đóng một
vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà. Tình hình thực tế
cho thấy, chúng ta đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của
CNTT mà trong đó phần mềm dạy học (PMDH) là một trong những tiềm năng
bởi hạn chế về trang thiết bị, tài nguyên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không ít
trường học được trang bị đầy đủ thiết bị CNTT và tài nguyên giáo dục nhưng
giáo viên vẫn ít sử dụng CNTT trong dạy học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, một trong
những nguyên nhân chính đó là CNTT mang đến một số hạn chế mới trong việc
quản lý tiết dạy của giáo viên.
Lớp học là một môi trường học tập có kiểm soát. Trong dạy học, giáo
viên thường ưu tiên hàng đầu cho việc duy trì trật tự, quản lý lớp học. Ứng dụng
CNTT vào dạy học làm hạn chế việc quản lý lớp học của giáo viên. Vì vậy,
nhiều giáo viên e ngại và không muốn áp dụng CNTT trên lớp với HV.
Theo nghiên cứu của Khaneboubi (2009), máy tính không tạo điều kiện
cho sự tham gia nói (phát biểu, thảo luận) của HV mà mang đến một số khó
khăn cho sự diễn tiến bình thường của tiết học. Phần lớn giáo viên nói rằng, khi
HV sử dụng máy tính trong lớp học, HV hướng về màn hình. Khi đó, màn hình
là tất cả đối với HV; HV thường xuyên quan tâm đến thứ khác và không nghe
giảng. Điều đó dẫn đến khó khăn hơn trong việc làm cho HV tham gia vào hoạt
động học tập mà giáo viên phát vấn, khó khăn hơn để làm cho HV nghe mệnh
lệnh sư phạm của giáo viên.
Trong lớp học bình thường, HV không làm theo yêu cầu của giáo viên sẽ
có những hành vi khác thường mà giáo viên dễ nhận biết. Tuy nhiên, khi dạy
học với máy tính thì khó khăn hơn để giáo viên nhận biết những hành vi này của
HV. Ví dụ, vẽ vời, nói chuyện hay nhìn ra cửa sổ là những hành vi giáo viên dễ
dàng nhận thấy trong lớp học thông thường thì chát (chat), chơi trò chơi trên
mạng hay gửi thư điện tử lại là những hành vi khó nhận dạng được qua ngôn
ngữ hay cử chỉ của HV. Đôi khi, màn hình máy tính làm hạn chế việc quan sát
HV trong lớp học.
Vì vậy, nếu sử dụng máy tính trong lớp học thì giáo viên phải có kỹ năng
sư phạm tốt để quản lý đồng thời màn hình và tình huống sư phạm nhằm đạt
được mục đích dạy học tại mỗi thời điểm. Hoạt động, hành vi học tập của HV
khi học với máy tính khác với lớp học thông thường. Giáo viên phải quản lý lớp
4
vấn đề bồi dưỡng, tập huấn giáo viên ứng dụng CNTT trong dạy học.
Việc bồi dưỡng giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc làm tăng sự
tự tin, mạnh dạn của giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trên lớp học (Carugati
& Tomasetto, 2002).
Nội dung bồi dưỡng không chỉ là kỹ năng sử dụng thiết bị CNTT mà
trước hết đó phải là năng lực, nghiệp vụ sư phạm trong môi trường dạy học mới
- môi trường dạy học có sử dụng CNTT.
5
Phần lớn các khóa tập huấn giáo viên sử dụng CNTT tập trung vào các
khía cạnh kỹ thuật CNTT. Giáo viên ít được tập huấn về thực hành ứng dụng
CNTT vào dạy học và kết hợp CNTT vào chương trình giảng dạy. Giáo viên
chưa được hướng dẫn làm thế nào để cải tiến, điều chỉnh, thay thế dạy học
truyền thống. Sau khi tham dự một khóa học, giáo viên vẫn không biết làm thế
nào để sử dụng CNTT để giảng dạy với HV. Không ít giáo viên đã thực hành sử
dụng CNTT trong dạy học với HV rồi lại quay lại cách dạy học cũ. Hay nói cách
khác, nhiều khóa học có rất ít tác động lâu dài đến việc tích hợp CNTT của giáo
viên trong dạy học.
Tập huấn giáo viên không phải để họ trở thành "tín đồ" của CNTT mà
giáo viên cũng cần có tư duy phê phán việc lạm dụng CNTT trong dạy học.
Giáo viên không chỉ biết ứng dụng CNTT linh hoạt với việc dạy học mà còn biết
thay đổi, cải tiến thói quen dạy học truyền thống để phù hợp với CNTT.
* Thảo luận, kiến nghị
Ở nước ta, chủ trương đưa tin học vào nhà trường đã có từ những năm 90
của thế kỷ trước. Nhiều chương trình, dự án đã được triển khai nhằm đẩy mạnh
ứng dụng CNTT trong dạy học. Không ít những mô hình đã gặt hái những thành
công về việc ứng dụng CNTT trong nhà trường. Ở đó CNTT đã thực sự được
tích hợp trong dạy học ở một số trường học. Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT
trong dạy học ở phần lớn các trường phổ thông chưa diễn ra thường xuyên, đa
Cuối cùng, việc ứng dụng CNTT trong dạy học là xu thế tất yếu. CNTT
đã và đang mang lại lợi ích to lớn cho giáo dục. Vấn đề cần ưu tiên quan tâm là
đẩy mạnh khai thác, ứng dụng CNTT một cách phù hợp trong dạy học. Hiện
nay, những tiết dạy có ứng dụng CNTT ngày càng nhiều. Việc đưa ra tiêu chí
đánh giá giờ dạy có sử dụng CNTT có thể coi như một biện pháp cần thiết và
thiết thực giúp nâng cao hiệu quả của khai thác, ứng dụng CNTT và hạn chế
việc lạm dụng CNTT trong dạy học.
1.3. Một số nguyên tắc khi áp dụng CNTT trong tổ chức hoạt động dạy học.
1.3.1. Một số nguyên tắc khi áp dụng CNTT
+ Trong dạy học, người GV cần khai thác các ứng dụng thiết thực với bộ
môn mình, phối hợp với các phương tiện dạy học truyền thống và các phương
tiện khác nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của HV để đạt được mục đích của
tiết học, bài học.
+ Chỉ áp dụng CNTT khi các phương tiện dạy học truyền thống không
đáp ứng được hoặc đáp ứng không tốt trong quá trình nhận thức của HV, tránh
lạm dụng CTNT trong quá trình dạy học.
+ Mỗi PMDH chỉ phục vụ cho việc dạy học một bài hoặc một đơn vị kiến
thức nào đó, do vậy GV cần phải xác định rõ mục đích, vị trí, thời gian và
phương pháp sử dụng PMDH trong quá trình thiết kế tiến trình dạy học.
+ CNTT cần được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức
của HV, trong đó HV với tư cách là chủ thể của hoạt động nhận thức, HV tiếp
cận được bản chất của đối tượng nghiên cứu qua sự tương tác của HV với
7
PMDH mà từ đó HV có thể tìm ra quy luật, tính chất, bản chất của đối tượng
nghiên cứu.
Vì vậy, CNTT hỗ trợ cái gì và hỗ trợ khi nào ta đều phải dựa vào yêu cầu
tổ chức hoạt động nhận thức của HV theo tiến trình dạy học của bài học đã được
soạn thảo.
8
MỘT SỐ BIỂU HIỆN LẠM DỤNG CNTT
PGS.TS Lê Huy Hoàng - Trường đại học sư phạm Hà Nội
Cách đây không lâu, các cấp quản lý giáo dục, các nhà sư phạm thường
đặt câu hỏi “liệu có thể ứng dụng CNTT trong dạy học hay không”. Ngày nay,
khi mà hầu hết nhà giáo, các nhà quản lý đều thừa nhận và bước đầu triển khai
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thì xuất hiện câu hỏi thứ hai, đó là
“làm thế nào để ứng dụng CNTT trong dạy học hiệu quả”.
Đã có nhiều bài viết bàn về quan điểm, cách thức, mô hình, phương pháp
ứng dụng CNTT trong dạy học với nhiều thuật ngữ còn tranh cãi, với những
định hướng khác nhau, và lẽ dĩ nhiên, cho những kết quả, hiệu quả khác nhau.
Bài viết này không đi theo hướng đó mà tập trung đề cập tới một số biểu hiện
“lạm dụng” CNTT trong dạy học. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp Ứng
dụng CNTT trong dạy học một cách hiệu quả và có giá trị.
Quan niệm về ứng dụng CNTT trong dạy học
Với sự hỗ trợ và thâm nhập của CNTT trong dạy học, trên thế giới đã xuất hiện
khá nhiều thuật ngữ (được sử dụng phổ biến và chính thức) mô tả về mô hình,
cách thức, hay phương pháp sử dụng CNTT trong dạy học như CBT (Computer
Based Training) – Dạy học với sự hỗ trợ của máy tính; WBT (Web Based
Training) – Dạy học dựa trên công nghệ Web; IBT (Internet Based Training) –
Dạy học dựa trên Internet; Online Learning – Dạy học trực tuyến; E-Learning
(Electronic Learning) – Học điện tử...Tại Việt Nam, các nhà khoa học cũng đã
đưa ra và làm rõ nội hàm của một số thuật ngữ như “Giáo án điện tử”; “Bài
giảng điện tử”; “Học liệu điện tử”... Dù tính chính xác của các thuật ngữ đó thế
nào thì cũng không thể phủ nhận một điều rằng, CNTT có thể can thiệp sâu và
đem lại hiệu quả to lớn tới tất cả các khâu của quá trình dạy học.
Để ứng dụng CNTT trong dạy học hiệu quả, cần thống nhất quan điểm
rằng “CNTT chỉ là công cụ, phương tiện của người giáo viên”, nó là một trong
quyết định tới chất lượng, hiệu quả của giờ dạy. Công nghệ thông tin chỉ đóng
vai trò hỗ trợ để thực hiện tốt nhất ý tưởng đó.
Hai là, “Dùng CNTT không đắt”
Với sự phát triển bùng nổ các công cụ như hiện nay, phải nói rằng CNTT
có thể thay thế hầu hết các phương tiện, thiết bị hiện có. Tuy vậy, lúc nào cũng
dùng CNTT, nội dung nào cũng dùng CNTT dễ dẫn tới hiện tượng nhàm chán,
lãng phí cơ sở vật chất, không khai thác được điểm mạnh của các phương tiện,
công cụ khác hiện đang có.
Kết luận: Hãy nghĩ đến CNTT khi các phương tiện, công cụ khác không
thực hiện được hay thực hiện với hiệu quả không cao, không tạo ra sự khác biệt
về chất và lượng.
10
Ba là, “Lạm dụng thời gian sử dụng”
Có nhiều giờ dạy, máy chiếu được sử dụng để trình diễn các sản phẩm
CNTT trong toàn bộ giờ học. Điều này vi phạm nguyên tắc “đủ cường độ” khi
sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học, dẫn tới trạng thái đơn điệu, nhàm chán và
mệt mỏi của người học. Một số khác có sử dụng các phương tiện khác kết hợp
như bảng, tranh vẽ hay mô hình, vật thật nhưng không có thói quen tạm ngắt
máy chiếu làm phân tán sự chú ý của HV trong quá trình dạy học.
Kết luận: Không nên sử dụng CNTT trong một khoảng thời gian dài, chỉ
sử dụng với những nội dung thật cần thiết và tạm ngắt máy chiếu mỗi khi không
dùng tới nó.
Bốn là, “Lạm dụng cái ảo do CNTT tạo ra”
Với sự phát triển của nhóm các phần mềm mô phỏng (simulation
softwares), dễ dàng tạo ra các môi trường ảo trong đó các thí nghiệm, thực hành
khoa học có thể được tiến hành. Trong thực tế, nhiều giáo viên lạm dụng sử
dụng các phần mềm này không chỉ ở tần suất sử dụng mà còn coi đó là đích cần
Với sự tham gia của CNTT, những nội dung trừu tượng sẽ cụ thể hơn,
tường minh hơn; những nội dung phức tạp sẽ đơn giản hơn; những thứ không
thể (nguy hiểm, đắt tiền, nhanh quá, chậm quá hay không quan sát được) sẽ trở
thành hiện hữu và có thể. Tuy nhiên, nhiều giáo viên thường có xu hướng làm
cho mọi thứ trở nên quá đơn giản, quá tường minh và quá đầy đủ thông tin. Điều
này sẽ không kích thích được HV tích cực tư duy, tưởng tượng trong quá trình
học tập còn giáo viên thì khó khăn trong việc triển khai các định hướng dạy học
tích cực. Kết quả là hiệu quả dạy học không cao.
Kết luận: CNTT nên được sử dụng theo hướng tạo ra những thách thức
vừa phải với HV, không quá khó và cũng không quá dễ.
Tám là, “Thiếu sự biến đổi thông tin”
Nhiều giáo viên thường trung thành với những thông tin trong sách giáo
khoa, tài liệu tham khảo mà chưa có sự xử lý sư phạm với những nội dung đó.
Làm như vậy sẽ xuất hiện sự trùng lặp về thông tin giữa các phương tiện khác
nhau, không tạo ra được bối cảnh học tập, dài dòng và đôi khi đơn điệu. Thực
tiễn cho thấy, trong dạy học giáp mặt, thông tin cần xử lý theo cách ngắn gọn, cô
đọng; tăng cường sơ đồ hóa nội dung; tăng cường tính tương tác, tích cực hóa
hoạt động nhận thức của người học.
Kết luận: Cần xử lý sư phạm với những nội dung được thể hiện thông
qua công cụ CNTT trong quá trình dạy học.
Chín là, “Tham khảo tài nguyên của người khác”
Tài nguyên (tranh ảnh, hoạt hình, video, âm thanh...) được coi là một yếu
tố không thể thiếu được khi sử dụng CNTT trong dạy học. Tài nguyên đó có thể
do giáo viên tự làm hay tham khảo của đồng nghiệp, tìm kiếm trên mạng. Trong
trường hợp tự tạo, tài nguyên đó chắc chắn sẽ phù hợp với nội dung bài dạy.
Nếu không, có thể tài nguyên ấy không thực sự phù hợp với bài dạy (có thể đơn
giản quá, phức tạp quá hay được thiết kế với ý đồ khác...). Do vậy, cần suy nghĩ
12
13
2. GIỚI THIỆU PHẦN MỀM XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
Multiple Choice Quiz Maker
2.1 Giới thiệu chung
Multiple Choice Quiz Maker là một bộ dụng cụ giúp người dùng dễ dàng
và tiết kiệm nhiều thời gian cho việc tạo các bài kiểm tra, bài ôn tập trên máy
tính, trên mạng nội bộ cũng như internet. Phần mềm có thể tự động tạo các trang
HTML với nhiều tùy chọn đa phương tiện giúp người dùng cá nhân hóa việc rèn
luyện kiến thức và tạo các bài học sống động và hấp dẫn hơn. Các tác phẩm do
người dùng tạo ra có thể được hợp nhất với một trang web trên mạng Internet
hoặc được thực thi như một chương trình độc lập tại nhà hay trong phòng học.
Ngoài ra củng có thể in ra giấy để làm bài kiểm tra trên lớp.
2.2 Cài đặt phần mềm
Bước 1: Cài đặt phầm mềm Microsoft.NET Framework 2.0 trở lên.
Có thể copy phần mềm có sẳn hoặc tải trên mạng internet.
14
Bước 2: Cài đặt phần mềm Multiple Choice Quiz Maker bằng cách chạy file
mcqmsetup.exe đến lúc kết thúc
Bước 3: Sau khi cài xong thì chạy file Mcreg để đăng ký phần mềm có bản
quyền theo tên và số serial như sau:
Name:
Serial: 11GR3-9EKF6-F4Z7M
15
2/ Edit
Change font: Thay đổi kích thước chữ nhập vào
Change screen color: Thay đổi mầu nền của giao diện
3/ Quix
Background Design: Thay đổi màu nền của ảnh chèn vào
Quiz font settings: Thay đổi kiểu chữ
Restore all: Khôi phục cài đặt mặc định
18
4/ Security
Password: đặt mật khẩu cho file tạo ra
Quiz time: Đặt thời gian cho một bài kiểm tra
Refresh?: ở trạng thái No để không làm lại bài được nhiều lần
5/ Template
19
Single page: Hiển thị bài trình diễn trên một trang dài theo kiểu truyền thống
Single Question: Hiển thị mỗi lần một câu
Revision: Hiển thị theo kiểu tự nghiên cứu
The Playtime: Hiển thị theo kiểu hai người cùng làm và so sánh kết quả.
LƯU Ý:
- Để chọn phương án đúng thì ta click chuột vào ô vuông bên phải mục Answer
để nó chuyển thành màu đỏ.
c) tụ điện có điện dung càng lớn
d) mạch có tần số riêng càng lớn.
21
Câu 4. Mạch dao động điện từ điều hoà gồm cuộn cảm L và tụ điện C. Khi
tăng độ tự cảm của cuộn cảm lên 2 lần và giảm điện dung của tụ điện đi 2 lần thì
tần số dao động của mạch
a) không đổi.
b) tăng 2 lần.
c) giảm 2 lần.
d) tăng 4 lần.
Câu 5. Cường độ dòng điện tức thời trong mạch dao động LC có dạng i =
0,02cos2000t(A). Tụ điện trong mạch có điện dung 5mF. Độ tự cảm của cuộn
cảm là
a) L = 50mH.
b) L = 50H.
c) L = 5.10-6 H.
d) L = 5.10-8 H.
Câu 6. Mạch dao động LC gồm cuộn cảm có độ tự cảm L = 2mH và tụ điện có
điện dung C = 2pF, (lấy π2 = 10). Tần số dao động của mạch là
a) f = 2,5Hz.
b) f = 2,5MHz.
c) f = 1Hz.
d) f = 1MHz.
Câu 7. Khi hiệu điện thế trên tụ cực đại thì năng lượng từ trường bằng không
Một mạch dao động LC lý tưởng có L=2mH, C=8µF, lấy π2 = 10. Năng lượng
từ trường trong mạch biến thiên với tần số
a) 2500Hz.
5. Nếu đề ra cần nhiều mã đề thì chọn cách trộn thứ tự các câu
Thực hiện chi tiết:
- Nhập phần tiêu đề vào ô Quiz Tittle sau đó nhập câu hỏi vào ô Question,
các phương án trả lời vào ô Answer. Trong đề này ta sẽ nhập 10 câu hỏi và 40
phương án trả lời.
- Ta nhập lần lượt từ câu 1 đến câu 10, (củng có thể copy từ file word):
Nhập tiêu đề , nhập 4 phương án trả lời, sau đó click vào ô màu đỏ bên phải để
chọn phương án đúng. Ví dụ câu 1 ta click vào phương án thứ 3
23
+ Tiếp tục với các câu khác bằng cách click vào Next (màu xanh) trên
thanh công cụ và nhập dữ liệu cho đến câu cuối cùng là câu 10
24
- Sau khi nhập dữ liệu và chọn các đáp án đúng xong ta tuỳ chọn cách
trình diễn trên máy. Vào View Quiz chọn các cách trình bày, thông thường chọn
Standard hoặc Single Questions
+ Trong điều kiện phòng máy thiếu thì ta có thể in ra giấy để cho học viên
trên giấy bài kiểm tra (hoặc bài ôn tập chữa bài tập): Vào File\Print. Trên file
xuất ra khi thực hiện lệnh in thì có thể thêm bớt, sữa chữa được.
25