Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn hà nội_luận án tiến sĩ giáo dục - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
= = = =
TRIỆU THỊ THU

QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
DẠY HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
= = = =
TRIỆU THỊ THU

QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
DẠY HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành : QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số : 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGÔ QUANG SƠN
TS. ĐÀO LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án

1.3.2. Ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học 23
1.3.3. Ứng dụng CNTT trong quản lí để hỗ trợ và khuyến khích học tập 26
1.3.4. Ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng 29
1.4. Nội dung quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học 29
iii
1.4.1. Quản lí việc ứng dụng CNTT để thiết kế kế hoạch dạy học 30
1.4.2. Quản lí ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học (hỗ trợ phương pháp
và kĩ năng dạy học của GV) 31
Quản lí việc sử dụng GADHTC có ứng dụng CNTT 31
Lập kế hoạch sử dụng GADHTC có ứng dụng CNTT 31
Tổ chức, chỉ đạo việc sử dụng GADHTC có ứng dụng CNTT 32
1.4.3. Quản lí việc ứng dụng CNTT để hỗ trợ và khuyến khích học tập 33
1.4.4. Quản lí việc ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng 37
Lập kế hoạch ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng 37
Tổ chức, chỉ đạo việc ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng
37
Kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích trên mạng
38
Kiểm tra thực hiện các hoạt động ứng dụng CNTT để khai thác các tiện ích
trên mạng theo kế hoạch đã đề ra giúp phát hiện sai sót, lệch lạc; phát hiện
những gương tốt, kinh nghiệm tốt, tiềm lực được tận dụng để được điều
chỉnh một cách kịp thời 38
1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học
tại các trung tâm GDTX 38
1.5.1. Hiệu lực quản lí chuyên môn tại trung tâm GDTX 38
1.5.2. Trình độ chuyên môn và CNTT của GV, nhà quản lí 40
1.5.3. Hạ tầng kĩ thuật CNTT tại trung tâm GDTX 41
1.5.4. Môi trường quản lí chuyên môn ở trung tâm GDTX 41
1.5.5. Đặc điểm nhận thức của học viên và trình độ tin học của học viên 41
Kết luận chương 1 42

DẠY HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC 86
THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 86
3.1. Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 86
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 86
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 86
3.1.3. Nguyên tắc chuyên môn hóa 86
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 87
3.2. Các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trung tâm
GDTX 87
v
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV về ứng dụng CNTT trong dạy
học 87
3.2.2. Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về ứng dụng CNTT vào dạy học 90
3.2.3. Xây dựng hệ thống máy tính và mạng Internet thuận lợi để phục vụ
dạy học 94
3.2.4. Chỉ đạo quy trình thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng
dụng CNTT 98
3.2.5. Quản lí hạ tầng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại, xây dựng
phòng học ĐPT 104
3.2.6. Giám đốc ra các quy định bằng văn bản từ khích lệ đến bắt buộc với
mục đích làm cho GV ứng dụng CNTT vào DH 107
3.2.7. Giám sát, kiểm tra quá trình và kết quả thực hiện việc ứng dụng
CNTT trong dạy học tại các trung tâm GDTX 109
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 112
3.4. Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 114
3.4.1. Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
114
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm về mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất
116
3.4.3. Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

GDTX

GV
Giáo dục thường xuyên
Giám đốc
Giáo viên
HV Học viên
ICT
KHCN
Công nghệ thông tin và truyền thông
Khoa học công nghệ
PPDH Phương pháp dạy học
PMDH Phần mềm dạy học
QLGD
SGK
Quản lí giáo dục
Sách giáo khoa
TBDH
THCS
THPT
Thiết bị dạy học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
XHHT Xã hội học tập
vii
XMC Xóa mù chữ
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay cùng với sự bùng nổ của CNTT, lượng tri thức của nhân loại tăng

học tập ở tất cả các môn học” [6].
2
Đặc biệt hơn cả là việc ứng dụng CNTT vào DH bước đầu đã đem lại hiệu
quả cho nên năm học 2008- 2009, Bộ GD-ĐT đã lấy tên là: "Năm học ứng dụng
CNTT". Trong chỉ thị số 47/2008/CT-BGD&ĐT cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh một cách
hợp lý việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp
dạy và học ở từng cấp học. Ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học, từng bước đổi
mới phương pháp dạy học thông qua việc thực hiện bài giảng điện tử, xây dựng cơ
sở dữ liệu điện tử cho học tập từng môn, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí
nghiệm, xây dựng thư viện bài giảng điện tử, hướng tới triển khai công nghệ học
điện tử (E-Learning); tăng cường giao lưu trao đổi bài soạn qua mạng; phát huy
tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet” [7].
Chúng ta nhận thấy, ứng dụng CNTT vào DH là xu thế tất yếu. Ngày nay
CNTT có thể được triển khai ứng dụng cho mọi cấp học, đặc biệt đối với giáo dục
thường xuyên (GDTX). Hệ thống GDTX có linh hoạt hơn về thời gian, độ tuổi, HV
có thể vừa học vừa làm, học từ xa có hướng dẫn. GDTX có vị trí quan trọng góp
phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Mục tiêu của các trung
tâm GDTX nhằm xóa mù chữ, giúp HV hoàn thiện học vấn phổ thông và có điều
kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn nghề nghiệp. Thậm chí HV sẽ tiếp tục
lựa chọn học nghề hoặc học lên các cấp cao hơn. Để đạt được mục tiêu đề ra, các
trung tâm GDTX cần phải quan tâm đến đội ngũ CBQL, GV. Bởi đội ngũ CBQL và
đội ngũ GV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo. Trong chỉ thị
40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cũng chỉ rõ: “Nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục
là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng…” [2]. Để nâng cao chất lượng giáo
dục, trước tiên cần phải quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, GV,
chương trình, phương pháp giảng dạy và đặc biệt là công tác quản lí giáo dục ở các
cở sở giáo dục hiện nay.
Đội ngũ CBQL cần phải làm tốt công tác quản lí ứng dụng CNTT để phục vụ
quá trình DH, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trung tâm

DH, quản lí tài chính, quản lí nhân sự, quản lí hành chính và quản lí công nghệ tại
cơ sở, tuân theo các yêu cầu DH và học tập thì chúng sẽ có ảnh hưởng tích cực đến
việc ứng dụng CNTT vào DH, tạo thuận lợi để ứng dụng hiệu quả nhằm nâng cao
kết quả học tập.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các trung tâm
GDTX.
6.2. Nghiên cứu thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các trung tâm
GDTX trên địa bàn Hà Nội.
6.3. Đề xuất các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các trung tâm
GDTX trên địa bàn Hà Nội.
4
6.4. Khảo nghiệm và thực nghiệm một số biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong
DH tại một số trung tâm GDTX trên địa bàn Hà Nội.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm phương pháp luận và các tiếp cận sau:
- Quan điểm thực tiễn: Xem xét việc quản lí ứng dụng CNTT vào DH tại các
trung tâm GDTX trong sự vận động, phát triển mạnh mẽ của môi trường DH hiện
đại. Đề xuất các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong DH xuất phát từ đặc điểm
và yêu cầu thực tế DH tại các trung tâm GDTX hiện nay.
- Quan điểm hệ thống: Nghiên cứu việc quản lí ứng dụng CNTT vào DH
trong mối quan hệ với các thành tố khác nhằm phát huy tối đa tác động của từng
thành tố góp phần nâng cao chất lượng DH tại các trung tâm GDTX.
- Tiếp cận chức năng quản lí: Các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong
DH tại các trung tâm GDTX được xây dựng dựa trên các góc độ quản lí. Đề tài của
chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong DH ở
góc độ chức năng quản lí.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

cao năng lực ứng dụng CNTT của GV, từ đó sẽ phát huy tối đa hiệu quả ứng dụng
CNTT trong DH tại các trung tâm GDTX.
9. Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng hệ thống cơ sở lí luận về quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các trung
tâm GDTX. Phát hiện thực trạng ứng dụng CNTT trong DH của GV và thực trạng
quản lí ứng dụng CNTT trong DH của GĐ trung tâm GDTX trên địa bàn Hà Nội.
- Đề xuất và khẳng định tính khả thi của hệ thống các biện pháp quản lí ứng dụng
CNTT trong DH tại các trung tâm GDTX trên địa bàn Hà Nội.
- Thực nghiệm biện pháp Tổ chức bồi dưỡng cho GV về ứng dụng CNTT vào DH.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị nội dung chính của luận án gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên
Chương 2: Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các
trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các
trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn Hà Nội
6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO
DỤC THƯỜNG XUYÊN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, trên thế giới, các nước phát triển như
Cộng hòa Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…đều sớm chú
trọng đến việc ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Và coi đó như là
một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia đã xây dựng
chiến lược quản lí ứng dụng CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, Anh

Các chương trình hành động về giáo dục của Đức và Ấn Độ, chính phủ các
nước này đã tin tưởng vững chắc vào việc quản lí ứng dụng CNTT trong DH như là
một phần để tạo dựng xã hội học tập. Những ý tưởng này bao gồm cả vấn đề nâng
tỷ lệ tiếp cận máy tính và Internet cho tất cả mọi người đặc biệt là những người
đang làm việc, khuyến khích các nhà chính trị và các nhà giáo dục liên kết với nhau
và có sự quan tâm hơn tới giáo dục người lớn. Sử dụng những công nghệ mới để
khắc phục những bất công bằng tồn tại trong giáo dục hướng tới xây dựng xã hội
học tập suốt đời.
Nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã thấy cần phải có quan niệm rộng về
giáo dục: giáo dục người lớn, GDTX, giáo dục không chính quy phải được coi là
một bộ phận chủ yếu, quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội
học tập suốt đời. Xã hội ngày càng phát triển thì khái niệm "xã hội học tập" và việc
phát triển một nền "Giáo dục suốt đời" càng có ý nghĩa. GDTX chẳng những giúp
cho người lớn đang làm việc luôn được cập nhật với kiến thức mới mà còn có ý
nghĩa lớn về mặt xã hội, chính trị văn hoá và góp phần xây dựng một xã hội ổn định
và bền vững. Nhu cầu học tập của người lớn ngày một tăng cao, người ta học để
biết, để làm việc tốt hơn, để tự khẳng định mình và để hoà nhập vào cộng đồng
ngày càng tiến bộ. Trong tác phẩm "Các phương pháp học của người lớn",
Malcolm S. Knowles đã đề cập đến các hình thức tổ chức hoạt động học tập, tạo
động cơ học tập cho người lớn, phương pháp học tập Trong đó đặc biệt nhấn mạnh
đến kĩ năng tự học của người lớn [93].
Năm 1991, Veronica Mc Givney và Frances Murray đã đề ra các biện pháp tiến
hành trong quá trình DH nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HV lớn tuổi bao
gồm: biên soạn và cấu trúc nội dung tài liệu học phù hợp, cung cấp tài liệu tra cứu, tăng
8
cường các TBDH hiện đại kết hợp với việc thiết kế các TBDH đơn giản rẻ tiền ở địa
phương, tăng cường tự học ở trên lớp và ở nhà
Trong cuốn sách "Adult Basic Skills" xuất bản năm 1997 [92], cuốn sách
"Adult Learning Methods" xuất bản năm 1990 [93], và Tạp chí "Adult Education and
Development" số 39, 1992; số 40, 1993; số 41, 1993; số 52, 1999 [94], đã đề cập đến

những em học sinh sử dụng SGK truyền thống. Đó là phần mềm dành cho những
em HS lớp 9 đề cập kiến thức về toán học và những kỹ năng liên quan đến số học,
mô hình và hình dạng. Nhưng phần mềm này mới chỉ đưa vào DH bộ môn toán, nếu
áp dụng cho các môn học khác thì có lẽ lại không phù hợp và hiệu quả.
Ở các nước phát triển họ đều đưa những nội dung kiến thức tin học cơ bản,
kỹ năng ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều
hình thức tổ chức khác nhau. Nhằm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ
năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ việc học tập các môn
học khác. Đồng thời trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về máy tính,
mạng internet và cách sử dụng chúng cho hiệu quả.
Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc quản lí ứng
dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo được thực hiện chưa đồng bộ. Các nước như
Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT
trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính. Với mục tiêu tích
hợp CNTT vào quá trình DH nhằm xây dựng trường học thông minh. Đối với các
nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ chính
sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng
thể về CNTT của quốc gia. Ở Thái Lan, Nhật Bản từ năm 1998 đã triển khai mạnh
mẽ việc thành lập các cơ sở GDTX. Nhưng ngay ở những nước này người ta cũng
chưa nghiên cứu sâu về vấn đề quản lí ứng dụng CNTT trong DH.
Tóm lại, để có được sự thành công về việc quản lí ứng dụng CNTT trong
giáo dục và đào tạo nói chung trong DH ở các trung tâm GDTX nói riêng cần phải
đảm bảo các yếu tố về cơ sở hạ tầng CNTT, về nhân lưc, vật lực và tài lực.
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
Có thể nói, nhu cầu học tập của học viên lớn tuổi tại các trung tâm GDTX
mang tính cá biệt cao. Tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu về GDTX được đánh
giá là chưa nhiều. Chủ yếu tập trung vào một số tác giả tiêu biểu như: Ngô Nhật
Quang [62] , Ngô Quang Sơn [66]. Gần đây có thêm các tác giả như: Nguyễn Xuân
Đường [28], Huỳnh Tam Thanh [77] Thái Thị Xuân Đào [27] Nguyễn Minh Tuấn
[75] Các tác giả đã nhận rõ mục đích học tập của người học trong xã hội hiện đại.

đều tập trung bàn về vai trò của CNTT đối với giáo dục và các giải pháp nhằm quản
lí ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH. Các tác giả như Nguyễn Quốc Hưng, Đặng
Văn Đức, Nguyễn Đức Chuy, Vương Dương Minh… đều khẳng định vai trò của
ứng dụng CNTT trong dạy học[42].
Với quan niệm CNTT nên được đưa vào sử dụng ở các cơ sở đào tạo với tư
cách là công cụ hỗ trợ công tác quản lí: Như quản lí quá trình DH, quản lí nhân sự,
quản lí kết quả học tập cũng như hỗ trợ việc xếp thời khoá biểu… Về các nội dung
này đã được một số tác giả viết trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học và trên các tạp chí
11
uy tín của ngành giáo dục như bài của Lê Hồng Sơn [64], Lưu Lâm [47], Nguyễn
Thị Thanh Bình [5], Vương Thanh Hương [37], Trần Khánh [43]…
Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người, CNTT
sẽ là phương tiện và điều kiện tất yếu để tiến hành quá trình DH đạt hiệu quả. Đã có
nhiều tác giả nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau về vai trò và những ưu
điểm nổi bật của CNTT mang lại nhằm góp phần nâng cao CLDH cụ thể như: Tác
giả Đỗ Trung Tá [67], Lê Công Triêm – Nguyễn Đức Vũ [78], Tôn Quang Cường
[13], Đào Thái Lai [46], Nguyễn Hữu Chí [15], Đỗ Mạnh Cường [12], Nguyễn
Minh Tuấn [74], Nguyễn Chí Tăng [73]… các tác giả đã đánh giá thực trạng việc
ứng dụng CNTT trong các nhà trường Việt Nam. Từ đó khẳng định việc ứng dụng
CNTT trong DH là rất cần thiết.
Các tác giả Phó Đức Hoà – Ngô Quang Sơn trong cuốn Phương pháp và
công nghệ dạy học trong môi trường sư phạm tương tác, đã đưa ra cách tiếp cận
mới về sư phạm tương tác cũng như các PPDH tích cực được thực hiện có hiệu quả
trong môi trường giàu tính công nghệ, môi trường dạy học ĐPT [33]. Chúng ta nhận
thấy, có sự hỗ trợ của CNTT đã giúp GV giảng bài hấp dẫn hơn và HS tiếp thu kiến
thức đỡ trừu tượng hơn.
Việc ứng dụng CNTT trong DH ở từng bộ môn cụ thể cũng đã được nhiều
tác giả nghiên cứu như Ngô Quang Sơn [66], Nguyễn Trọng Thọ [79], Nguyễn Thị
Ban, Trần Hoài Phương [3], Nguyễn Thanh Cảnh [11], Đặng Thị Hồng Đào [26],
Bùi Văn Nghị, Hoàng Ngọc Anh [54], Trịnh Đình Tùng [76], Trần Minh Hùng [35]

[27], Trần Minh Hùng [35], Nguyễn Minh Tuấn [75]… Các tác giả có chung một
nhận định đó là các cơ sở giáo dục bước đầu đã triển khai công tác quản lí ứng dụng
CNTT vào DH song hiệu quả còn chưa cao. Việc khai thác và phát huy hiệu quả sử
dụng CSVC, TBDH có ứng dụng CNTT còn rất thấp. Đặc biệt công tác quản lí ứng
dụng CNTT vào DH chưa được thực hiện đồng bộ, từ việc xây dựng kế hoạch tới
việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện cũng như kiểm tra đánh giá
Đến nay, chúng ta nhận thấy việc quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các
cơ sở giáo dục ở nước ta chủ yếu mới được thực hiện lồng ghép trong các hoạt động
chung khác chứ chưa thành một hoạt động chuyên sâu, khoa học.
Nhờ có CNTT đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Việc tổ
chức, triển khai ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở các trường THPT, CĐ, ĐH được
người ta xem nó như là một phương tiện DH mới, hiện đại và hiệu quả. Tuy nhiên
đối với GDTX thì đây còn là điều mới mẻ. Cần phải có thời gian nghiên cứu đầu tư
nhân lực, vật lực để triển khai mô hình này ở các trung tâm GDTX sao cho phù hợp
và nâng cao hiệu quả DH.
13
Đối với GDTX thực hiện các chương trình giảng dạy như: Tin học bổ túc
THPT, Kỹ thuật viên tin học. Chương trình ban hành vào năm 2008 nhằm đào tạo
hệ kỹ thuật viên tin học theo hình thức vừa học vừa làm. Tuy nhiên hiện nay
chương trình này vẫn chưa được áp dụng trong thực tế.
Có thể thấy rằng hiện nay quản lí ứng dụng CNTT trong DH tại các trung
tâm GDTX mới chỉ là bước đầu. Trên tinh thần chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và các Sở
GD&ĐT, một số trung tâm GDTX cũng đã bắt đầu xây dựng trang Web riêng nhằm
hỗ trợ GV và HV trong quá trình giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm. Tuy nhiên còn
nhiều hạn chế trong việc xây dựng các trang Web hỗ trợ cho học từ xa, học trực
tuyến. Hiện nay các doanh nghiệp về CNTT cũng đang quan tâm nghiên cứu phối
hợp quản lí ứng dụng CNTT vào giáo dục không chính quy thông qua việc xây
dựng các khoá học từ xa, các trang Web hỗ trợ CBQL, GV, HV… từng bước đẩy
lùi khó khăn vướng mắc trong thực tiễn.
Đối với thời đại thông tin hiện nay việc quản lí ứng dụng CNTT trong DH

tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
đời sống con người và xã hội.
1.2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Ứng dụng CNTT trong DH là quá trình ứng dụng CNTT vào hoạt động DH
một cách hợp lí. Trong quá trình DH ứng dụng CNTT phải đúng mục đích, đúng
lúc, đúng chỗ, đúng mức độ và cường độ. Ứng dụng CNTT trong DH nhằm đổi mới
PPDH.
Luật Công nghệ thông tin thì cho rằng: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng
CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an
ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của
các hoạt động này” [50].
Việc ứng dụng CNTT trong DH được biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình
thức khác nhau. Căn cứ vào hoạt động của quản lí, của người dạy và người học,
cùng với xu thế phát triển có thể phân chia ra 4 mức ứng dụng CNTT cơ bản nhất ở
trung tâm GDTX như sau:
Mức 1: Ứng dụng CNTT để thiết kế kế hoạch DH. Ứng dụng CNTT để trợ
giúp GV một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án, in ấn tài liệu Đây là khâu
vô cùng quan trọng để chuẩn bị cho quá trình đứng lớp của GV. Đây là mức ứng
dụng CNTT trong DH phổ biến nhất ở các trung tâm GDTX hiện nay.
Mức 2: Ứng dụng CNTT trong quá trình DH (hỗ trợ phương pháp và kĩ năng
dạy học của giáo viên). Ứng dụng CNTT để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó
trong toàn bộ quá trình DH. GV sử dụng một số phần mềm như MS.PowerPoint
15
hoặc Violet để giúp cho việc thiết kế bản trình chiếu, nội dung trình chiếu đẹp và
hiệu quả, tuy nhiên đây không phải là đã thiết kế được một GADHTC điện tử.
Mức 3: Ứng dụng CNTT trong quản lí để hỗ trợ và khuyến khích học tập.
GV cần sử dụng PMDH chuyên dùng để tổ chức DH cho từng bộ môn. Một số
PMDH dành cho đồ họa trắc địa, hoặc dùng để vẽ như Autocard, phần mềm Total
Video Converter 3.12 dùng để thiết kế các đoạn Video; Phần mềm Proshow Gold
4.51 dùng để thiết kế và trình chiếu các bức ảnh, các đoạn Video Clip… Cũng có

1.2.3. Quản lí chuyên môn
Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người
tiếp thu được, qua đó tạo lập để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong
phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội.
Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập,
phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên cứu và phát
triển khác). [36]
Quản lí chuyên môn đó là công tác chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện chuyên môn của các tổ bộ môn, chỉ đạo hoạt động chuyên môn của GV.
Quản lí hoạt động DH là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lí đến hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HV nhằm đạt được
mục đích DH.
Nguyễn Phúc Châu (2010) cho rằng: “Quản lí dạy học là những tác động có chủ
đích, hợp quy luật của chủ thể quản lí dạy học (hiệu trưởng) đến khách thể quản lí dạy
học (đội ngũ GV, nhân viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác) nhằm huy động
tối đa mọi nguồn lực giáo dục của nhà trường, của cộng đồng và xã hội để đưa hoạt
động dạy học đến mục tiêu (xây dựng và phát triển nhân cách người học)”. [14]
Quản lí hoạt động DH chính là quản lí hoạt động dạy của GV, quản lí hoạt động
học của HV và quản lí các điều kiện, phương tiện hỗ trợ cho hoạt động DH.
Quản lí chuyên môn ở trung tâm GDTX là những cách thức cụ thể của người
quản lí tiến hành để tác động đến đội ngũ GV nhằm mục tiêu quản lí chuyên môn
của trung tâm đề ra.
Tóm lại, quản lí chuyên môn là quản lí hoạt động DH, quản lí các hoạt động
giáo dục hỗ trợ hoạt động dạy; chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện
sinh hoạt chuyên môn của các tổ bộ môn; chỉ đạo hoạt động chuyên môn của giáo
viên.

Trích đoạn Trình độ chuyên môn và CNTT của GV, nhà quản lí Đặc điểm nhận thức của học viên và trình độ tin học của học viên Qui mô và thành tựu Đặc điểm quản lí chuyên môn ở trung tâm GDTX Thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trung tâm GDTX của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status