MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các
thầy cô giáo Khoa Tuyên truyền - Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đặc biệt
em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc đến TS. Lương Ngọc Vĩnh, người đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình em làm khóa luận.
Em xin cảm ơn Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình. Ban Tuyên giáo
Huyện ủy Cao Phong đã tạo điều kiện để em tìm hiểu thông tin tài liệu hoàn
thành khóa luận này. Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ, động viên em
trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình làm khóa luận, bản thân em dù đã cố gắng hết sức
nhưng do khả năng còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô giáo để em hoàn
thiện hơn bài khóa luận, nâng cao kiến thức cho bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2013
Tác giả khóa luận
Cao Thị Thúy
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tẳt
CNH, HĐH
CNTT
DSVH
Nxb.CTQG
tỉnh Hòa Bình đang được Sở VH – TT&DL tỉnh Hòa Bình lập hồ sơ đề nghị
công nhận là DSVH cấp quốc gia.
Tuy nhiên, bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước những đặc sắc của
văn hóa dân tộc Mường nói chung và những giá trị của không gian văn hóa
cồng chiêng nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn
trước sự biến chuyển không ngừng của xã hội. Không gian văn hóa cồng
chiêng có thể coi là món ăn tinh thần thường nhật của người Mường, vậy
sẽ ra sao nếu một ngày mai hình ảnh những chiếc cồng chiêng không còn
xuất hiện trong cuộc sống của các bản làng?
Phải chăng cần thiết phải có những phương pháp, cách thức mới,
mạnh mẽ hơn nữa để nhanh chóng kế tục, khôi phục, bảo tồn và phát triển
những giá trị văn hóa trường tồn của không gian văn hóa cồng chiêng của
người Mường trong giai đoạn hiện nay? Và công tác tuyên truyền có phải
là một công cụ, phương pháp đắc lực cho việc bảo tồn và phát huy không
gian văn hóa cồng chiêng Mường Hòa Bình hiện nay?
4
Là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa - tư tưởng của Học viện
Báo chí và Tuyên truyền và cũng là công dân đang sinh sống tại tỉnh Hòa
Bình, qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về các hoạt động của công tác
tuyên giáo cũng như thực tế ở một số địa phương trong tỉnh, tôi nhận thấy
tăng cường công tác tuyên truyền bảo tồn, giữ gìn và phát triển văn hóa
truyền thống của các dân tộc thiểu số là một yêu cầu cấp bách. Vì vậy tôi
lựa chọn đề tài “Công tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát huy
không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện
nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khi bàn về công tác tuyên truyền một trong các mặt hoạt động của cán
có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống về công tác
tuyên truyền bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc
Mường ở Hòa Bình hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và làm rõ thực trạng công
tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng
chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình, khóa luận đề ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát huy
không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện
nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công tác tuyên truyền
trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc
Mường.
+ Làm rõ thực trạng công tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát
huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền
trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa công chiêng của dân tộc
Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và
phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa
Bình.
6
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát
huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường của cấp ủy, chính
quyền, cơ quan chức năng, các cấp của tỉnh Hòa Bình từ năm 2010 đến nay.
dân tộc Mường ở Hòa Bình hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần hoàn thiện
phương thức tiến hành tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát huy không
gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.
+ Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng làm tốt
công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng
của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài kết cấu
thành 3 chương và 10 tiết.
8
B. NỘI DUNG
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác tuyên
truyền trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng
chiêng của dân tộc Mường
1.1. Quan niệm về bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng
chiêng của dân tộc Mường
1.1.1. Khái lược về không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc
Mường
1.1.1. Cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cồng chiêng của dân tộc Mường
và sau đây là một số định nghĩa cơ bản.
Theo định nghĩa của cuốn Nhạc khí dân tộc Việt, xuất bản năm 2001
thì: Cồng, chiêng là cuốn nhạc khí tự thâu vang gõ phổ biến tại Việt Nam,
đồng thời ở một số nước châu á khác cũng có. Cồng, chiêng làm bằng đồng
thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỷ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của một trung tâm lớn Hà Nội.
Không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường bao gồm các yếu
tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người
chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ cơm mới, nhà mới,
lễ thành hôn, hội đánh cá; Lễ hội sắc bùa...), những địa điểm tổ chức các lễ
hội đó (nhà sàn, rẫy, bến nước, các khu rừng cạnh các làng bản,...), v.v…
Như vậy, theo quan niệm của người Mường thì không gian văn hóa
cồng chiêng vừa là giá trị văn hóa vật thể vừa là giá trị văn hóa phi vật thể.
1.1.2. Bảo tồn và phát huy, mối quan hệ về bảo tồn và phát huy
không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường
1.1.2.1. Khái niệm về bảo tồn và phát huy
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Bảo tồn là sự giữ lại không để mất
đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục
nảy nở thêm”. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng
theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị
thay đổi, biến hóa hay biến thái”. Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này,
không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi
10
nói đến đồi tượng bảo tồn “phải nhìn là tinh hoa”, chúng ta khẳng định giá trị
đích thực và khả năng bảo tồn theo thời gian, dưới thể dạng và nhận thức khác
nhau của đối tượng được bảo tồn.
Bảo tồn là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự xuống cấp hoặc
phá hoại hay nói cách khác là bảo tồn có ý nghĩa bảo quản kết cấu một địa
điểm ở hiện trạng hãm sự xuống cấp của kết cấu đó. Như vậy, bảo tồn là tất
cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của giá trị văn
hóa nhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển lâu dài về vật chất cho giá trị văn
hóa đó và khi cần đến phải được giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại
để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội.
1.2. Công tác tuyên truyền với việc bảo tồn và phát huy không gian
văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường
1.2.1. Quan niệm về công tác tuyên truyền
Theo tiếng la tinh thì tuyên truyền là truyền bá, truyền đạt một quan
điểm nào đó. Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động
nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của người khác và định
hướng hành động của họ theo khuynh hướng nhất định. Theo đại từ điển bách
khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa. Theo nghĩa rộng,
tuyên truyền là sự truyền bad những quan điểm, tư tưởng chính trị, triết học,
khoa học nghệ thuật…nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức
xã hội, thành hành động cụ thể của quẩn chúng. Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền
là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế
giới quan nhất định phù hợp với thế giới quan ấy. Với quan điểm này, tuyên
truyền nghĩa hẹp chính là tuyên truyền chính trị, tuyên truyền tư tưởng mà
mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan
nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực xã hội của
con người.
Hồ Chí Minh cho rằng “tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân
hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Còn theo các nhà khoa học về công tác tư
tưởng thì công tác tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên
truyền, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước đến đối tượng
tuyên truyền, từ đó tạo cho đối tượng tuyên truyền có niềm tin vững chắc vào
12
sự nghiệp cách mạng và tự giác, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, nhằm
đóng góp vào sự nghiệp CNH, HĐH đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong cuốn “Nguyên lí công tác tư tưởng” (tập 1), do PGS.TS Lương
Khắc Hiếu (chủ biên) định nghĩa “Tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá
động xếp hạng, trùng tu, tôn tạo, tu bổ… Đối với các giá trị văn hóa phi vật
thể thì cần có hoạt động sưu tầm, giới thiệu, tổ chức biểu diễn…Hoạt động
không thể thiếu trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị không gian văn hóa
cồng chiêng của dân tộc Mường là công tác quảng bá, tuyên truyền nhằm tạo
ra sự đồng thuận hoàn toàn xã hội, huy động được sự tham gia của nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong toàn xã hội vào công tác bảo tồn và
phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường.
Công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng
chiêng của dân tộc Mường là hoạt động nhằm truyền bá, phổ biến những chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về giá trị văn
hóa trong quần chúng nhân dân nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy các tầng
lớp nhân dân có những hoạt động tích cực, góp phần bảo tồn và phát huy
không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường.
1.2.2.2. Vai trò của công tác tuyên truyền đối với việc bảo tồn và phát
huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường
Thứ nhất, công tác tuyên truyền góp phần phổ biến, giới thiệu đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách nhà nước về văn hóa và không gian văn
hóa với việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc
Mường.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng từ năm 1993, Thủ tướng chính phủ đã
ban hành quy định số 25/TTg về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi
mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, xác định: đầu tư 100% cho việc sưu tầm,
chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài phổ biến các sản phẩm văn hóa tinh thần
như văn hóa dân gian…
Các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng tuy đã được cụ thể hóa
trong một số văn bản nhưng điều quan trọng là phải phổ biến đến toàn thể cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bảo tồn và phát hu giá trị văn hóa là
việc lâu dài, phức tạp và gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự hợp sức và tham gia
của các ngành, nhiều tổ chức và cá nhân trong đó có cán bộ, đảng viên và
14
đông đảo quần chúng nhân dân trong và ngoài tỉnh.
15
Thứ ba, thông qua hoạt động tuyên truyền cũng hình thành ý thức,
trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng
của dân tộc Mường.
Vai trò của công tác tuyên truyền là giáo dục từng người ngoài mục
đích của tuyên truyền còn cung cấp tri thức, phổ biến giáo dục đường lối,
chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước mà còn nâng cao ý thức từ đó
tạo lập hành động tích cực trong quần chúng. Muốn bảo tồn và phát huy thì
yếu tố quan trọng là hình thành và nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi
người, mỗi cán bộ, đảng viên. Hình thành và nâng cao ý thức là một quá trình
lâu dài, đôi khi là phức tạp, quanh co, bởi mỗi chúng ta thường hoạt động
theo những nếp nghĩ tiêu cực, lạc hậu, có sẵn theo những thói quen cố hữu.
Để thay đồi nếp nghĩ tiêu cực, lọc thành những nếp nghĩ mới, ý thức mới và
nhất là những thói quen, tập quán thì không hề dễ dàng. Công tác tuyên
truyền thông qua nhiều kênh, nhiều hình thức, phương pháp khác nhau để tác
động đến đối tượng cả về lý trí và tình cảm giúp thay đổi nhận thức, tạo lập ý
thức mới và khơi dậy tinh thần và trách nhiệm trong quần chúng. Ưu điểm
của công tác tuyên truyền là một binh chủng tuyên truyền rất hùng hậu có
nhiều kênh, nhiều hình thức, nhiều phương pháp khác nhau và hơn thế lại có
thể phối hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, nhịp nhàng. Chính vì thế công
tác tuyên truyên bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng của dân
tộc Mường có thể hoàn thành và nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ,
đảng viên trong việc giữ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tạo
tiền đề cho những hành động tích cực đúng đắn về sau.
Thứ tư, góp phần xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy không gian văn
hóa cồng chiêng của dân tộc Mường.
Sau khi đất nước thống nhất 1975, đến năm 1984 Hội đồng Nhà nước
nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và
sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh. Tiếp đó, trong quá
trình Đảng và Chính phủ thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập, để
việc bảo vệ di sản văn hóa được toàn diện, đầy đủ và phù hợp với thông lệ
quốc tế, đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ lịch sử mới.
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
cũng đã xác định rằng: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản
17
văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ
và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa,
các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh”.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước đã được chính phủ và các ngành
Văn hóa thể chế hóa, triển khai đưa vào cuộc sống thông qua việc ban hành
một số văn bản nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn, phát huy
bản sắc văn hóa của dân tộc thiểu số cũng như bảo tồn và phát huy DSVH của
dân tộc.
Năm 1998, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung
ương 5, khóa VIII về việc Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Ngày 03/12/1998, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra chỉ thị số
39/1998/CT – TTg về việc đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin ở miền núi,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Một trong tám mục tiêu và giải pháp nhằm
khai thác tiềm năng, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
và đồng bào dân tộc thiểu số mà Chính phủ đưa ra đã xác định rõ: “Làm tốt
hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân
tộc thiểu số. Đồng thời với công việc sưu tầm, nghiên cứu, khai thác và giới
thiệu, cần có kế hoạch bảo tồn các công trình, địa chỉ văn hóa có giá trị tiêu
biểu ở vùng các dân tộc thiểu số (như các chùa, tháp, nhà rông, nhà dài, nhà
Không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường mang đậm những
nét văn hóa đặc sắc của người Mường nói chung và người Mường Hòa Bình
nói riêng nhưng hiện nay do tác động của nhiều yếu tố không gian văn hóa
cồng chiêng Mường có nhiều biến đổi bên cạnh những biến đổi theo xu
hướng tích cực thì có nhiều biến đổi theo xu hướng tiêu cực. Sau đây là
những biến đổi có thể dẫn đến nguy cơ đe dọa sự biến mất của không gian
văn hóa cồng chiêng của dân tộc Mường Hòa Bình hiện nay.
1.3.2.1. Biến đổi về một số trường hợp sử dụng chiêng trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình hiện nay
Những trường hợp đã hoàn toàn mai một: chiêng lệnh của lang không
còn tồn tại bởi chế độ lang đã bị cách mạng xóa bỏ từ thời kỳ trước như vậy,
vai trò của lang đã biến mất kéo theo sự biến mất của việc sử dụng lệnh cồng
chiêng của lang ví như sử dụng trong săn bắt, neo trèo, xuống đồng…
19
Những trường hợp ngày càng hiếm hoặc ít thay đổi như: chiêng cúng
thần linh, chiêng cúng linh hồn người sống, chiêng cúng tổ tiên, chiêng chúc
lễ tết, đám cưới…tuy nhiên Tỉnh Hòa Bình vẫn còn giữ lại được phần nào
những hoạt động chiêng trong một số dịp đặc biệt.
Thay vào đó là những trường hợp sử dụng chiêng nhiều hơn như: dùng
chiêng để đón khách, dùng chiêng trong các dịp lễ hội, dùng chiêng trong các
dịp lễ lớn…
1.3.2.2. Biến đổi văn hóa cồng chiêng từ góc độ quan hệ sở hữu
Từ nhà có ít chuông đến nhà có nhiều chuông: Ông Quách Văn Ực 66
tuổi ở Mường Bắp xã Xuất Hóa huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình, hiện nay có
hơn 20 chiếc chuông “xưa” đa số do ông chuộc lại của những người mua
đồng nát; Ông Bùi Văn Hày 72 tuổi, xóm Định, xã Mãn Đức huyện Tân Lạc
có 12 chiếc chiêng “xưa”; ông Bùi Tiến Xô 50 tuổi thôn 68 xã Vĩnh Tiến,
huyện Kim Bôi, thành phố Hòa Bình có 20 chiếc chiêng “xưa”.
phố. Thời điểm là các lễ hội, sự kiện lớn; thời gian trước kia là tùy thích thì
bây giờ có giới hạn thời gian trong tổ chức.
Chương trình cồng chiêng có diễn tấu: được thể hiện trong các hội văn
nghệ quần chúng, chương trình kỷ niệm lớn.
Nguyên nhân của những biến đổi trên
Tác động mang yếu tố thời gian: Những năm đầu thế kỷ XX, người
Mường tỉnh Hòa Bình còn giữ được trên 1 vạn chiếc chiêng với hàng trăm bộ
chiêng. Năm 1976, vì túng thiếu, nhiều gia đình đã bán cồng chiêng với giá rẻ
như bèo. Người mua đồng nát đã đập vụn từng chiếc rồi bỏ vào bao tải mang
đi. Sau năm 1990, kho tàng cồng chiêng tiếp tục bị chảy máu, trong đó, mất
nhiều nhất là những chiếc chiêng cổ quý giá mà không còn nơi nào đúc nữa,
có thể thấy hiện tượng chiêng bị vứt xó hay mang ra dùng với các mục đích
khác như dùng làm vung, chậu, nồi đựng thức ăn gia súc… qua lời kể của bà
Nguyễn Thị Điện, xóm Đúp, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình.
Tác động qua biến đổi môi trường và điều kiện sống của người mường:
Ngày nay với sự xuất hiện của nhiều phương tiện hiện đại phục vụ đời sống
của người dân thì yếu tố cồng chiêng không còn được coi trong nữa với suy
nghĩ của một số người dân về cuộc sống mới này. Anh Bùi Tú Cao cũng như
nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khác cho rằng, nguyên nhân chủ yếu
21
của sự mai một là do sự chuyển đổi hình thái KT - XH, tập quán sản xuất, môi
trường sống; sự bùng nổ dân số, công nghệ thông tin – truyền thông và các
loại hình giải trí mới xâm nhập. Mặt khác, sự lãnh đạo, quản lý giá trị văn hóa
cồng chiêng đôi khi ở một số nơi bị buông lỏng. Các nhà quản lý chưa nhận
thức đầy đủ những giá trị và ảnh hưởng của không gian văn hóa cồng chiêng
với cộng đồng. Do đó, thiếu sự đầu tư tương xứng để sưu tầm, nghiên cứu,
bảo tồn và phát huy, góp phần vào sự phát triển KT - XH của địa phương.
nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 230C. Tháng 7 có nhiệt
23
độ cao nhất trong năm, trung bình 27 – 290C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất,
trung bình 15,5 – 16,50C.
Là một tỉnh miền núi cộng với khí hậu thời tiết đặc thù và địa bàn cư
trú của người mường chủ yếu dọc theo các thung lũng hẹp, dọc theo các triền
sông, suối, các đồi núi… Từ địa bàn cư trú đã tạo nên cơ cấu kinh tế đậm nét
bản địa miền núi, tạo nên một cộng đồng mường khép kín, mang những nét
văn hóa riêng biệt, độc đáo, nhiều yếu tố tâm linh huyền thoại. Tuy nhiên, do
địa bàn cư trú như vậy đã tạo nên không ít những khó khăn cho công tác
tuyên truyền trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc đó ở
đây là không gian văn hóa cồng chiêng của dân tộc mường như: các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chậm đến với quần chúng nhân
dân, các phương tiện, hình thức tuyên truyền còn chưa đi đến sâu, sát quần
chúng nhân dân dẫn đến việc tuyên truyền bảo tồn và phát huy không gian
văn hóa cồng chiêng cảu dân tộc Mường gặp nhiều khó khăn đòi hỏi công tác
tuyên truyền cần có sự nâng cấp, đổi mới về phương tiện, phương pháp và
cách thức tuyên truyền đến từng đối tượng.
Tỉnh có 11 huyện, thành phố: Đà Bắc, Mai Châu, Tân lạc, Lạc Sơn, Kim
Bôi, Lương Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kỳ Sơn, Cao Phong và Thành phố
Hoà Bình với 210 xã, phường, thị trấn. Hầu như huyện nào, xã nào cũng có
cồng chiêng Mường nó là một đặc điểm văn hóa và cũng là một yếu tố thuận
lợi cho công tác tuyên truyền bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng
chiêng của dân tộc Mường được tiến hành đồng bộ và có sự phối kết hợp, trợ
giúp lẫn nhau trong tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên sự phân chia như vậy cũng gây
trở ngại cho công tác tuyên truyền vì phải tiến hành tuyên truyền ở tất cả các
huyện khó khăn cho sự phân công, phối hợp giữa lực lượng tuyên truyền, khó
khăn cho sự thống nhất, đồng bộ tuyên truyền, yêu cầu công tác tuyên truyền
độ tăng trưởng KT – XH như vậy kéo theo những xu hướng thẩm mỹ tầm
thường, những nhìn nhận lệch lạc về bản sắc cũng như giá trị văn hóa của dân
tộc đòi hỏi cán bộ làm công tác tuyên truyền phải nâng cao trình độ và kịp
thời nắm bắt thông tin để tuyên truyền ngăn chặn kịp thời những biểu hiện
lệch lạc đó nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.s
25