HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
BỘ MÔN CHẾ TẠO MÁY-KHOA CƠ KHÍ
DƯƠNG QUỐC DŨNG - NGUYỄN TRUNG THÀNH
KỸ THUẬT AN TOÀN LAO
ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG SẢN
XUẤT CƠ KHÍ
(Sử dụng cho đào tạo đại học ngành cơ khí và chuyên ngành
công nghệ chế tạo máy)
HÀ NỘI - 2013
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
BỘ MÔN CHẾ TẠO MÁY-KHOA CƠ KHÍ
DƯƠNG QUỐC DŨNG - NGUYỄN TRUNG THÀNH
KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG SẢN XUẤT CƠ KHÍ
(Sử dụng cho đào tạo đại học ngành cơ khí và chuyên ngành
công nghệ chế tạo máy)
HÀ NỘI – 2013
MỤC LỤC
2.3.1. Đặc trưng, phân loại ............................................................................ 62
2.3.2. Biện pháp phòng chống....................................................................... 66
2.4. Rung động trong sản xuất ......................................................................... 68
2.4.1. Thông số, nguồn rung ......................................................................... 68
2.4.2. Biện pháp phòng chống....................................................................... 72
2.5. Chiếu sáng trong sản xuất ....................................................................... 73
2.5.1. Tiêu chuẩn, yếu tố ảnh hưởng ............................................................. 73
2.5.2. Chiếu sáng hiệu quả ............................................................................ 76
2.6. Phòng chống bụi trong sản xuất ............................................................... 79
2.6.1. Bụi và ảnh hưởng của bụi.................................................................... 79
2.6.2. Biện pháp phòng chống....................................................................... 81
2.7. Thông gió trong sản xuất .......................................................................... 83
2.7.1. Mục đích thông gió ............................................................................. 83
2.7.2. Biện pháp thông gió ............................................................................ 84
2.8. Phòng chống nhiễm độc trong sản xuất ................................................. 84
2.8.1. Đặc tính, phân loại ............................................................................. 84
2.8.2. Tác hại của hoá chất........................................................................... 90
2.8.3. Biện pháp phòng chống ..................................................................... 93
2.8.4. Cấp cứu khi nhiễm hóa chất .............................................................. 98
2.9. Phòng chống bức xạ ion hoá .................................................................... 98
2.9.1. Phân loại và ảnh hưởng ....................................................................... 98
2.9.2. Biện pháp phòng chống..................................................................... 101
2.10. Ảnh hưởng của các điều kiện lao động khác ..................................... 102
Chương 3 KỸ THUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG .................................. 103
3.1. Yếu tố nguy hiểm, vùng nguy hiểm ....................................................... 103
3.1.1. Nguyên nhân gây chấn thương ........................................................ 103
3.1.2. Biện pháp an toàn ............................................................................ 106
3.2. Kỹ thuật an toàn cơ khí .......................................................................... 111
5
6
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp trong cả nước có xu hướng gia tăng, trong đó có nhiều vụ tai nạn
lao động nghiêm trọng làm chết, bị thương nhiều người và thiệt hại nhiều
về tài sản. Các quy định của pháp luật về huấn luyện an toàn vệ sinh lao
động ngày càng được hoàn thiện và cụ thể hơn. Các cấp, các ngành và các
doanh nghiệp đó quan tâm, chú trọng việc huấn luyện về an toàn vệ sinh
lao động. Tuy nhiên, qua điều tra về nhu cầu huấn luyện an toàn vệ sinh
lao động trong những năm qua cho thấy công tác huấn luyện về an toàn vệ sinh
lao động cũng còn nhiều hạn chế, bất cập như tỷ lệ huấn luyện còn thấp và
mang tính hình thức, số lượng giảng viên cũng thiếu và chưa được đào tạo
bài bản, phương pháp huấn luyện chưa phù hợp, chưa có những bộ giáo
trình chuẩn về các nội dung huấn luyện để phục vụ cho từng đối tượng
huấn luyện...
Giáo trình môn học an toàn lao động trong sản xuất cơ khí được biên
soạn theo đề cương môn học của Bộ môn Chế tạo máy - Khoa cơ khí- Học viện
kỹ thuật quân sự. Nội dung biên soạn được xây dựng trên cơ sở các giáo trình đã
được giảng dạy tại các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp.
Một số nội dung mới được cập nhật và thay đổi nhằm đáp ứng được yêu cầu
nâng cao chất lượng học tập của sinh viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước.
Với những tiêu chí nêu trên tác giả đã đưa vào giáo trình các nội dung
nhằm cung cấp cho sinh viên, học viên trong nhà trường, cũng như những người
chúng tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản
xuất.
Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người.
Những công cụ và phương tiện có tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại gây khó
khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động. Đối với quá trình công
nghệ, trình độ cao hay thấp, thô sơ, lạc hậu hay hiện đại đều có tác động rất lớn
đến người lao động. Môi trường lao động đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi,
thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động rất lớn đến sức
khỏe người lao động.
b, Các yếu tố nguy hiểm và có hại
Yêú tố nguy hiểm có hại là trong một điều kiện lao động cụ thể, bao giờ
cũng xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây
tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Cụ thể là:
- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ
có hại, bụi…
- Các yếu tố hoá học như hoá chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các
chất phóng xạ…
- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký
sinh trùng, côn trùng, rắn…
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian
chổ làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh…
- Các yếu tố tâm lý không thuận lợi...
9
c, Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức
năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao
động, gắn liền với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động. Nhiễm độc
10
hiện yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động… Chính vì vậy, số bệnh nghề
nghiệp hiện nay ở nước ta được giám định còn ít.
Cho đến nay, Việt Nam có 29.928 người lao động mắc bệnh nghề nghiệp
đã được cấp sổ bảo hiểm và được đền bù, trong đó hơn 75% là nhóm các bệnh bụi
phổi (bụi phổi – silic, bụi phổi bông, bụi phổi amiang, talc…), khoảng 12% là bệnh
nghề nghiệp do các yếu tố vật lý (điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh nhiễm xạ tia
X), khoảng 5 – 7% là các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp (nicotine, TNT, chì, benzen,
hóa chất trừ sâu…). Các bệnh nghề nghiệp trong nhóm nghề có tiếp xúc với yếu tố
vi sinh vật (viêm gan nghề nghiệp, lao nghề nghiệp…) được phát hiện và đền bù
còn rất ít. Thực tế số người mắc bệnh nghề nghiệp cao hơn rất nhiều, do đa phần
các cơ sở sản xuất không khám bệnh nghề nghiệp và hơn nữa lực lượng bác sĩ
chuyên ngành sức khỏe nghề nghiệp còn quá mỏng so với nhu cầu thực tế của nước
ta hiện nay.
Giai đoạn 2007 – 2010 Bộ Y tế đã nghiên cứu xây dựng 04 mô hình phòng
chống bệnh nghề nghiệp: Mô hình phòng chống bệnh bụi phổi – silic, bệnh điếc
nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh sạm da nghề nghiệp, bệnh viêm gan vi rút nghề
nghiệp và các mô hình này đã được áp dụng và nhân rộng trên nhiều tỉnh trên toàn
quốc và bước đầu thu được các kết quả khả quan.
Trong thời gian tới thực hiện chương trình Quốc gia về An toàn Vệ sinh
lao động gia đoạn 2012 – 2015, Cục Quản lý Môi trường Y tế hoàn thiện dự thảo,
trình Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quyết định bổ sung thêm 3 bệnh nghề nghiệp mới
cần đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, đó là bệnh sốt rét nghề
nghiệp, bệnh bụi phổi – Talc nghề nghiệp và bụi phổi than nghề nghiệp tăng cường
nghiên cứu. Bệnh da dị ứng nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và các hóa
chất phụ gia đã nghiên cứu xong và dự kiến xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán và tiêu
chuẩn giám định vào năm 2012.
Các bệnh nghề nghiệp được ưu tiên nghiên cứu là các bệnh có số lượng lớn
3. Bệnh nhiễm độc Hg và hợp chất của Thuỷ ngân
4. Bệnh nhiễm độc Mangan và hợp chất của Mangan
5. Bệnh nhiễm độc TNT (trinitrotoluen)
6. Bệnh nhiễm độc Asen và hợp chất Asen
7. Bệnh nhiễm độc Nicotin nghề nghiệp
8. Bệnh nhiễm độc hoá chất, thuốc trừ sâu nghề nghiệp
9. Bệnh nhiễm độc cacbon monoxit nghề nghiệp
10. Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp
11. Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân
Nhóm IV: Các bệnh về da nghề nghiệp
12
1. Bệnh sạm da nghề nghiệp
2. Bệnh loét dạ dày, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc
3. Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp
4. Bệnh nốt dầu nghề nghiệp
Nhóm V: Các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp
1. Bệnh lao nghề nghiệp
2. Bệnh viên gan do virus nghề nghiệp
3. Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira nghề nghiệp.
4. Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa, tính chất
a, Mục đích của công tác BHLĐ
Mục tiêu của công tác BHLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ
thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại được
phát sinh trong quá trình sản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi.
Ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối
với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng người
lao động
2. BHLĐ mang tính khoa học kỹ thuật( KHKT)
Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại,
phòng và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở
của KHKT. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh
giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống
ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công
tác bảo hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng
tia gamma (γ), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ
thì không thể có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an
toàn khi sử dụng cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu
mà còn nhiều vấn đề khác như sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện,
tốc độ nâng chuyển...
Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải
mái, muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết
nhiều vấn đề tổng hợp phức tạp không những phải hiểu biết về kỹ thuật chiếu
sáng, kỹ thuật thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá... mà còn cần phải có các kiến
thức về tâm lý lao động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động...Vì vậy công
tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp.
14
3. BHLĐ mang tính quần chúng
Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là
đối tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công
tác BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác.
BHLĐ có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Công nhân
là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui
ráp cơ khí. Yếu tố gây chấn thương bao gồm rơi ngã, điện giật, vật rơi, vùi dập,
mắc kẹt giữa vật thể.
b, Nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ
Theo thống kê của cục ATVSLĐ, tại thời điểm 6 tháng đầu năm 2010,
nguyên nhân xảy ra TNLĐ được đề cập đến.
Hình 1-1. Số ca tai nạn lao động trong sản xuất năm 2009
1. Về phía người sử dụng lao động
Bảng 1-1
Tỷ lệ, Tổng số vụ
TT
Nguyên nhân
Số vụ
báo cáo
Không huấn luyện về an toàn lao động cho
1
270
5,26%
người lao động
2
Thiết bị không đảm bảo an toàn
349
6,8%
3
Không có thiết bị an toàn
145
2,83%
Không có quy trình, biện pháp an toàn lao
4
225
Số vụ
Bảng 1-2
Tỷ lệ/ Tổng số vụ
báo cáo
1514
29,54%
258
5,03%
177
3,45%
3.Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước
- Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực Bảo hộ lao động, ATLĐ
hiện nay là khá đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều quy định đặt ra nhưng không có chế tài
ràng buộc, xử lý hoặc chế tài chưa đủ mạnh dẫn đến tình trạng người sử dụng lao
động, người lao động cố ý không chấp hành.
- Trong những năm gần đây, mặc dù lực lượng thanh tra lao động đã
được bổ sung, nhưng chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các doanh
nghiệp cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, kinh doanh, do vậy không thể thanh
tra việc chấp hành pháp luật về An toàn - Vệ sinh lao động ở nhiều cơ sở (nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ), nên chưa kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ
TNLĐ nghiêm trọng đã xảy ra.
- Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và
thành một ngành kinh tế với chi phí đáng kể thì sự khiếm khuyết trong lý thuyết
kinh điển ngày càng bộc lộ rõ nét. Tuy vậy, vấn đề này có thể xử lý từng phần
mà không cần đến sự thay đổi về lý thuyết, bởi vì nhu cầu về môi trường được
thể hiện bằng việc gia tăng giá cả các yếu tố sản xuất là “ phương tiện sản xuất”
và là “ nguyên nhiên vật liệu”. Ngay trong bản thân giá cả của một yếu tố sản
xuất như yếu tố lao động cũng có thể chứng minh một cách gián tiếp là hiệu ứng
“ môi trường”. Ví dụ : vì lý do ô nhiễm không khí trong nơi sản xuất cho nên số
người ốm đau tăng được thể hiện bằng việc tăng chi phí trong quĩ lương và do đó
giá thành sản phẩm tăng. Như vậy, hiệu ứng ngoại vi ở đâu ra phát sinh? Đó là
việc người không gây ô nhiễm không khí cũng phải gánh chịu sự tăng giá thành
của sản phẩm.
Hiệu ứng này cũng có giá trị đối với yếu tố sản xuất khác, bởi lẽ đó cũng
có hiệu ứng ngoại vi tác động đến. Giá cả tăng là do các điều kiện môi trường đã
đụng chạm đến tất cả những người có nhu cầu về “ đầu vào” và nó không phụ
thuộc vào mức độ và thể thức của nhu cầu về môi trường trong sản xuất mà do
các yếu tố đầu vào mang lại. Hiệu ứng ngoại vi càng lớn thì yêu cầu về môi
trường trong sản xuất sẽ là một yếu tố có trong xây dựng giá thành sản phẩm
càng tăng.
18
Hoặc càng làm giảm hiệu lực của ý nghĩa cải tiến sản xuất để giảm giá
thành. Điều này có giá trị ở mức độ tối thiểu là chi phí ngoại vi của yêu cầu môi
trường sẽ được thực hiện theo nguyên tắc “ cùng gánh chịu” và nó được phân bổ
cho các đối tượng có liên quan. Có một điều không dễ làm được đó là chi phí
ngoại vi của chủ thể kinh tế này gây tác động môi trường được phân bổ cho chủ
thể kinh tế khác mà từ đó dẫn đến sự thay đổi về kết cấu chi phí.
Đứng trên phương diện tổng thể của nền kinh tế thì các tài nguyên thiên
nhiên của môi trường đã từ lâu không còn là sản phẩm tự do nữa. Tuy vậy, để nó
nhiên trong quá trình kinh tế được giới thiệu trong hệ thống đầu vào kinh điển
như là nguyên liệu và phương tiện sản xuất.
Thế nhưng, nhu cầu về môi trường được tính đến trong giá thành sản
phẩm được lưu ý đến mức độ nào thì vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Song có thể
mạn phép cho rằng xu hướng là tuỳ thuộc vào chi phí trong khai thác và nó được
coi như thang để tính giá thành chứ không phải là dự toán về sự khan hiếm hay
thực chất nó là nhu cầu của môi trường.
Việc sử dụng môi trường cho đến nay chủ yếu vẫn là không mất tiền (
không chi phí ). Chỉ có điều là chi phí cho việc khai thác ngày càng tăng do đã
mất sự dồi dào về nguồn dự trữ, chi phí cao lên do sự điều chỉnh đền bù và phần
nhiều do các yêu cầu trách nhiệm của các biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn chặn
hay giảm thiệt hại. Ngoài ra, còn có chi phí cho nhu cầu môi trường là đất, là
cảnh quan, là không khí, là nước , v.v.. để tiếp nhận chất thải của sản xuất và tiêu
dùng. Tất cả các cái đó đã làm tăng các yêu cầu lên và với nó là chi phí. Ví dụ:
- Tăng yêu cầu về xử lý chất thải rắn trong đó có chất thải đặc biệt hoặc
nguy hại, kỹ thuật xử lý.
- Tăng yêu cầu về xử lý nước thải ( hệ thống kỹ thuật để xử lý, lệ phí xử
lý).
- Tăng yêu cầu trong việc xử lý khí thải và tiếng ồn.
Tuy nhiên, trong khai thác yếu tố đầu vào và trong việc tận dụng môi
trường là nơi tiếp nhận các loại chất thải vẫn chưa được đưa vào sổ sách kế toán
bởi vì còn sự chênh lệch giữa từng vùng lãnh thổ giữa các quốc gia.
b, Môi trường là nơi tiếp nhận đầu ra
Trong phần trước đã nêu lên chức năng của môi trường là “ Nguồn cung
cấp yếu tố đầu vào”, là phương tiện sản xuất và nguyên liệu thì đồng thời môi
trường cũng làm nhiệm vụ là nơi tiếp nhận đầu ra. Trong bảng cân đối về nguyên
nhiên vật liệu và năng lượng của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp thì phế
liệu và chất độc hại là đầu ra. Theo nhận thức của học thuyết kinh tế doanh
nghiệp thì phế thải và chất thải độc hại thuộc danh mục đầu ra không mong
muốn. Đó là : chất thải ở dạng rắn, lỏng, khí, phóng xạ, tiếng ồn, sự toả nhiệt và
kiện bảo hiểm trên cơ sở luật pháp và sự chịu trách nhiệm.
1.2.2. Đặc điểm môi trường
a, Môi trường là sản phẩm tự do
Ở góc độ kinh tế doanh nghiệp thì môi trường được coi là một sản phẩm
tự do, nếu như việc sử dụng nó không phải chi phí. Điều đó cũng có giá trị, nếu
như nó gây nên chi phí chung cho nền kinh tế và để điều chỉnh thiệt hại đó, nó
được điều tiết qua thuế và các loại lệ phí và như vậy, chi phí được phân bổ lại
21
cho các đối tượng chịu thuế và chi phí. Thế nhưng, như trong mục 1.4.2 để giải
trình giá thành của các yếu tố kinh điển cơ bản tăng lên với sự khan hiếm của yếu
tố môi trường, thì đó là kết quả của quá trình phân bổ chi phí. Nguyên nhân của
nó là chi phí cần thiết để bảo vệ môi trường, như lệ phí, chi phí theo yêu cầu cụ
thể và chi phí cho rủi ro ngày càng tăng.
b, Môi trường là sản phẩm của cộng đồng
Một thực tế là đại bộ phận sản phẩm của môi trường là sản phẩm của
cộng đồng. Điều đó dẫn đến việc sản phẩm đó không chia được và cũng không
bán được. Người ta có thể tự nguyện tham gia để tạo ra nó. Bởi lẽ, người nào
cũng có thể sử dụng sản phẩm cộng đồng đó, về nguyên tắc là không cấm đoán,
do đó người ta đã sử dụng tuỳ ý mà không cần phải đóng góp chi phí. Chính vì
thế môi trường không có nhu cầu và vì vậy nó cũng không có thị trường.
Đặc tính đầu vào của môi trường là nơi tiếp nhận đầu ra không mong
muốn, là sử dụng môi trường để tiếp nhận đầu ra không mong muốn cũng giống
như việc sử dụng môi trường làm đầu vào, bao gồm các chất hữu cơ và vô cơ và
các yêu cầu về đất, nước, không khí và cảnh quan cho sản xuất. Song cái đó là
một tiềm năng có hạn và như vậy, nếu xem nó là một sản phẩm thì đó cũng là
một sản phâm khan hiếm, điều mà cho đến nay người ta vẫn thường bỏ qua. Bên
cạnh thực tế là nó không gây nên chi phí cho một ngành kinh tế nào cho nên
người ta đã không nhìn nhận được đặc tính đầu vào của môi trường là nơi tiếp
năng tái tạo hô hấp của môi trường thiên nhiên, thì nó mới gây nên chi phí về sự
khan hiếm. Ví dụ: khai thác gỗ trong rừng, chất thải hữu cơ trong nước và đất,
đánh bắt cá, săn bắn...
Khác với sự khan hiếm định suất là nhu cầu về môi trường mà trong đó,
sự tái tạo thiên nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một khoảng thời gian rất dài
và cũng có khi là không thực hiện đuợc, trong khan hiếm tích tụ thì yêu cầu của
môi trường có khác và về bản chất, nó là một quá trình không tái tạo lại được. Ví
dụ : ở đây là việc khai thác nguyên liệu khoáng sản và nguyên liệu hoá thạch (
kim loại, dầu mỏ, than) và trả lại thiên nhiên những chất thải trong đó có chất độc
hại như: kim loại nặng, tia xạ, …
1.2.3. Tầm quan trọng bảo vệ môi trường
a, Bảo vệ môi trường là tiêu chí của mục tiêu lợi nhuận
Các biện pháp nhằm tránh được ô nhiễm môi trường đối với các đơn vị
kinh tế được thể hiện là chi phí tăng lên về lâu dài là việc giảm doanh thu thì việc
thực hiện nó chỉ còn trông chờ vào việc lãnh đạo doanh nghiệp có mục tiêu kinh
tế là “ Giữ gìn môi trường”, hay thông qua chính sách về trách nhiệm của nhà
nước để hình thành các mục tiêu lợi nhuận khác.
Không kể trường hợp vi phạm luật pháp thì mục tiêu có thể được diễn
đạt là “ Sự trì hoãn các biện pháp bảo vệ môi trường”. Một giải pháp thay thế có
thể tránh né được nhưng không nhất thiết phải phù hợp hơn với môi trường. Như
23
vậy có thể áp dụng các biện pháp, ít có trong lĩnh vực qui phạm hay có thể tận
dụng được kẽ hở của luật pháp. Cụ thể thường là hình thức tránh né nấp dưới
dạng chuyển địa điểm, thay thế nguyên liệu- năng lượng và công nghệ, cũng như
qua quá trình chuyển hoá. Bên cạnh đó còn có sự lẫn tránh bằng cách chuyển
giao hình thức mục tiêu vật chất mang đặc tính sinh thái sang người thứ ba.
“Điều đó nói lên là các biện pháp kinh tế chất thải không được làm cho
môi trường về tổng thể của nó bị ô nhiễm nặng nề hơn so với sự ô nhiễm mà phế
mục tiêu kinh tế. Điều đó được thể hiện ở hai khía cạnh:
- Cải thiện doanh thu thông qua:
+ Thị trường mới.
+ Sản phẩm mới.
- Giảm bớt chi phí thông qua:
+ Tiết kiệm vật tư ( khối lượng ít hơn, giá cả thuận hơn), năng lượng.
+ Tiết kiệm phụ liệu.
- Cải tiến qui trình thao tác thông qua:
+ Phế liệu và phát thải, nội dung này đạt được thông qua: Chu trình, sự
thay thế, phương pháp và công nghệ mới. Ví dụ: Làm sạch nước thông qua lọc
nước thải trong chu trình công nghệ, chuyển đổi việc cung cấp năng lượng từ dầu
mỏ sang khí đốt, giảm định mức hư hao trong quá trình sản xuất, sử dụng lốp xe
cũ để tiết kiệm năng lượng trong sản xuất xi măng, có thiết bị tái sử dụng nhiệt
dư thừa, có phương pháp làm sạch khác không tiêu hao nước và không có nước
thải, có thiết bị đầu nối nhiệt lực với phế liệu của bộ phận chế biến gỗ.
Bên cạnh những biện pháp ngắn hạn chỉ nhằm tăng doanh thu và giảm
chi phí thì các biện pháp trung hạn và dài hạn cần phải quan tâm đến biện pháp
bảo vệ môi trường và nó cho thấy sự hữu hiệu của các biện pháp đó nằm trong kế
hoạch dài hạn.
Để có được một giải pháp tốt tạo nên một môi trường lao động phù hợp
cho người lao động, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành khoa học, được dựa
trên 4 yếu tố cơ bản sau:
- Ngăn chặn và hạn chế sự lan tỏa các yếu tố nguy hiểm và có hại từ
nguồn phát sinh. Biện pháp tích cực nhất là thay đổi công nghệ sản xuất với các
nguyên liệu và nhiên liệu sạch, thiết kế và trang bị những thiết bị, dây chuyền sản
xuất không làm ô nhiễm môi trường...
- Thu hồi và xử lý các yếu tố gây ô nhiễm.
- Xử lý các chất thải trước khi thải ra để không làm ô nhiễm môi trường.
- Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân.
25