Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tạiCông ty Cổ phần Dược phẩm Yên Bái - Pdf 34

Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

LỜI MỞ ĐẦU

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải
ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định phù hợp với qui mô và điều kiện kinh
doanh. Vậy vốn kinh doanh không chỉ là tiền đề kiên quyết đối với sự ra đời của
doanh nghiệp mà nó còn là một trong các yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá
trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường hiện
nay, các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và vượt qua nhiều
thử thách, đặc biệt là phương thức tạo lập vốn và đổi mới cơ chế quản lý vốn để
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được. Việc giải quyết hai vấn đề trên
thực chất là đi tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thích ứng với từng
loại hình doanh nghiệp cụ thể.
Thực tế hiện nay là nhiều doanh nghiệp còn lúng túng trong việc huy
động và sử dụng vốn, đặc biệt là vốn lưu động khiến hoạt động sản xuất kinh
doanh kém hiệu quả, không bảo toàn và phát triển được doanh nghiệp. Đây là
vấn đề bức xúc đặt ra đối với các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Yên Bái, được sự
giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, phòng kế toán và ban lãnh đạo Công
ty, em đã từng bước làm quen và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn cũng như học
hỏi và trao dồi kiến thức bản thân. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của vốn kinh
doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng, em đã nghiên cứu và hoàn thành đề
tài luận văn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
Công ty Cổ phần Dược phẩm Yên Bái”.

1


KẾT LUẬN.........................................................................................................87

3


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1.1. Doanh nghiệp và vốn của doanh nghiệp.
 Doanh nghiệp:
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường,
trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và sản
lượng của hàng hóa, dịch vụ. Nền kinh tế thị trường chứa đựng các chủ thể:
Chính Phủ, doanh nghiệp và các hộ gia đình. Trong đó, doanh nghiệp có vai trò
to lớn trong sự hoạt động và phát triển của nền kinh tế. Theo điều 4 Luật doanh
nghiệp 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Khái niệm trên cho thấy, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp diễn ra trên các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ là để sản xuất ra
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho người tiêu dùng nhằm mục tiêu thu
được lợi nhuận. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp ba yếu tố
đầu vào: Sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Để có được ba

thành hai loại: Vốn cố định và Vốn lưu động.
+ Vốn cố định: Để hình thành các TSCĐ đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu
tư ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định; lượng vốn tiền tệ này được gọi là
vốn cố định của doanh nghiệp. Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng
trước để hình thành nên TSCĐ mà đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần
dần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái
sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị.
+ Vốn lưu động: Vốn lưu độngcủa doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình
thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
1.1.2. Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động.
a, Khái niệm vốn lưu động.
Để hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ngoài tài sản cố
định, doanh nghiệp còn cần phải có tài sản lưu động trong dự trữ sản xuất và
trong lưu thông. Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp
phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này
được gọi là vốn lưu độngcủa doanh nghiệp.
5


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo
cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên liên
tục. Vốn lưu độngchu chuyển toàn bộ giá trị trong một lần và được bù đắp toàn
bộ khi doanh nghiệp kết thúc chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu độngcũng hoàn thành
một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Tài sản lưu động


Đặc điểm của TSLĐ và đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động đã chi
phối đến công tác quản lý sử dụng vốn lưu động. Muốn quản lý và sử dụng hiệu
quả vốn lưu động, chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
+Phân bổ vốn lưu động ở các khâu kinh doanh hợp lý, trong mỗi khâu
kinh doanh lại được chia ra nhiều thành phần nên công tác quản lý phải chặt chẽ
đến từng khâu, từng thành phần.
+Phải đảm bảo hiệu quả sử dụng và khả năng thu hồi vốn cao.
+Vốn lưu độngđược luân chuyển theo từng vòng tuần hoàn liên tiếp nên
mục tiêu của doanh nghiệp là phải tăng được vòng quay của vốn để tăng hiệu
quả sử dụng vốn lưu động, muốn vậy thì sản phẩm làm ra phải tiêu thụ được
trong thời gian ngắn nhất để đảm bảo thu hồi được vốn và thanh toán các khoản
nợ và các chi phí bán hàng cần thiết và đạt được chu kỳ kinh doanh như mong
muốn.

 Vai trò của vốn lưu động.
Vốn lưu động có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, Vốn lưu động là một bộ phận trong cơ cấu nguồn vốn
kinh doanh, để tiến hành sản xuất kinh doanh nhất thiết phải có vốn lưu động.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái
sản xuất. Trong cùng một lúc, vốn lưu độngcủa doanh nghiệp được phân bổ ở
các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau.Do đó,
muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn
đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, khiến cho các hình thái có
được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy sẽ tạo điều kiện cho
chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuân lợi, góp
phần tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu
động và ngược lại, nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn
sẽ gặp khó khăn và quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn.
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của

phẩm, vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ vào giá trị sản phẩm tiêu
thụ. Đặc điểm này quyết định sự vận động của vốn lưu động.
Phù hợp với đặc điểm trên của TSLĐ, vốn lưu độngcũng không ngừng
vận động qua giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này được diễn ra thường xuyên, liên tục và lặp đi lặp lại theo chu kỳ
và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua một chu
kỳ sản xuất, vốn lưu động đã hoàn thành một vòng chu chuyển.
8


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

Sự chu chuyển của vốn lưu động trong doanh ngiệp sản xuất được thể
hiện qua sơ đồ sau:
T-H…sản xuất…H’ - T’
+Giai đoạn 1: T –H
Bắt đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dưới hình thái tiền tệ ứng trước
được dùng để mua sắm các đối tượng lao động dự trữ cho sản xuất. Như vậy, ở
giai đoạn đầu vốn lưu động chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư
hàng hoá.
+Giai đoạn hai: H…….SX ……H’
Giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành sản xuất khi có yếu tố đầu vào, các
vật tư hàng hoá dự trữ được đưa dần vào phục vụ sản xuất, qua quá trình sản
xuất các sản phẩm được tạo ra, vốn lưu động đã vận động liên tục và chuyển đổi
các hình thái khác nhau và cuối cùng chuyển sang hình thái vốn thành phẩm.
+Giai đoạn ba: H’…….T’
Hàng hoá được bán ra doanh nghiệp thu được tiền về và vốn lưu động đã
từ hình thái vốn thành phẩm chuyển sang hình thái vốn tiền tệ. Kết thúc giai

độngcủa doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông thường có những
cách phân loại sau đây:
a, Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh,
vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành các loại chủ yếu sau:
Vốn lưu độngtrong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản:
+ Vốn nguyên, vật liệu chính.
+ Vốn vật liệu phụ.
+ Vốn nhiên liệu.
+ Vốn phụ tùng thay thế.
+ Vốn vật đóng gói.
+ Vốn công cụ, dụng cụ nhỏ.
Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất bao gồm các khoản sau:
+ Vốn sản phẩm đang chế tạo.
+ Vốn về chi phí trả trước.
Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm các khoản sau:
+ Vốn thành phẩm.
+ Vốn bằng tiền.
+ Vốn trong thanh toán: gồm các khoản phải thu và các khoản tạm ứng
trước phát sinh trong quá trình mua vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.
+ Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn,…
b, Căn cứ vào hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn.

10


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

11


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

+ Vốn vật đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói
sản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+ Vốn công cụ dụng cụ: là giá trị các loại công cụ, dụng cụ không đủ tiêu
chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh.
+ Vốn sản phẩm đang chế: là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất
kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (giá trị
sản phẩm dở dang, bán thành phẩm)
+ Vốn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng có tác dụng cho nhiều chu kì sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết
vào giá thành sản phẩm cho kì này, mà được tính vào giá thành phẩm cho các kì
tiếp theo như chi phí cải tiến kĩ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm,…
+ Vốn thành phẩm: là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt
tiêu chuẩn kĩ thuật và đã được nhập vào kho.
Trong doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị
các loại hàng hóa dự trữ.
1.1.4. Kết cấu vốn lưu độngvà các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu
động.
 Kết cấu vốn lưu động.
Kết cấu vốn lưu động là tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm
trong tổng số vốn lưu động.
Nhờ có các cách phân loại vốn lưu động mà ta có thể tính được kết cấu
vốn lưu động. Các doanh nghiệp khác nhau thì cũng sẽ có kết cấu vốn lưu động
không giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp

nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và
khối lượng vật tư cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại
vật tư cung cấp. Các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại vật tư khác nhau của
các đơn vị bán hàng khác nhau nên khoảng cách giữa doanh nghiệp với đơn vị
bán hàng xa hoặc gần, kỳ hạn bán hàng, chủng loại, số lượng, giá cả phù hợp
với yêu cầu sẽ ảnh hưởng tới tỷ trọng vốn lưu động bỏ vào khâu dự trữ.
Có thể nói, mỗi nhân tố trên đều có ảnh hưởng nhất định tới kết cấu vốn
lưu động của doanh nghiệp. Do vậy các doanh nghiệp cần có những phương
thức quản lý, sử dụng vốn hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp.
1.1.5. Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu
động.
13


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

Có nhiều nguyên nhân khác nhau giữa các thời kỳ khác nhau trong chu
kỳ kinh doanh mà doanh nghiệp cần xác định nhu cầu vốn lưu động thường
xuyên cũng như vốn lưu động tạm thời để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản
xuất ổn định và phát triển.
a, Nhu cầu vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp là một bộ phận vốn để
trang trải việc hình thành một bộ phận các tài sản lưu động tạm thời (là những
tài sản hình thành không có tính chất thường xuyên) của doanh nghiệp. Các
trường hợp nảy sinh nhu cầu vốn lưu động tạm thời:
Dự kiến giá vật tư (nguyên, nhiên vât liệu…) tăng, doanh nghiệp phải
tăng dự trữ.


 Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục bắt
đầu từ việc mua sắm sản phẩm, dự trữ vật tư cần thiết đến sản xuất tạo ra sản
phẩm, bán sản phẩm, cung ứng dịch vị và thu được tiền bán hàng về tạo thành
chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian trung bình cần
thiết để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật tư, sản xuất ra sản phẩm và bán được
sản phẩm và thu được tiền hàng. Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thông
thường bao gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn mua sắm và dự trữ vật tư: Doanh nghiệp phải tạo lập nên một
lượng vật tư dự trữ. Trường hợp doanh nghiệp trả tiền ngay sẽ sinh luồng tiền ra
khỏi doanh nghiệp gắn liền và ngược chiều với luồng vật tư đi vào doanh
nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường khi tín dụng thương mại phát triển thì các
doanh nghiệp thường mua trước, trả sau. Hay nhà cung cấp vật tư đã cung cấp
cho doanh nghiệp một khoản tín dụng thương mại để tài trợ nhu cầu Vốn lưu
động.
Giai đoạn sản xuất: Trong giai đoạn này, vật tư được xuất dần ra để sử
dụng và chuyển hóa sang hình thái sản phẩm dở dang và thành phẩm. Để thực
hiện quá trình sản xuất thì doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất
định.
Giai đoạn bán sản phẩm và thu tiền bán hàng: Sau khi thành phẩm hàng
hóa đã nhập kho, doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng. Nếu doanh nghiệp bán
và thực hiện việc bán và thu tiền ngay sau khi xuất giao hàng, doanh nghiệp
nhận được tiền bán hàng và số vốn doanh nghiệp ứng ra sẽ được thu hồi. Vốn
này tiếp tục được sử dụng vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Nếu doanh nghiệp
bán chịu cho khách hàng thì sản phẩm hàng hóa sẽ được xuất giao nhưng sau
một thời gian nhất định doanh nghiệp mới thu được tiền, từ đó hình thành khoản
15


nhà cung cấp và
các

khoản

nợ

phải trả khác có

tính chu kỳ
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra

phải đủ để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục.
Đồng thời phải thực hiện chế độ tiết kiệm một cách hợp lý.

 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp:
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là đại lượng không cố định và
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố chủ yếu sau:
Những yếu tố về đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh như: chu kỳ
kinh doanh, qui mô kinh doanh, tính chất thời vụ trọng vông việc kinh doanh,
những thay đổi về kỹ thuật, công nghệ sản xuất,...Các yếu tố này có ảnh hưởng
trực tiếp đến số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải ứng ra và thời gian ứng
vốn.
Những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm:
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hóa.
+ Sự biến động về giá cả của các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp
sử dụng trong hoạt động kinh doanh.
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường bán hàng.
+ Điều kiện và phương tiện vận tải...
Chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ

thiết năm kế hoạch của doanh nghiệp theo công thức:
Nhu
cầu vốn
lưu
động

Mức dự
== trữ hàng

Khoản phải trả

Khoản
++

tồn kho

phải thu
từ khách hàng

-

nhà cung cấp và
các

khoản

nợ

phải trả khác có


Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các
yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, phải thu khách
hàng và nợ phải trả nhà cung cấp (số nợ phải trả phát sinh có tính tự động và có
tính chu kỳ) với doanh thu thuần kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu
vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn
lưu động cho các kỳ tiếp theo.
Phương pháp này thực hiện theo trình tự sau:
Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động
trong năm báo cáo. Khi xác định số dư bình quân các khoản phải phân tích tình
hình để loại trừ các số liệu không hợp lý.

18


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo.
Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần.
Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch.
Phương pháp này đơn giản và dễ thực hiện để xác định nhu cầu vốn cho
nhiều chu kỳ kinh doanh tuy nhiên nó có độ chính xác không cao và chịu nhiều
ảnh hưởng của nhân tố không hợp lý.
Mỗi phương pháp đều có những mặt ưu và nhược điểm khác nhau, tùy
thuộc vào tình hình hoạt động của từng doanh nghiệp để sử dụng các phương
pháp trên trong việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cho doanh nghiệp hợp lý và
hiệu quả.
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết việc sử dụng

tranh hiện tại: Sử dụng vốn lưu động với vòng quay nhanh, giảm rủi ro là sử
dụng vốn với hiệu quả cao, nó đòi hỏi người điều hành kinh doanh phải có
những nghị quyết đúng đắn. Chỉ cần một quyết định không chính xác thì doanh
nghiệp sẽ gặp nhiều trở ngại đặc biệt là có thể đi đến phá sản. Trong nền kinh tế
cạnh tranh như hiện nay các doanh nghiệp phải tìm cách giải quyết tốt các
phương diện về vốn lưu độngvà đưa ra những cách thức hợp lý cung cấp đủ
lượng vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh để luôn tự chủ trước các
đối thủ trên thị trường.
+ Là nhân tố quyết định tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao thu
nhập cho công nhân viên: Do hoạt động trong cơ chế thị trường doanh nghiệp
phải tự trang trải tài chính, tạo ra thu nhập để trang trải các khoản chi phí và có
lãi. Vì vậy, doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động để thu
hồi vốn, giảm chi phí, tăng lợi nhuận để phát triển sản xuất. Khi doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả thì thu nhập của công nhân viên được đảm bảo và ổn định.

 Xuất phát từ thực tế hiện nay việc sử dụng vốn lưu động ở nhiều
doanh nghiệp chưa hiệu quả. Trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được huy động từ hai nguồn cơ bản, cấp
phát của ngân sách nhà nước và vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi của ngân hàng.
Vốn hầu như được tài trợ toàn bộ, vai trò của tài chính doanh nghiệp trở nên mờ
nhạt. Do đó triệt tiêu tính linh hoạt của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói
chung hay vốn lưu động nói riêng. Chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự
20


Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

cạnh tranh ngày càng gay gắt, mặc dù nhiều doanh nghiệp thích ứng được, làm

Luận văn tốt nghiệp

Học Viện Tài Chính

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực
hiện được một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay Vốn lưu
động ở trong kỳ.
Công thức tính như sau:
N
K

=

VLĐ×N
Hay

L

K

=
M

Trong đó:
+ K: Kỳ luân chuyển vốn lưu động.
+N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quí là 90
ngày, một tháng là 30 ngày.
+M, VLĐ: như đã chú thích ở trên.
Kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ với số lần luân chuyển vốn lưu động.
Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển thì sẽ làm tăng vòng quay

Hoặc

=

360
Trong đó:

M1
-

L1

L0

+ V TK: Số vốn lưu động có thể có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+)
do ảnh hưởng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh so với kỳ gốc.
+ M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh (kỳ kế hoạch).
+ K1, K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc.
+ L1, L0: Số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc.
Qua đó, ta thấy: Khi tốc độ vốn lưu động luân chuyển nhanh doanh
nghiệp có thể mở rộng quy mô kinh doanh mà không cần tăng thêm về quy mô
vốn lưu động.
c, Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động (doanh lợi vốn lưu động).
Lợi nhuận trước/sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động

=

×


của mình.

 Các nhân tố khách quan.
- Cơ chế quản lý và các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Các chính sách có
ảnh hưởng rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như:
Chính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư…
-Đặc thù ngành kinh doanh: Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần
được xem xét khi quản lý và sử dụng vốn lưu động. Đặc thù của ngành thường
ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn. Do
đó, việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu độngcủa doanh
nghiệp với chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu
điểm và hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn lưu động.
-Lạm phát trong nền kinh tế: Lạm phát ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua giá đầu ra và giá đầu vào. Nếu giá đầu ra tăng
trong khi giá đầu vào không đổi hoặc tăng ít hơn thì trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên, từ đó làm tăng tỷ suất lợi
nhuận trên vốn lưu động. ngược lại, trong điều kiện lạm phát của nền kinh tế thì
nhu cầu hàng hóa giảm, sản phẩm của công ty không tiêu thụ được cùng với thời
gian sẽ không thể giữ nguyên giá trị, doanh nghiệp sẽ phải chịu bán lỗ và không
đạt được hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
-Khả năng cạnh tranh trên thị trường: Nếu doanh nghiệp có sức cạnh
tranh lớn trên thị trường, sản phẩm có sức tiêu thụ lớn thì Công ty sẽ có doanh
thu và lợi nhuận lớn, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động cao.
-Tiến bộ khoa học kỹ thuật: cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khoa học kỹ thuật khi được ứng
dụng vào sản xuất kinh doanh nó có thể tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá
với cùng một đơn vị thời gian và giảm được nhiều chi phí sản xuất làm hạ giá
thành sản phẩm và làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp lên mức tối đa. Chính
vì vậy mà các doanh nghiệp cần phải áp dụng triệt để tiến bộ khoa học kỹ thuật
24

phận thì thừa vốn không phát huy hết tác dụng, trong khi đó lại thiếu vốn trầm
trọng ở một số khâu khác, từ đó dẫn đến tình hiệu quả sử dụng vốn lưu động
thấp.
-Chu kỳ sản xuất kinh doanh: Nếu chu kỳ sản xuất kinh doanh mà ngắn,
vòng quay vốn nhanh thì doanh nghiệp sẽ nhanh chóng thu hồi vốn đáp ứng nhu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status