Chương 4
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC THIẾU NHI
4.1. GIỚI THUYẾT VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
4.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật
Khác với không gian, không gian nghệ thuật là một bình diện của thi pháp. Giữa không gian
nghệ thuật với không gian vật chất bên ngoài sẽ có những đường biên ranh giới nhất định. Và khái
niệm không gian nghệ thuật được các nhà lí luận phát biểu như sau:
"Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh
thể của nó" (Lê Bá Hán chủ biên, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000).
"Không gian nghệ thuật là môi trường hoạt động của nhân vật" (Nguyễn Xuân Kính, Thi
pháp Ca dao, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992).
"Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới độc lập có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng
trưng của tác giả" (Trần Đình Sử, Tuyển tập - tập 2, Nxb Giáo dục, 2005).
Mỗi ý kiến tuy không thật giống nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những luận
điểm sau:
- Không gian nghệ thuật thuộc về phương diện hình thức bên trong của tác phẩm.
- Không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại của thế giới hình tượng.
- Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối và mang tính quan niệm.
Như vậy, có thể hiểu không gian nghệ thuật là một bình diện quan trọng của thi pháp, chỉ hình
thức tồn tại chủ quan của thế giới nghệ thuật.
4.1.2. Vai trò, ý nghĩa của không gian nghệ thuật trong kết cấu nghệ thuật của tác phẩm
Với tư cách là một phương diện thi pháp trong kết cấu nghệ thuật của một tác phẩm, không
gian nghệ thuật là hình thức tồn tại chủ quan của hình tượng nghệ thuật. Tính chủ quan của không
gian thể hiện ở chỗ nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, được biểu hiện dưới hệ quy chiếu của điểm
nhìn chủ thể. Và đến lượt mình, không gian cũng mở ra một trường nhìn khác về thế giới. Tùy theo
cá tính sáng tạo, mỗi nghệ sĩ sẽ cho ra đời những mô hình thế giới riêng để chuyển tải những quan
niệm riêng của chủ thể về cuộc đời.
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm là sự mô hình hóa các mối liên hệ về thời gian, đạo
đức, xã hội của bức tranh thế giới. Với vai trò này, không gian thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ với
thời gian nghệ thuật. Có nhiều khi, thời gian được không gian hóa, trở thành một chiều của không
để lại dấu ấn trong bình diện không gian nghệ thuật. Trong truyện, không gian cực kì rộng lớn
nhưng chỉ mang tính phiếm chỉ. Tuy không xác định cụ thể nhưng không gian ấy vẫn gợi cho người
đọc những cảm giác thân thuộc, gần gũi. Nhân vật Tấm đã đi từ cánh đồng quê đến cung vua, đi từ
không gian làng quê rất đời thường với đồng, ao, giếng nước, vườn, cây cau, cây xoan đào, cây thị,
quán nước... đến không gian cung đình. Tấm cũng đã trải qua bao nhiêu lần hóa kiếp. Chim vàng
anh, khung cửi, quả thị... đã làm nên một không gian thần kì, lung linh, huyền ảo cho tác phẩm.
Nhờ tính chất thần kì đó mà giữa không gian loài vật với con người đã có sự thông hiểu nhau rất dễ
dàng. Giữa các lớp không gian có mối liên thông tuyệt đối. Chỉ cần Tấm khóc là Bụt đã ngay lập
tức có mặt để giải quyết khó khăn cho nhân vật. Mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh cũng
rất lỏng lẻo. Không gian không hề gây trở ngại, không trở thành lực cản đối với hành động con
người. Vì thế qua bao nhiêu kiếp nạn, Tấm vẫn sống, đặc biệt là lại càng xinh đẹp hơn xưa. Xây
dựng không gian nghệ thuật mang tính phiếm chỉ, không có lực cản như vậy là một đặc điểm thi
pháp của truyện cổ tích. Không gian phiếm chỉ sẽ cổ tích hóa, ảo hóa không gian hiện thực, từ đó
làm tăng tính chất thần bí cho truyện cổ tích. Việc để cho không gian ấy không có mối quan hệ phụ
thuộc với hình tượng hoàn toàn phù hợp với ý đồ xây dựng kiểu nhân vật hành động hay còn gọi là
kiểu nhân vật chức năng. Chính đặc điểm không gian này mà nhân vật đã dễ dàng thực hiện ước mơ
của mình. Giáo sư Trần Đình Sử viết: "Trong Tấm Cám, người, bụt, cá, chim, gà, quả thị, cây,
khung cửi đều biết nói và đều hiểu nhau dễ dàng. Việc nhặt thóc, tìm xương, làm ra áo quần, ngựa,
giày... đều rất dễ vì có phép màu..." cũng chính là do đặc điểm riêng của truyện cổ tích.
Với thể loại truyền thuyết, sự kiện lịch sử có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng không gian
nghệ thuật trong các tác phẩm. Ở truyền thuyết Thánh Gióng, không gian nghệ thuật đã có những
đặc điểm riêng. Cái lõi của sự kiện và nhân vật lịch sử có thật đã chi phối đến bình diện không gian.
Ta bắt gặp trong truyện những tên đất, tên làng quen thuộc và có thật trong cuộc sống. Theo giáo sư
58
Đỗ Bình Trị thì cả đất nước vùng trung châu hiện nay vẫn còn những dấu vết của Thánh Gióng đuổi
giặc Ân, từ dấu chân ngựa sắt tạo thành dải ao chuôm ở Thuận Thành đến Quế Võ, từ những lũy tre
ngà mọc suốt từ Quế Võ đến Gia Lương sang Thuận Thành cho đến cọc đá buộc ngựa ở làng Cựu
Tự, cây cởi áo trên đỉnh Phù Mã... Đó là những bằng chứng xác thực cho cái lõi lịch sử trong truyền
Chính nhờ yếu tố vần nhịp đó nên không gian nghệ thuật trong đồng dao không cố định mà liên tục
chuyển đổi:
... Đầu quạ quá giang
Sang sông về đò
Cò nhảy gãy cây
Mây leo bèo nổi
Ổi xanh hành bóc
Róc vỏ đỏ lòng
59
Tôm cong đít vịt...
(Bài ca trò chơi chuyền thẻ)
Như vậy là giữa các không gian không có gì cản trở cả. Chính điều này đã làm cho đồng dao
nhiều lúc trở nên mơ hồ về nghĩa và "phi lôgic". Theo Vũ Ngọc Khánh thì đó là sự vô nghĩa có
duyên. Những "bài ca trò chơi này" vì thế mà không rõ ràng về tư duy lí luận, chỉ là thứ tư duy
bằng ấn tượng mà thôi. Không gian cũng vì thế mang tính tả thực về những hiện thực chắp vá, ghép
mảnh, không bị gò bó.
Với tính chất tả thực đó nên cũng như hát ru, không gian trong đồng dao luôn là không gian
gần gũi, quen thuộc với trẻ. Đồng dao có đời sống diễn xướng gắn bó với hoạt động vui chơi của trẻ
thơ. Để đáp ứng tâm lí các em, đồng dao đã tạo ra một thế giới đầy màu sắc, ngập tràn những hình
ảnh vui tươi, ngộ nghĩnh về những con vật, đồ vật và cây cỏ thân thương. Một thiên nhiên và cuộc
sống xã hội đã mở ra mênh mông trước mắt trẻ từ chính thể loại dân gian còn được gọi là "ca dao
thiếu nhi" này. Vì vậy, khi đến với đồng dao, "ta không còn là ta nữa mà là một đứa bé như muôn
ngàn đứa bé khác cười rỡn trên khắp vùng quê..." (Doãn Quốc Sĩ).
4.2.2. Không gian nghệ thuật trong VHTN hiện đại
Với tâm lí lứa tuổi và sự hạn chế nhất định về nhận thức, trẻ thơ khó thoát ra khỏi những
không gian đời thường quen thuộc hàng ngày. Cái mà các em hướng đến khám phá trước hết là
cuộc sống và thiên nhiên gần gũi xung quanh mình. Vân Thanh đã nhận định rằng, bài học mở đầu
và niềm khao khát hiểu biết của con người ở lứa tuổi bé nhất là bài học về tự nhiên bao la. Chính vì
Nguồn của mọi con đường
Hãy giữ cho đường đó
Không bao giờ rác vương
Không gian nhỏ hẹp và bình dị ngay trước ngõ nhà ấy là cầu nối dẫn đến đồng cỏ hoa vàng với cỏ
mật ngọt lịm, ngan ngát mùi thơm. Như lời Ông thì: "Dù có đi Đông đi Tây, đi đến tận cùng trời cuối
đất đi chăng nữa, bao giờ cũng phải bắt đầu từ con đường nhỏ trước ngõ nhà mình". Vì thế nên sau khi
cùng Ông dọn con đường, Bê khoang đã bước những bước thật khoan thai, thận trọng trên con đường
rải sỏi sạch bong, đậm nhạt những bông cau. Những cây đu đủ, cây tre lá non đong đưa như muốn gửi
bóng mình đi xa cùng nhân vật. Không gian đời thường này vì thế mà có ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Tôi
đi học của Thanh Tịnh, Ngày em đến trường của Lê Phương Liên cũng lấy không gian con đường để
gợi mở những cảm xúc vui tươi trong ngày đầu đi học.
Khác với văn học dân gian, không gian đời thường trong văn học thiếu nhi hiện đại thường là
những không gian sống động, cụ thể chứ không mơ hồ, phiếm chỉ. Hình tượng nhân vật đi về trong
những vùng không gian ấy với những diện mạo, hành tung rõ ràng. Duy Khán đã viết về một không
gian làng quê "Lao xao" thật tinh tế: "Gió chớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm. Cây hoa lan nở
hoa trắng xóa. Hoa dẻ từng chùm mảnh dẻ. Hoa móng rồng bụ bẫm thơm như mùi mít chín ở góc
vườn ông Tuyên. Ong vàng, ong vò vẽ, ong mật đánh lộn nhau để hút mật ở hoa...". Nguyễn Thị
Châu Giang cũng góp cho "Hội mùa thu" một không gian đặc trưng của mùa thu và của ngày hội.
Trên con sông nhỏ như một đầm lầy, bao nhiêu sinh vật đã quy tụ. Rừng cỏ may vang động tiếng
nói, tiếng cười. Mùa thu đến dịu dàng cùng làn hương dìu dịu của nến, của lồng đèn, bánh nướng và
cốm xanh. "Màn đêm buông xuống. Da trời mịn và êm như nhung. Giữa đĩa trời mênh mông, ông
Trăng hiện ra vành vạnh, tròn như một mâm cỗ chan chứa ánh vàng. Cả dòng sông, cả cánh rừng,
cả những tàu dừa ngả xuống nước, cả những bông sen đang e ấp cũng nhuốm bạc, cũng vẫy vùng
trong suối vàng vô tận lấp lánh, lấp lánh. Đêm hội bắt đầu trong tiếng vỗ tay rì rào của rừng cỏ,
trong muôn vàn âm thanh khác lạ của đất trời và nước". Đó thực sự là những dòng văn đẹp về một
không gian khoáng đạt và nên thơ.
Bên cạnh không gian đời thường thân thuộc, văn học thiếu nhi hiện đại còn xuất hiện kiểu
không gian phiêu lưu. Không gian phiêu lưu là không gian xa lạ, chứa đựng nhiều hiểm họa đối với
nhân vật. Trong không gian này, con người bị cắt đứt những mối liên hệ thân thuộc, lênh đênh, trôi
dạt giữa dòng đời. Chính vì thế, con người phải sống bên ngoài các giới hạn, ngoài khuôn khổ vốn
Nguyễn Huy Thiệp trong một truyện ngắn của mình đã khẳng định: "Chuyện của trẻ con thì
người lớn không nên cắt nghĩa vì lôgic của trẻ con là thứ lôgic huyền thoại không tiền khoáng hậu.
Người lớn bị thực tế khắc nghiệt làm mất đi sự mong manh của lôgic huyền thoại, thay vào đó là
thứ lôgic xám xịt, rạch ròi" (Tâm hồn mẹ). Ý kiến này đã đụng chạm tới mạch ngầm của thiên tính
trẻ, tới lôgic huyền thoại của trẻ thơ. Niềm vui của trẻ là được thực hiện những cuộc phiêu lưu đầy
sáng tạo và tưởng tượng tới những thế giới diệu kì, những không gian thần kì. Ở đó cái đời thường
bị đảo lộn, thay vào đó là những nghịch lí thú vị. Có thể xem truyện cổ tích chính là nơi sản sinh và
nuôi dưỡng rất tốt tư duy huyền thoại này của trẻ. Mỗi câu chuyện cổ là những ô cửa mầu nhiệm
mở ra những không gian bí ẩn, diệu kì. Đến văn học thiếu nhi hiện đại, không gian đó vẫn tồn tại
như một thủ pháp nghệ thuật. Ở một số tác giả, không gian này giữ vị trí thống trị trong thế giới
nghệ thuật tạo nên những câu chuyện cổ tích hiện đại. Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ là
trường hợp như thế. Thế giới tự nhiên qua lăng kính của nhà văn bỗng bừng sáng những gam màu
thần thoại. Trong thế giới cổ tích thần kì ấy, nguồn gốc của muôn loài được nhìn nhận thật thú vị.
Ngón tay út của người thầy biến thành cây nhân sâm, những con tép trở thành tép bưởi, khóm dứa
cất dấu ba viên ngọc đổi màu biến thành hoa ngọc trai... Hoa quả bốn miền đã tụ họp về ngôi nhà
lớn "Chuyện hoa chuyện quả" và lung linh trong những sắc màu huyền diệu. Mỗi không gian loài
vật là một biểu tượng về con người. Tác giả mượn không gian mầu nhiệm đó để khẳng định một
điều rất hiện thực: Tất cả hoa đẹp, quả lạ trên đời đều do tình yêu thương và lòng tốt của con người
kiến tạo thành. Nhờ vậy, tác phẩm thực sự là một thế giới đầy hương thơm, sắc màu và lắng đọng
vẻ đẹp tâm linh.
Bài thơ Mây và sóng của đại thi hào ấn Độ - Tagor - cũng đã dựng lên một không gian nghệ
thuật huyền ảo như cổ tích. Qua điểm nhìn hồn nhiên của trẻ thơ, không gian được nhào nặn lại và
mở ra khoảng vô tận của một bức tranh tuyệt diệu. Giữa bầu trời và mặt đất tuyệt nhiên không có sự
cản trở và trẻ đã mặc sức lên cao để bay bổng với thiên đường lãng mạn của mây và sóng. Đây cũng
62
chính là hai không gian tiềm ẩn sắc màu thần tiên biểu trưng cho những nơi xa rộng đầy hấp dẫn
của cuộc đời đang mời gọi con người. Ở đó:
"... Chúng ta vui chơi từ tinh mơ đến hết ngày
Dài và rộng đến đâu
Ai bảo giùm em biết?
Cùng một không gian thôi nhưng nó lại có nhiều không gian phái sinh. Nhưng tất cả các
không gian ấy đều gặp nhau trong sắc xanh tâm lí, tạo nên không gian bao la của niềm tin, của tình
yêu và khát vọng.
Trong những tác phẩm văn xuôi, khi nhà văn chú tâm đến nội tâm nhân vật thì không gian
tâm lí có tần số xuất hiện thường xuyên hơn. Con người tự nó cũng là một không gian. Người bà
trong truyện ngắn Bà nội của Duy Khán cũng là một không gian nhân vật làm người đọc rưng rưng
xúc cảm. Bờ vai mỏng tanh của bà là dấu ấn của cái nghèo đói, cái vất vả của kiếp người. Bà tồn tại
trong không gian lớn của làng quê như một cái bóng, lặng lẽ, không ai biết đến sự hiện diện của
không gian này. Những câu ca xưa vọng lại trong lời hát ru của bà là tiếng vọng của một không gian
tâm tư trĩu nặng:
"Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót (a...) lòng mày khế (à...) ơi....
Cái bống là cái bống bình
Thổi cơm gánh nước (a...) một mình bống (à...) ơi"
Những câu hát ru buồn vợi ấy chính là những khoảnh khắc bà hóa thân vào không gian của
cây khế, cái bống bình... để thấm trải sâu hơn nỗi cô đơn, vị chát chua của cuộc đời. Chính vì thế
mà khi bà mất, không gian tự nhiên đã được tâm trạng hóa để phụ họa với nỗi đau của lòng người.
Giời mưa phùn gió bấc, đường qua đồng trắng toát khăn tang, trắng một màu buồn rợn. Ba gian nhà
gianh gió lùa. Mấy cái ống tre ngoài hiên khóc vu vu cả ngày lẫn đêm tưởng như lời ru của bà còn
vọng lại. "Trèo lên cây khế nửa ngày...".
4.3. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC THIẾU NHI
TIÊU BIỂU
64
4.3.1. Không gian nghệ thuật trong Dế Mèn phiêu lưu kí
Dế Mèn phiêu lưu kí là một thiên đồng thoại thi vị dành cho thiếu nhi mà nhà văn Tô Hoài
sáng tác khi vừa mới bước khỏi tuổi thiếu niên. Trong hình hài của một truyện dài, Dế Mèn phiêu
đồng lớn, những bãi hoang, những dòng sông xinh đẹp với hai bờ cỏ xanh non tươi, những quãng
nước mênh mông hun hút chẳng thấy bờ chỉ thấy sóng nối nhau nổi lên như trái núi trước mặt, xóm
bùn lầy nước đọng ở trong cù lao, những cánh rừng cỏ may... Đôi bạn ấy đã trải qua những đêm trời
trở gió, chơ vơ giữa trời nước, đã từng đi mịt mờ dưới bóng hoa may với một màu trắng bàng bạc,
xam xám... Không gian liên tục thay đổi, càng lúc càng mở rộng tạo nên bức tranh liên hoàn của
hành trình phiêu lưu. Tô Hoài đã xây dựng không gian cản trở, rất đúng với tính chất của truyện
phiêu lưu. Không gian ấy đã tạo điều kiện cho Dế Mèn nảy nở và phát triển những tố chất mới. Trên
mỗi chặng đường đời, Dế Mèn đã phải thay đổi cách nghĩ, thay đổi tính cách để phù hợp với hoàn
cảnh sống.
65
Tuy nhiên, đã có lúc trên hành trình phiêu lưu ấy, Dế Mèn buộc phải quay trở lại với không gian
ngày xưa. Cái khoảng không chật hẹp, tù đọng ấy đi từ bờ ruộng quê hương, vào lều cỏ của ẩn sĩ Xiến
Tóc, vào hang chim Trả. Đó đều là những không gian bé tí, đối lập hoàn toàn với cái rộng lớn của đất
trời. Để nhân vật gặp lại không gian này chính là ý đồ của nhà văn. Ngôi chùa tại gia của ẩn sĩ hay cái
hang âm thầm bóng tối của chim Trả là những điểm xoáy trong tâm thức của Dế Mèn, buộc nhân vật
đẩy cao hơn khát vọng giải thoát, cởi trói mình khỏi sự bó buộc của hoàn cảnh để đến với chân trời tự
do. Chính vì thế mà Dế Mèn đã không che giấu được niềm vui của mình khi sắp thoát khỏi hang chim
Trả: "Ngày mai mình thoát chốn này ư? Ôi chao, lại sắp thấy trời xanh, lại thấy ánh sáng, ánh sáng
vàng những tia nắng. Anh em lại gặp nhau. Sao cái đêm chờ đợi lê thê, dài đến là dài".
Sau hành trình phiêu bạt, đã từng lạc vào xứ sở của Đại vương ếch Cốm, vào thành lũy hiểm
hóc của họ nhà Kiến, Dế Mèn đã thực hiện được lí tưởng của mình. Một thế giới hòa bình, đại đồng
đã được thiết lập. Không gian đã được gắn kết bởi những người bạn đồng tâm. Không còn ai thấy lẻ
loi và cô đơn cả. Chỉ còn là niềm vui, là sự đầm ấm. Như vậy là sự thay đổi không gian trong thiên
truyện này đã góp phần rất lớn thực hiện thông điệp thay đổi cuộc sống nhàm chán, quẩn quanh để
vươn đến một thế giới đại đồng, lấp lánh những lí tưởng sống cao đẹp.
Truyện khép lại với hành trình trở lại quê nhà của Dế Mèn. Tưởng như không gian truyện sẽ
quay trở lại điểm xuất phát. Nhưng không gian cũ mà con người thì đã lột xác. Bây giờ chú đã có
thể thư thái lòng, "nằm duỗi chân nhìn lên qua khe cỏ ấu, thấy mảnh trời biếc như ước vọng đời
trống ấy đã vượt qua cánh đồng hương mạch với sự "vuốt ve" của quân Áo với những làn đạn mù trời.
Cổ họng khát nước tưởng như chết đi được. Máu đã đỏ tươi hình hài bé nhỏ. Nước mắt đã nhỏ ra, cậu
đã "khóc như điên". Nhưng đó là nước mắt của nỗi lo lắng không đưa kịp mảnh giấy xin viện binh, lo
cho sự ra đi của một người lính nào đấy. Không gian chiến trận là thử thách lớn cho niềm kiêu hãnh
về dòng giống anh hùng của đứa con nhỏ bé của đất Ý.
Những câu chuyện kể hàng tháng cũng đã mở ra những không gian biểu trưng và không gian
tâm trạng. "Người y tá của Tata" khép lại với hình ảnh "Rạng đông của hửng sáng". Hình tượng
không gian ấy biểu trưng cho sự phát sáng của không gian tâm linh, của một trái tim nhân hậu vừa
hoàn thành xong "sự nghiệp nhân từ, cao thượng" của mình. Và khi "Máu nóng người Rômanha"
mở ra, chúng ta lại được đối diện với một không gian đầy tâm cảm. Ngôi nhà của Pherucsiô im lặng
67
hơn thường lệ, nằm bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, giữa những đám ruộng dâu bát ngát. Mưa
rơi, gió rét. Mưa và gió thổi hắt vào các cửa kính, còn màn đêm thì tối như mực. Có ánh sáng đấy
nhưng chỉ là thứ ánh sáng hắt hiu từ ngọn đèn dầu nhỏ. Không gian bóng tối ấy đã bao phủ lên vạn
vật che giấu hành vi của những kẻ giết người. Màu đen ấy cùng với màn mưa nặng hạt cũng đã tạo
khung cảnh buồn thương, ảm đạm cho một bi kịch. Lúc Pherucsiô lấy thân mình che chở cho bà
khỏi nhát dao của tên giết người thì "gian phòng tối như mực". Đó là không gian tang tóc, không
gian của những bất hạnh. Để cho bóng tối bao trùm lên câu chuyện là dụng ý nghệ thuật của người
kể. Bởi không gian ấy sẽ làm nền cho sự phát sáng của một nhân cách, một tâm hồn cao cả.
Mỗi một bức thư là một dòng chảy của tâm trạng. Chính vì thế, lôgic của hiện thực khách
quan đã bị lôgic của tâm lí, tình cảm phá vỡ. Đây là điều kiện để kĩ thuật đồng hiện không gian phô
diễn. Sự dán ghép các mảnh không gian đã tạo nên thế giới đa chiều, có khả năng soi rọi chân dung
tâm hồn nhân vật ở nhiều góc độ. Người bố, người mẹ của Enricô - chủ nhân của những bức thư đã
đứng ở hiện tại để thực hiện những hành trình ngược về không gian trong quá khứ và hướng đến
tương lai. Họ đã dẫn dắt Enricô vận động qua nhiều không gian để có được thức nhận sâu sắc về
con người, thế giới. Bức thư có tựa đề "Ngoài đường phố" của bố xuất phát từ sự kiện Enricô va
phải một bà đi đường. Người bố đã tái hiện lại hình ảnh con mình những lúc ở nhà, lúc con rất cân
nhắc mọi cử chỉ, việc làm... để khiển trách sự bất cẩn của Enricô khi đi lại trên đường. Bên cạnh đó,
Góc sân nho nhỏ mới xây
Chiều chiều em đứng nơi này em trông
Thấy trời xanh biếc mênh mông
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy
Từ khoảng không gian này, Khoa đã thả tuổi thơ bay lên cùng với ánh trăng đêm rằm, bay lên
cùng với cái diệu kì của đất trời... Và cũng tại nơi đây đã chứng kiến bao sinh hoạt của con người và
loài vật. Đó là cảnh những chú gà con liếp nhiếp đi tìm mồi cùng mẹ (Gà con liếp nhiếp), cảnh thôn
xóm vào mùa với chiếc máy tuốt lúa mở miệng cười ầm ầm, với thóc vàng óng một màu no đủ, với
ấm chè nóng thơm hương lúa đồng đang cùng ông trăng và các đội bình công mừng một mùa bội
thu (Thôn xóm vào mùa). Góc sân ấy cũng trở thành sân khấu để tiếng trống chèo sâu vợi, tiếng mõ
đưa hương hoa đại len vào tâm tư con người (Cô Thị Mầu).
Tuổi thơ luôn bị mê hoặc bởi những trò vui. Niềm hân hoan của chú bé Khoa nhỏ tuổi cũng
vút lên từ góc sân nhỏ với bao sinh hoạt hấp dẫn:
Em thường rải cái nong
Ra góc sân ngồi học
Những đêm có trăng mọc
Em chơi cho đến khuya
(Cái sân)
Trong hồn nhiên của thế giới trẻ thơ, Trần Đăng Khoa luôn lấy cái sân làm địa điểm diễn ra
mọi trò chơi. Nào là trò xỉa cá mè, trò mèo đuổi chuột, trò hứng nước mưa... Ở đấy, em đã chạy
nhảy tung tăng, đã múa hát say mê quanh ông trăng đêm rằm. Lắm lúc sân cũng trở thành nền bản
vẽ để trẻ phác họa lên những bức tranh về cô tiên, về đồng lúa chín...
Không phải ngẫu nhiên mà Khoa viết nhiều về góc sân. Đối với người dân quê Việt Nam nói
chung, đối với những trẻ thơ chưa bao giờ vượt khỏi lũy tre xanh như Khoa thì đây là không gian
thân thuộc, gắn bó như là máu thịt. Bao nhiêu sinh hoạt của người dân quê, bao nhiêu trò chơi của
trẻ nhỏ đều gắn với địa điểm này. Chính không gian này cũng là nhịp cầu đưa trẻ đến với những
không gian rộng lớn hơn.
Càng ngày thơ Trần Đăng Khoa càng mở rộng không gian nghệ thuật và đó đều là những
khoảng không gian thấm đượm hồn quê Việt Nam. Đến với thơ Khoa, ta được ngắm nhìn những
mảnh vườn quê hương ở nhiều giác độ khác nhau. Là vườn cải tốt tươi, "lá xanh như mảnh mây trời
ba, với giọt mồ hôi... để làm nên "hạt gạo làng ta". Khoa không quên điều đó khi anh viết:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
(Hạt gạo làng ta)
Chính vì thế mà lòng biết ơn với dòng sông đã trở thành tình cảm thường trực trong Khoa. Và
cũng bởi cái ơn sâu nặng đó nên thi sĩ đã một đời không thôi tìm kiếm bí mật về không gian này:
Sông ơi nhớ thương ai
Mà bốn mùa nước đỏ
Con chim nghiêng mắt ngó
Phù sa hồng đôi chân
(Cầu Cầm)
Những không gian trên đã tập hợp lại làm nên không khí thanh bình, yên ả ngàn đời của thôn
quê Việt Nam. Nhưng bên bến bờ bình yên ấy, gương mặt chiến tranh lại hiện về. Là tiếng bom
rùng rùng nổ trong đêm trăng tràn đầy tiếng đàn bầu, một không gian căng tràn đã "tự rung lên sức
mạnh Việt Nam". Là hình ảnh những hố bom, những ngôi trường tốc mái... Chiến tranh còn hiện
hình trong đôi nạng gỗ bên bàn thầy giáo, bên mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi, bên cả những bài
học dang dở... Nhưng đó chỉ là phông nền làm hiển hiện và thăng hoa một không gian khác - không
gian của sự sống và niềm tin. Hàng cau đã ngã xuống nhưng tiếng đàn bầu vẫn tuôn trào vô tận như
những suối nguồn mát trong để xóa đi những âm thanh dơ bẩn của cuộc chiến. Hình ảnh cánh diều
vươn cao ngạo nghễ bên bờ hố bom là một sự tương phản rất đẹp của không gian nghệ thuật, thể
hiện được sức sống vĩnh hằng của con người:
Tiếng diều vàng nắng
Trời xanh cao hơn
Dây diều em cắm
Bên bờ hố bom
(Thả diều)
Ngoài ra, Góc sân và khoảng trời cũng đã đưa đến cho người đọc những khoảng không gian
tâm lí giàu sức biểu cảm. Con người là một thực thể tồn tại trong không gian. Nhưng tự bản thân
con người cũng là một thế giới, một không gian với những chiều kích và tính chất riêng. Ý thức
II. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH
1. Sự khác biệt giữa không gian thần kì trong văn học dân gian với không gian thần kì trong
văn học thiếu nhi hiện đại?
2. Phân tích không gian nghệ thuật của bài thơ sau:
TRÊN HỒ BA BỂ
Thuyền ta chầm chậm vào Ba Bể
Núi dựng cheo leo hồ lặng im
Lá rừng với gió ngân se sẽ
Họa tiếng lòng ta với tiếng chim.
Thuyền ta lướt nhẹ trên Ba Bể
Trên cả mây trời trên núi xanh
Mây trắng bồng bềnh trôi lặng lẽ
Mái chèo khua bóng núi rung rinh.
Thuyền ta quanh quất trên Ba Bể
72
Đỏ ối vườn cam biếc bãi ngô
... Thuyền ơi, chầm chậm chờ ta nhé
Muốn ở đây thôi chẳng muốn về!
Hoàng Trung Thông
3. Đặc trưng thi pháp đồng thoại thể hiện như thế nào ở không gian nghệ thuật của tác phẩm
Dế Mèn phiêu lưu kí?
4. Xác định không gian nghệ thuật trung tâm của tác phẩm Những tấm lòng cao cả. Không
gian ấy đã ảnh hưởng gì đến quá trình phát triển tính cách của nhân vật Enricô?
III. GỢI Ý GIẢI BÀI TẬP
1. Trong văn học dân gian, không gian thần kì là sản phẩm của tư duy, thế giới quan huyền
thoại. Còn trong văn học hiện đại, không gian ấy chỉ là một thủ pháp nghệ thuật. Do đó, mật độ xuất
hiện của không gian thần kì trong văn học thiếu nhi hiện đại không thường xuyên và dày đặc như
trong văn học dân gian. Các nhà văn hiện đại dùng không gian thần kì với tư cách là một hình thức
4. Những tấm lòng cao cả kết cấu theo ba tuyến rất rõ ràng và đã có sự xê dịch của không
gian nghệ thuật trong các tuyến truyện. Tuy nhiên, không gian trung tâm vẫn là trường học. Học
viên chú ý đến vai trò của không gian trường học và ảnh hưởng của không gian này đến nhân vật
chính của tác phẩm.
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Edmondo de Amicis, Những tấm lòng cao cả, Nxb Văn học, Hà Nội, 2004.
2. Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999.
3. Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Trần Hoàng..., Đồng dao và trò chơi Việt, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội, 1997.
4. Trần Đình Sử, Tuyển tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004.
5. Nguyễn Ngọc Thuần, Cha và con và... tàu bay, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005.
6. Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2005.
Học viên có thể tham khảo thêm các bài: Đề tài nông thôn rộng lớn và phong phú (Văn
Trọng); Thiên nhiên, một kho tàng vô tận (Vũ Tú Nam); Thiên nhiên trong thơ viết cho các em (Vũ
Đình Minh) (Tập 1); Tài năng miêu tả của Võ Quảng (Vũ Tú Nam); Những trang sách bình dị về
thiên nhiên tươi đẹp (Vương Trí Nhàn); "Tuổi thơ im lặng" - Kỉ niệm về một tầng văn hoá làng quê
lâu đời (Trần Đình Sử),... (Trong Văn học thiếu nhi Việt Nam (Nghiên cứu, lí luận, phê bình, tiểu
luận - tư liệu) (Vân Thanh biên soạn); tập 2, Nxb.Kim Đồng,
Hà Nội, 2003).
74
Chương 5
CỐT TRUYỆN TRONG VĂN HỌC THIẾU NHI
5.1. KHÁI NIỆM CỐT TRUYỆN, CỐT TRUYỆN TỰ NHIÊN, CỐT TRUYỆN NGHỆ
THUẬT
5.1.1. Khái niệm cốt truyện
ông đã nhẹ nhàng rút mũi tên bắn trúng vượn mẹ. Thắt nút của truyện Bên Hồ Hàm Nguyệt chính là
75
sự kiện cô bé tên Tâm sang chơi với chị Ngàn và phần giới thiệu về cuộc đời cô gái đẹp nết đẹp
người nhưng “đôi mắt không thấy gì ngoài bóng tối”.
- Phát triển: Là toàn bộ các sự kiện thể hiện sự triển khai, vận động của các quan hệ và mâu
thuẫn đã xảy ra. Đây là phần dài nhất của cốt truyện, thường bao gồm toàn bộ các sự kiện từ sau
thắt nút đến sự kiện trước đỉnh điểm. Tính cách của nhân vật chủ yếu được xác định trong phần này.
Nhân vật được đặt trong nhiều cảnh ngộ khác nhau, xung đột được triển khai trên nhiều bình diện.
Trong truyện Người đi săn và con vượn, đó là các sự kiện vượn mẹ trúng tên, hướng ánh nhìn
căm giận về phía người đi săn, tay vẫn không rời con. Trong khi đó, người thợ săn vẫn đứng im chờ
thu nhận kết quả. Còn trong truyện Bên Hồ Hàm Nguyệt, phần phát triển chính là đoạn đối thoại
giữa “tôi” với chị Ngàn, khung cảnh làng quê yên bình, nên thơ trong đêm Nguyên tiêu, cảnh đoàn
người tấp nập lên chùa Huyền không làm lễ,…
Ở phần phát triển, tác giả trình bày hàng loạt sự kiện, mâu thuẫn được khai thác tận mọi khía
cạnh của nó, xung đột của cốt truyện được triển khai trên nhiều bình diện, các nhân vật được đặt
vào những cảnh ngộ khác nhau nhất với những thử thách căng thẳng qua không gian, thời gian. Từ
đó cốt truyện bước vào đỉnh điểm.
- Cao trào (còn gọi là đỉnh điểm): Là sự kiện thử thách cao nhất, tột cùng đối với nhân vật dẫn
đến bước ngoặt lớn trong sự phát triển của cốt truyện và đưa đến chấm dứt sự phát triển. Đỉnh điểm
thường là một khoảnh khắc, một thời điểm ngắn, nhưng từ đây câu chuyện đi theo hướng được giải
quyết.
Cao trào của truyện Người đi săn và con vượn là sự kiện đầy cảm động: Vượn mẹ, trước khi
chết, đã nhẹ nhàng đặt con xuống, vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu con, rồi nó hái cái lá to, vắt sữa
vào và đặt lên miệng con. Với Bên hồ Hàm Nguyệt, đó là điều ước lạ lùng của chị Ngàn về một may
mắn, một phép màu sẽ đến với mẹ của… một chị gái cùng làng! Điều này khiến cho Tâm phải “giật
mình” và vô cùng “ngạc nhiên”.
Cả hai sự kiện đỉnh điểm trên đây đã gây nên những chấn động rất lớn cho tâm hồn nhân vật trong