ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
________
NGUYỄN QUỐC DŨNG
SƯU TẦM, THU THẬP TÀI LIỆU
PHÔNG LƯU TRỮ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
CỦA KHO LƯU TRỮ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH LƯU TRỮ
VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
________
NGUYỄN QUỐC DŨNG
SƯU TẦM, THU THẬP TÀI LIỆU
PHÔNG LƯU TRỮ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
CỦA KHO LƯU TRỮ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH LƯU TRỮ
1.2.4. Ý nghĩa Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh ....................................... 45
Chƣơng 2- TÌNH HÌNH SƢU TẦM, THU THẬP VÀ QUẢN LÝ
PHÔNG LƢU TRỮ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
CỦA KHO LƢU TRỮ TRUNG ƢƠNG ĐẢNG ............................................. 49
2.1. Vài nét về cơ quan quản lý Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh ............. 49
2.2. Chủ trƣơng của Trung ƣơng Đảng về việc sƣu tầm, thu thập
và quản lý tài liệu thuộc Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh ........................ 52
2.3. Tình hình sƣu tầm, thu thập tài liệu Phông lƣu trữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh ..................................................................................... 61
2.3.1. Các biện pháp sƣu tầm, thu thập của Cục Lƣu trữ .................................. 61
2.3.2. Kết quả sƣu tầm, thu thập tài liệu thuộc Phông lƣu trữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh ..................................................................................... 66
2.3.3. Quản lý và khai thác sử dụng những tài liệu sƣu tầm, thu thập .............. 74
2.4. Đánh giá chung......................................................................................... 75
2.4.1. Ƣu điểm và kết quả đạt đƣợc ................................................................. 76
2.4.2. Những vấn đề tồn tại ............................................................................. 78
Chƣơng 3- CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
SƢU TẦM, THU THẬP VÀ QUẢN LÝ PHÔNG LƢU TRỮ
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ............................................................................ 83
3.1. Giải pháp về quản lý Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh ...................... 83
3.2. Giải pháp về sƣu tầm, thu thập tài liệu thuộc Phông lƣu trữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh ..................................................................................... 87
3.3. Giải pháp về tổ chức chỉnh lý khoa học tài liệu Phông lƣu trữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh ..................................................................................... 93
3.4. Các giải pháp khác có liên quan ............................................................. 100
3.4.1. Đa dạng hoá các hình thức khai thác, sử dụng tài liệu
thuộc Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh ................................................... 100
3.4.2. Về công tác tổ chức, cán bộ ................................................................. 103
ban hành Quyết định số 89-QĐ/TW về việc quản lý tập trung toàn bộ tài liệu
lƣu trữ về thân thế, sự nghiệp và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban Bí
3
thƣ khẳng định : “Toàn bộ tài liệu về thân thế, sự nghiệp hoạt động của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là di sản rất quý báu của Đảng, Nhà nƣớc và dân tộc ta,
trong đó có nhiều tài liệu thuộc loại tuyệt mật và tối mật, phải đƣợc quản lý
tập trung thống nhất, sử dụng theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Bí thƣ.
Không một cá nhân, tổ chức nào đƣợc giữ lại để dùng riêng những
tài liệu lƣu trữ về thân thế, sự nghiệp, hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và bản sao những tài liệu mật của Ngƣời và liên quan đến Ngƣời chƣa đƣợc
phép công bố” [19, tr. 42].
Ngày 10-10-1989, Ban Bí thƣ ban hành Quyết định số 94-QĐ/TW về
việc thành lập Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm mục đích tập trung
thống nhất, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả các tài liệu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế khu vực và thế giới diễn biến
phức tạp, khó lƣờng, sự suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chƣa đƣợc đẩy lùi; các thế lực thù
địch đang gia tăng chống phá sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc
ta, mƣu toan xoá bỏ nền tảng tƣ tƣởng và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, bôi
nhọ lãnh tụ, hạ bệ thần tƣợng… đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta
phải tìm hiểu, nghiên cứu về Hồ Chí Minh thông qua các văn kiện, tác phẩm
của Ngƣời để chống lại những luận điệu sai trái đó và giải đáp các vấn đề mới
nảy sinh trong thực tiễn cách mạng đất nƣớc.
Vì vậy, đòi hỏi phải sƣu tầm, thu thập đầy đủ tài liệu Phông lƣu trữ Chủ
tịch Hồ Chí Minh để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
ương Đảng(*) - Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp cao học
ngành Lƣu trữ học. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình sƣu tầm, thu thập và quản
(*)
Hiện nay “Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng” chƣa có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng; song cụm từ này đã
đƣợc đề cập tới nhiều văn bản nhƣ Quyết định 20-QĐ/TW ngày 23-9-1987 về Phông lƣu trữ Đảng Cộng sản
Việt Nam, Quyết định 21-QĐ/TW ngày 23-9-1987 thành lập Cục Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng…
5
lý Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất các giải pháp để nâng
cao hiệu quả công tác này của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.
2. Mục tiêu đề tài
- Thứ nhất, giới thiệu tổng quan về Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
- Thứ hai, nghiên cứu tình hình sƣu tầm, thu thập và quản lý tài liệu
Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp về sƣu tầm, thu thập và quản lý tài liệu
Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.
3. Phạm vi đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác sƣu tầm, thu thập và quản lý tài
liệu Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng.
Đề tài không nghiên cứu về tài liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
viết về Hồ Chủ tịch sau khi Ngƣời đã qua đời năm 1969.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài gồm :
- Tài liệu về tiểu sử và liên quan đến tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Tài liệu về hoạt động của Bác trong các cơ quan Đảng và Nhà nƣớc
nhân thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật” (1987-1988). Các đề tài này đã đề ra
các tiêu chuẩn thành lập phông lƣu trữ cá nhân của các nhà hoạt động quản lý
Nhà nƣớc, các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật để làm cơ
sở thu thập tài liệu của các cá nhân.
Giáo trình “Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ” của các tác giả Đào
Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vƣơng Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm (xuất
bản năm 1990) đã đƣa ra định nghĩa : “Phông lưu trữ cá nhân là toàn bộ tài
liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của một nhân vật riêng biệt
được đưa vào bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định. Phông lưu trữ cá
nhân thường được thành lập đối với các nhà hoạt động xuất sắc trên các lĩnh
7
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật... mà tài liệu hình thành
trong quá trình sống và hoạt động của họ có ý nghĩa chính trị, khoa học, lịch
sử và các ý nghĩa khác” [26, tr. 60].
Năm 1998, trong luận văn thạc sỹ ngành lƣu trữ và tƣ liệu học với đề
tài: “Vấn đề xây dựng phông lưu trữ cá nhân các nhà khoa học tiêu biểu tại
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn”, tác giả Nguyễn Văn Trình cho
rằng, định nghĩa phông xuất xứ cá nhân đã đƣợc nêu trong giáo trình “Lý luận
và thực tiễn công tác lƣu trữ ở Liên Xô”, xuất bản năm 1980 là chƣa bao quát
đƣợc toàn bộ tài liệu thuộc phông lƣu trữ cá nhân. Tác giả giải thích : “Trong
thực tế, tài liệu của phông lưu trữ cá nhân không những được hình thành
trong quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân, mà nó còn có một nguồn
tài liệu được sản sinh sau khi cá nhân đó qua đời” [33, tr. 07]. Cũng trong
luận văn này, tác giả đã đƣa ra hai căn cứ cơ bản làm cơ sở nghiên cứu khi
thành lập phông lƣu trữ cá nhân là ý nghĩa cuộc đời hoạt động của cá nhân và
thành phần tài liệu của phông cá nhân. Ngoài ra Nguyễn Văn Trình còn nêu
lên những căn cứ để xây dựng phông cá nhân của các nhà khoa học xã hội và
nhân văn nhƣ nhà khoa học có những công trình nghiên cứu giá trị; đƣợc tặng
Nam, số 5-2002), tác giả Phạm Thị Thu Hiền đã đề cập đến thực trạng việc
quản lý tài liệu phông lƣu trữ cá nhân của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng, trong đó
có khó khăn do chƣa xác định đƣợc ranh giới tài liệu phông cá nhân, “tính
trung bình mỗi năm, tài liệu phông lƣu trữ cá nhân nộp lƣu về Kho Lƣu trữ
Trung ƣơng khoảng gần 300 cặp, trong đó chiếm số lƣợng lớn nhất là tài liệu
của các đồng chí Tổng Bí thƣ, Thƣờng trực Bộ Chính trị - Ban Bí thƣ và đồng
chí Bí thƣ trực”, “chỉ có phông các đồng chí Tổng Bí thƣ, Thƣờng trực Bộ
Chính trị - Ban Bí thƣ và một số đồng chí lãnh đạo các ban đảng có tƣơng đối
đầy đủ tài liệu”…
Tác giả Nguyễn Lệ Nhung với bài “Tài liệu lưu trữ Đảng và công tác
nghiên cứu, biên soạn lịch sử” (Tạp chí Dấu ấn thời gian, số 4-2007) cũng
phân tích ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ Đảng và đề xuất bổ sung tài liệu còn
9
thiếu trong các phông của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng, trong đó có tài liệu
của Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Song đây cũng chỉ là những ý kiến
chung, chƣa tập trung vào việc sƣu tầm, thu thập tài liệu Phông lƣu trữ Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Trong bài viết của mình trên Tạp chí Dấu ấn thời gian, số 3-2006, “Tổ
chức khoa học tài liệu Kho Lưu trữ Trung ương Đảng - Thực trạng và kinh
nghiệm”, chúng tôi đã nêu lên sự cần thiết phải sƣu tầm, thu thập tài liệu của
Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và gần đây, trên Tạp chí Văn phòng cấp
uỷ, số 24, tháng 9-2009 với bài “Tìm hiểu công tác sưu tầm, thu thập và quản
lý tài liệu Phông lưu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh” chúng tôi đã đề cập sâu hơn
về việc sƣu tầm, thu thập và quản lý tài liệu Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, các bài viết trên cũng chƣa thực sự có những phân tích sâu,
đánh giá và đề xuất cụ thể.
Nhìn từ góc độ nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung, chúng ta dễ
dàng nhận thấy, trong thời gian qua, việc nghiên cứu đã không ngừng đƣợc
lƣu trữ; Quyết định số 20-QĐ/TW ngày 23-9-1987, Quy định 210-QĐ/TW
ngày 6-3-2009 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về Phông lƣu trữ Đảng Cộng
sản Việt Nam, Quy chế số 22-QC/TW ngày 19-10-2006 của Ban Bí thƣ Trung
ƣơng về việc thu hồi tài liệu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nƣớc đã
chuyển công tác khác, nghỉ hƣu, từ trần…
Thứ hai, giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ (1990) do
Vƣơng Đình Quyền chủ biên, cuốn Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ của
Liên Xô…
Thứ ba, các văn kiện, sách, báo, bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc
biệt là các quan điểm của Đảng ta về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong các
văn kiện ở thời kỳ đổi mới, từ Đại hội VI, VII, VIII, IX và Đại hội X. Bên
cạnh đó là các tác phẩm các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc nhƣ đồng chí
11
Trƣờng Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… viết về Hồ
Chủ tịch nhân lễ kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của Ngƣời.
Ngoài ra là các bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu trong nƣớc
hoặc nƣớc ngoài dịch ra tiếng Việt nhƣ cuốn Hồ Chí Minh của T.Lacouture,
Đồng chí Hồ Chí Minh của E.Côbelép, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sử
nghiệp của Viện Lịch sử Đảng, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử của Viện Hồ
Chí Minh và các lãnh tụ, Hồ Chí Minh - Tiểu sử của Bảo tàng Hồ Chí Minh;
các bài viết, tham luận của học giả trong và ngoài nƣớc tại Hội thảo do Uỷ
ban UNESCO của Việt Nam tổ chức nhân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của
Ngƣời.
Thứ tư, tài liệu của Kho Lƣu trữ Trung ƣơng Đảng, gồm : Phông lƣu
trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh; tài liệu các phông Ban Chấp hành Trung ƣơng,
phông đồng chí Lê Duẩn, Trƣờng Chinh… nói về cuộc đời, sự nghiệp và hoạt
động của Bác; tài liệu phông Văn phòng Trung ƣơng, Cục Lƣu trữ Trung
cũng là vấn đề cần phải phân tích tình hình thực tiễn cũng nhƣ các vấn đề lý
luận liên quan để luận giải làm sáng tỏ yêu cầu phải thu thập, sƣu tầm tài liệu
lƣu trữ của Ngƣời… Đồng thời, cũng thông qua phƣơng pháp này, chúng tôi
nghiên cứu một cách vừa khái quát, vừa cụ thể để tìm ra cái chung và cái
riêng trong việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp khảo sát : Tài liệu lƣu trữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
hiện nay nằm rải rác ở nhiều kho lƣu trữ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Do đó, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để khảo sát tình hình thực tế tài
liệu lƣu trữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kho Lƣu trữ Trung ƣơng và một số
kho lƣu trữ của Nhà nƣớc. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi chú ý nghiên
cứu về các bản thảo, bản nháp, bản gốc tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
bản có bút tích của Ngƣời hoặc do tài liệu Ngƣời trực tiếp đánh máy, viết tay;
Đồng thời, chúng tôi còn khảo sát tình hình tài liệu sau các đợt đi sƣu tầm, thu
thập tài liệu của Bác ở trong nƣớc và ngoài nƣớc.
13
- Phương pháp phỏng vấn : Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã phỏng vấn
các chuyên gia, các cán bộ lƣu trữ trực tiếp quản lý Phông lƣu trữ Chủ tịch Hồ
Chí Minh tại Kho Lƣu trữ Trung ƣơng; các cán bộ từng tham gia sƣu tầm, thu
thập tài liệu của Bác và một số cán bộ có kinh nghiệm công tác của Cục Lƣu
trữ Văn phòng Trung ƣơng và các cơ quan lƣu trữ, bảo tàng, viện nghiên cứu
có liên quan.
8. Bố cục đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, đề tài có bố cục nhƣ sau :
Chương 1- Tổng quan về Phông lưu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đây là chƣơng cơ sở đặt nền tảng cho các chƣơng sau. Ở chƣơng này
chúng tôi đề cập một số vấn đề cơ bản của phông lƣu trữ cá nhân; tiểu sử hoạt
động của Chủ tịch Hồ Chí Minh; khái niệm, nội dung, thành phần, đặc điểm,
Nguyễn Quốc Dũng
15
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ PHÔNG LƢU TRỮ
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1.1. Sơ lƣợc tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 trong một gia đình nhà nho
nghèo thuộc thành phần nông dân ở thôn Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam
Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền cách mạng từ lâu đời [35, tr. 18].
Cha là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862 tại Kim
Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Năm 1901, ông thi Hội và đậu phó bảng. Tuy đỗ
cao nhƣng vẫn sống rất thanh bạch, khiêm tốn, ghét thói xu nịnh, cam phận
của các quan lại triều đình nhà Nguyễn.
Mẹ là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868 trong một gia đình nho học. Bà
là một phụ nữ thông minh, hiền hậu đảm đang, sống nghề làm ruộng, dệt vải
và chăm lo dạy dỗ các con. Bà qua đời tại Huế năm 1901 khi mới 33 tuổi.
Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung. Trong nhiều năm hoạt động lấy
tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và nhiều tên khác nhƣ Lý Thuỵ,
Anh Ba, Vƣơng Sơn Nhi, Chàng Vƣơng, Tống Văn Sơ, Hồ Quang, Thầu Chín
[30, tr. 628]...
Năm 1905, Ngƣời vào Huế, học trƣờng Quốc học. Nhƣng vì nhận thấy
“nhà trƣờng Pháp - Việt” chỉ nhằm mục đích đào tạo ra những ngƣời thừa
hành ngoan ngoãn, những tên đầy tớ trung thành của bọn đế quốc và phong
kiến nên Ngƣời đã bỏ học vào Phan Thiết dạy ở một trƣờng tƣ. Không lâu sau
Ngƣời thôi dạy học, vào Sài Gòn học nghề [35, tr. 19]. Nam Kỳ dƣới chế độ
Tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số ngƣời yêu nƣớc lập
Hội liên hiệp thuộc địa nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng giải
17
phóng dân tộc. Năm 1922, Hội liên hiệp thuộc địa cho xuất bản tờ báo Le
Paria (Ngƣời cùng khổ). Trong thời gian này, Ngƣời đã viết tác phẩm nổi
tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp” không chỉ dừng lại ở việc tố cáo tội ác
của chủ nghĩa đế quốc, mà điều quan trọng là đã nêu lên những luận điểm cơ
bản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa.
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rời Pháp sang Liên Xô để dự Đại
hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924). Tại Đại
hội, Ngƣời đã trình bày lập trƣờng, quan điểm của mình về cách mạng thuộc
địa và đã đƣợc Đại hội hoan nghênh.
Ngày 11-11-1924, Ngƣời đến Quảng Châu (Trung Quốc) để xây dựng
phong trào cách mạng trong nƣớc. Ngƣời đã chọn một số thanh niên yêu nƣớc
ở Quảng Châu và một số ở trong nƣớc để huấn luyện chính trị, đào tạo thành
cán bộ cách mạng, rồi đƣa họ trở về nƣớc hoạt động trong phong trào công
nhân và nông dân. Tại lớp huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc đã cùng một số đồng
chí khác trực tiếp giảng bài cho học viên. Những bài giảng của Ngƣời sau đó
đƣợc tập hợp in thành sách mang tên “Đƣờng kách mệnh”, xuất hiện năm
1927.
Tháng 6-1925, tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Việt Nam
thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau đó xuất bản báo Thanh niên để truyền
bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công nhân và nhân dân ta.
Tháng 5-1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Matxcơva, sau đó
đi Berlin tham dự Hội nghị Ban chấp hành mở rộng của Liên đoàn chống
chiến tranh đế quốc tại Brucxen (Bỉ), đi Ý và trở về Xiêm (Thái Lan) vào mùa
thu năm 1928.
Lúc này Quốc tế Cộng sản cũng đã có chỉ thị yêu cầu Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng tiến hành hợp nhất
các tổ chức cộng sản của Việt Nam thành một đảng thống nhất, tuy nhiên Ngƣời chƣa nhận đƣợc văn bản
trên thì đã chủ động sang Hồng Kông triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
19
Tháng 9-1938 Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về công tác trong Đảng
Cộng sản Đông Dƣơng theo Quyết định số 60 của Ban Tổ chức Viện nghiên
cứu khoa học về Dân tộc và thuộc địa.
Trong thời gian này (từ 1930 đến 1940), tuy Nguyễn Ái Quốc không ở
trong nƣớc nhƣng luôn theo dõi sát phong trào cách mạng nƣớc nhà và có
những chỉ thị quý báu cho Ban chỉ huy ở ngoài và Ban Chấp hành Trung
ƣơng Đảng ta.
Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nƣớc, Ngƣời chọn Cao Bằng làm
căn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Sau đó, Ngƣời
chủ trì Hội nghị Trung ƣơng 8. Đây là Hội nghị có nhiều nội dung quan trọng
để chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa năm 1945 sau này.
Tháng 8-1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh sang Trung
Quốc để gặp Tƣởng Giới Thạch nhằm phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam
và Trung Quốc. Tuy nhiên, ngày 28-8-1942 Ngƣời bị bọn hƣơng cảnh Quốc
dân đảng bắt ở phố Túc Vinh thuộc huyện Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây [28, tr.
192].
Trong thời gian bị Quốc dân đảng bắt, Ngƣời bị giải qua gần 30 nhà lao
của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây và trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã
viết tập thơ Nhật ký trong tù bằng chữ Hán. Nhật ký trong tù không những là
một văn kiện lịch sử tố cáo tội ác của Quốc dân đảng mà còn là một kiệt tác
văn học của nƣớc nhà.
Tháng 9-1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng, đến tháng 12-1944
hƣởng thọ 79 tuổi.
*
*
*
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp
của một ngƣời cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ
quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ
21
quốc, vì nhân dân, vì lý tƣởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các
dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gƣơng chói lọi của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, của tinh thần đoàn kết chiến đấu, của đạo đức giản dị, khiêm
tốn; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ. Tên tuổi của Ngƣời gắn liền với
những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến
nay và tƣợng trƣng cho thời đại hiển hách nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam
[4, tr. 233].
Đã có rất nhiều lời ngợi ca về Ngƣời.
Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ƣơng do đồng chí Lê Duẩn, Bí thƣ
thứ nhất đọc tại Lễ truy điệu Ngƣời ngày 9-9-1969 đánh giá :
“Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô
cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”, “Người là
tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất
khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử”, “Hồ Chủ tịch là
tượng trưng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn
với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trái tim, khối óc của Người dành cho dân tộc Việt
Khái niệm phông lƣu trữ cá nhân đã đƣợc đề cập đến trong một số tác
phẩm nhƣ sau :
Cuốn “Lý luận và thực tiễn công tác lƣu trữ của Liên Xô” do Phòng chế
độ Nghiệp vụ Cục Lƣu trữ Phủ Thủ tƣớng dịch và ấn hành năm 1967 định
nghĩa: “Phông cá nhân là một khối tài liệu hoàn chỉnh hình thành theo quá
trình lịch sử được tích luỹ nên trong sự nghiệp hoạt động của một cá nhân,
của một gia đình, của một gia tộc” [21, tr. 54]; giáo trình “Lý luận và thực
tiễn công tác lƣu trữ” do Vƣơng Đình Quyền (chủ biên) giải thích : “Phông
lưu trữ cá nhân là toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt
động của một nhân vật riêng biệt được đưa vào bảo quản trong một kho lưu
trữ nhất định. Phông lưu trữ cá nhân thường được thành lập đối với những
nhà hoạt động xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
23