Khoa Sư Phạm
Phương Pháp Dạy Học Kỹ
Thuật Công Nghiệp Ở Trường
Phổ Thông
Tác giả: Trần Thể
Biên mục: sdms
Phương pháp trình bày dụng cụ trực quan
I - BẢN CHẤT
Là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng phương tiện trực quan nhằm giúp
học sinh trực tiếp tri giác, cảm giác tài liệu mới, trên cơ sở đó nắm được bản chất đối
tượng kỹ thuật.
II - CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY DỤNG CỤ
TRỰC QUAN
1. Cơ sở triết học:
Bản chất của quá trình dạy học là tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm đạt
được mục đích dạy học. Con đường nhận thức đã được Lênin chỉ rõ:“ Từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan”. Theo quan điểm này,
trực quan là xuất phát điểm của nhận thức.Trực quan sinh động được đặc trưng bởi quá
trình tâm lý:cảm giác, tri giác, biểu tượng. Sự nhận thức này chỉ mới phản ánh thuộc tính
bên ngoài của sự vật hiện tượng., để nhận thức bên trong thì cần xử lý trong óc những
hình tượng cảm tính, loại bỏ những khia cạnh ngẫu nhiên, biến đổi, giữ lại những dấu
hiệu cơ bản. Bản chất của sự vật, hiện tượng được nắm vững nhờ tư duy.
Như vậy trực quan sinh động - nhận thức cảm tính và tư duy - nhận thức lý tính là những
người có khả năng tri giác một khối lượng thông tin khác nhau trong cùng một thời gian.
Để đánh giá nhận xét đó, người ta đưa ra khái niệm năng lực dẫn thông của đường tiếp
thu thông tin.
Năng lực dẫn thông là khả năng tiếp nhận thông tin trong một đơn vị thời gian. Cụ thể:
•
Thị giác:3.000.000
Bít/giây
•
Thích giác:30.000 -50.000
Bít/giây
•
Xúc giác:2-10
Bít/giây
•
Khứu giác:10 -100
Bít/giây
Như thế năng lực dẫn thông của đường tiếp thu thông tin bằng thị giác lớn gấp 100 lần
đương thính giác. Điều này nói lên ưu điểm của phương pháp trình bày trực quan so với
phương tiện trực quan.
III - CÁC LOẠI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC TRỰC QUAN
1.Vai trò
Phương tiện dạy học là tất cả những phương tiện cần thiết giúp giáo viên và học sinh tiến
hành tổ chức hợp lý, có hiệu quả qúa trình học tập. Nhiều nhà giáo dục cho rằng phương
tiện giáo dục phải là một điều kiện chủ yếu tạo nên chất lượng đào tạo trong quá trình
dạy học
2. Phân loại phương tiện dạy học trực quan
Có nhiều cách phân loại các phương tiện dạy học trực quan, nhưng thường được chia
làm hai nhóm sau đây :
2. 1 . Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học.
Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học lại được phân chia theo cấu tạo và tính chất :
•
•
Dựa vào sự tác động của phương tiện trực quan vào các giác quan người ta chia
ra:phương tiện trực quan nhìn, nghe và sờ mó.
Dựa vào nguồn gốc, tài liệu trực quan chia thành hai nhóm:vật thể tự nhiên
( nguyên liệu, phôi liệu, máy và các vật thể tự nhiên khác ) ; vật thể nhân tạo ( mô
hình, ảnh chụp, sơ đồ, bản vẽ kỹ thuật, băng hình.. )
2. 2 . Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học.
Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là các phương tiện kỹ thuật nghe
nhìn giúp cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn, các tài liệu hướng dẫn ôn tập, giải
bài tập …
3. Yêu cầu đối với các phương tiện trực quan
3. 1 . Tính sư phạm
- Giới thiệu nguyên lý hoạt động của vật phẩm kỹ thuật
1 . Hình thành khái niệm kỹ thuật
Khái niệm kỹ thuật là hình thức của tư duy kỹ thuật, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản
của một (hay nhóm ) đối tượng kỹ thuật.
Hình thành khái niệm kỹ thuật là kết quả của quá trình tư duy, phát hiện sự giống nhau
giữa các đối tượng kỹ thuật, phân chia chúng thành các phần, tách ra thành những dấu
hiệu cơ bản, đưa đối tượng có dấu hiệu cơ bản như nhau thành một nhóm và biểu thị
chúng thành tên gọi. Như thế ta đã tạo ra một trong những hình thức của tư duy:Khái
niệm kỹ thuật
Những dấu hiệu quy định bản chất bên trong, đặc trưng chất lượng của đối tượng kỹ
thuật gọi là dấu hiệu cơ bản.
Trình bày trực quan để hình thành khái niệm kỹ thuật có thể theo sơ đồ sau:
Ở đây: quan sát, phân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa giữ vai trò quan trọng.
Phương pháp chung để giảng dạy khái niệm kỹ thuật đó là:Các khái niệm kỹ thuật có
mức độ phản ánh phức tạp khác nhau, tùy từng hiện tượng hay quá trình kỹ thuật mà nó
phản ánh. Trình độ tri thức, trí tuệ, trí nhớ, vốn sống cuả học sinh rất khác nhau. Do đó
không thể có một quy luật chung, một sơ đồ chung duy nhất để dạy khái niệm cho học
sinh.Tuy nhiên căn cứ vào cấu trúc chung của khái niệm có thể tìm thấy những yếu tố
cần thiết lập nên các bước để giảng dạy giảng dạy cho học sinh.
Phân tích rõ bản chất kỹ thuật của khái niệm:Trước hết cần đặt vấn đề để học sinh thấy
rõ hoàn cảnh xuất hiện của khái niệm, tức là tìm ra dấu hiệu mới trong kỹ thuật.
Nêu rõ đặc điểm định lượng của khái niệm:Phân tích sự liên quan định lượng giữa khái
niệm mới và khái niệm cũ, do tính chất của nhiều khái niệm là được hình thành trên cơ
sở mối liên hệ với các khái niệm cũ. Hơn nữa để khái niệm hoàn chỉnh thì trong trường
hợp có thể, việc dử dụng công cụ toán học cần đặc biệt lưu ý.
Phân tích rõ định nghĩa khái niệm:Việc định nghĩa khái niệm giữ vai trò quan trọng
trong sự lĩnh hội khái niệm. Tâm lý học đã nên rõ rằng trong định nghĩa có chứa đựng
hiện một hiệu điện thế U2, mạch thưc cấp kín có dòng điện I2.
Người ta đã chứng minh
U1 / U2 = N2 / N1 = I2 / I1 = K
K là hệ số biên sáp
K > 1:hạ thế
K < 1:tăng thế
Định nghĩa:Máy biến thế là thiết bị điện dùng để biến đổi hiệu điện thế của dòng điện
xoay chiều một pha và không làm thay đổi tần số của nó
Vận dụng khái niệm vào thực hành: + Hướng dẫn sử dụng máy biến thế
+ Tìm hiểu máy biến thế dùng trong gia đình
Khi giảng dạy, giáo viên chuẩn bị một máy biến áp đã tháo vỏ, để học sinh quan sát các
bộ phận
2 .Trình bày cấu tạo của vật phẩm kỹ thuật.
Vật phẩm kỹ thuật rất đa dạng, chiếm phần đáng kể trong nội dung chương trình KTCN
phổ thông
Các yếu tố cấu tạo đã được SGK trình bày bằng bản vẽ, sơ đồ, đồ thị…Mặc dù vậy, sử
dụng vật thể trực quan và phép phân tích các máy móc để dạy cấu tạo có giá trị lớn về
mặt lý luận dạy học.
Trình bày cấu tạo vật phẩm kỹ thuật là vạch ra các phần tử cấu thành và làm sáng tỏ
chức năng, mối liên hệ giữa chúng. Mối liên hệ này thể hiện trên hai mặt:sự ghép nối và
sự hoạt động liên hợp.
Trình tự sử dụng phương tiện trực quan có thể như sau :
•
•
•
•
•
Dạy học theo quan điểm giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Từ nguyên lý cấu tạo của máy
khoan mà học sinh suy luận đến cấu tạo của các máy công cụ khác. Các máy công cụ
thường gồm 5 bộ phận như trên
Để dạy cấu tạo của thiết bị máy móc, người ta thường sử dụng vật thật kết hợp với tranh
vẽ phóng to để học sinh dễ quan sát hiện tượng. Phương pháp dạy học ở đây là kết hợp
đàm thoại với trực quan, lời nói của giáo viên có tác dụng hướng dẫn học sinh quan sát,
nêu nhận xét và phân tích để rút ra kết luận (chẳng hạn khi dạy cấu tạo của mũi khoan)
3. Trình bày nguyên lý hoạt động của thiết bị kỹ thuật
Nguyên lý hoạt động của thiết bị máy móc kỹ thuật thương là có nội dung trừu tượng.
Khi trình bày hoạt động là làm bộc lộ sự liên hợp của các phần tử phản ánh quá trình
biến đổi năng lượng, chuyển động trong máy móc.
Việc sử dụng các vật thật ở đây kém hiệu quả hơn các hình vẽ. Phương pháp dạy học
thương áp dụng là giải thích trên hình vẽ sơ đồ, sau đó mô tả minh họa bằng sơ đồ động.
Trình bay nguyên lý hoạt động của máy móc theo trình tự :
•
•
•
•
•
•
•
Nêu khái quát cấu tạo của vật phẩm kỹ thuật trên sơ đồ cấu tạo
Nêu nhiệm vụ, chức năng riêng của vật phẩm kỹ thuật
Nói rõ cách thưc sử dụng vật phẩm kỹ thuật:điều kiện làm việc, bảo dưỡng, điều
chỉnh…
Vạch ra hoạt động của mỗi phần tử vật phẩm kỹ thuật
Nêu mối liên hệ giữa các phần tử trong diễn biến hoạt động, sự biến đổi năng
lượng, chuyển động..
Quan sát sự hoạt động tổng thể của vật phẩm kỹ thuật
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KTCN Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Đại cương về phương pháp dạy kỹ thuật công nghiệp
Khái Niệm
1. Khái niệm phương pháp:
Phương pháp là hình thức vận động bên trong của nội dung, là cách thức, con
đường để đạt tơi mục đích nhất định, giải quyết những nhiệm vụ nhất định.
Phương phứp bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở của đối tượng nhất định,
xuất phát từ mục đích để tìm ra phương pháp hành động.
Phương pháp cũng được xác định trên cơ sở nội dung, đặc điểm của đối tượng.
Người ta chỉ hành động có phương pháp khi đã có biểu tượng về đối tượng,
cấu trức bên trong của đối tượng hoăc hiểu được mục đích. Đối tượng nào,
mục đích nào thì có phương pháp đó, không có phương pháp vạn năng cho mọi
đối tượng, mọi mục đích.
Khi có hệ thông phương pháp hoàn chỉnh thì bản thân nó tác động trở lại nội
dung, là nội dung đạt chất lượng cao, mục đích sáng rõ. Nội dung quy định
phương pháp, phương pháp chịu sự chi phối của mục đích nội dung. Nhưng nó
có tác dụng ngược trở lại giúp đạt mục đích và nội dung.
Quan hệ biện chứng này có thể mô tả qua sơ đồ:
2. Phương pháp dạy học
Trong qua trình dạy học, phương pháp dạy học là một nhân tố cơ bản, quan
trọng nhất. Cùng một nội dung nhưng người đọc có thể chiếm lĩnh tri thưc, kỹ
năng kỹ xảo theo những phương pháp khác nhau và kết quả đạt được cũng
khác nhau.
Với nghệ thuật vận dụng, phối hợp các phương pháp khác nhau của giáo viên
thì học sinh sẽ học tập một cách say mê, hứng thú, say mê và tích cực,sáng tạo
- Mức độ nhận biết : nhận biết được đối tượng kỹ thuật, phân biệt và hiểu được
các thuâọc tính cơ bản của chúng.
- Mức độ tái hiện : ghi nhớ nội dung tri thức và có thể nhớ lại, tái hiện lại một
cách đầy đủ, chính xác.
- Mức độ kỹ năng : biết vận dụng những tri thưc đã học vào các tình huống
quen thuộc trong thực tiễn.
- Mục đích biến hóa : vận dụng một cách thông minh, sáng tạo, linh hoạt các tri
thức vào tình huống mới trong thực tiễn.
Mặt khác phương pháp còn tạo điều kiện phát triển ở học sinh những phẩm
chất, năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo, giúp học sinh hình
thành các quan điểm, niềm tin, phẩm chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ.
Phân loại các phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học rất đa dang, vì hoạt động dạy và học chịu sự chi phối của
nhiều mục đích và nội dung, và cấu trúc, bản chất của phương pháp dạy học
cũng rất phức tạp. Việc phân loại phương pháp dạy học còn nhiều tranh luận,
chưa thống nhất.
Nhưng nhìn chung việc phân loại đều dựa vào quan điểm sau :
1. Căn cứ vào mục đích của lý luận dạy học
M.A Đanhilốp và B.P. Exipốp phân ra các nhóm sau :
- Nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
- Cũng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
- Ứng dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Kiểm tra, đánh giá kỹ năng, kỹ xảo
2. Dựa vào nguồn kiến thức và tính đặc trưng của sự tri giác thông tin
E.I Perôpxki vad E.I Golant … đã phân ra các nhóm sau :
- Phương pháp dùng ngôn ngữ
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp thực hành
3. Dựa vào đặc trưng hoạt động nhận thức của học sinh
điểm toàn diện, hệ thống trong từng sự phân loại. Các phương pháp dạy học
bản thân nó đảm bảo tính khách quan khoa học nhưng cần chú ý đến thực tiễn
dạy học bộ môn KTCN ở trường phổ thông.
Tính khách quan khoa học của sự phân loại thể hiện ở chỗ nó tuân theo các quy
luật chi phối phương pháp dạy học. Các quy luật đó là mối liên hệ biện chứng
giữa mục đích, nội dung và phương pháp, sự thống nhất giữa phương pháp dạy
và phương pháp học.
Như vậy, phương hướng để xác định một hệ thống phân loại hợp lý là :
- Phân loaị phương pháp cần thể hiện hoạt động qua lại giữa thầy và trò, thể
hiện tính thống nhất, trọn vẹn của quá trình dạy học. Trong đó thầy giữ vao trò
chỉ đạo, trò giữ vai trò chủ động. Đây là hai mặt không thể tách rời.
- Do biểu hiện nhiều mặt của phương pháp mà việc phân loại chúng phải cùng
một lúc kết hợp nhiều cơ sở với nhau. Trong mỗi bài dạy cần phối hợp nhiều
phương pháp khác nhau để phù hợp với mục đích, nội dung bài dạy.
- Sau đây là sơ đồ phân loại các PPDH:
Môn phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp
I. VỊ TRÍ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KỸ THUÂT CÔNG
NGHIỆP
1. Vị trí môn phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp
Phương pháy dạy học kỹ thuật công ngiệp là một bộ phận của khoa học giáo
dục. Cụ thể, nó là một ngành của lý luận dạy học. Trong lý luận dạy học có hai
ngành chủ yếu :
- Lý luận dạy học đại cương : nghiên cứu bản chất, nhiện vụ, nguyên tắc và quy
luật chung của quá trình dạy học, nghiên cứu nội dung phương pháp và các
hình thức tổ chức dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung (phù
hợp cho mọi loại hình trường, mọi môn học)
+/ Dạy và học môn KTCN trong những điều kiện nào ?
II. NHIỆM VỤ CỦA MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY- HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1. Nhiệm vụ chung của môn phương pháp dạy - học KTCN
Nhiệm vụ chung của môn phương pháp dạy - học KTCN là nghiên cứu quá trình
dạy học KTCN phổ thông để tìm ra những quy luật của nó và đề ra các phương
pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy học, cụ thể là :
1.1 Về môn học: xác định những nguyên tắc lựa chọn kiến thức, xây dựng nội
dung môn học KTCN dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuật, bao gồm
chiều rộng và chiều sâu, trình tự xắp xếp cả về lý thuyết lẫn thực hành, xây
dựng chương trình và biên soạn những tài liệu cần thiết cho bộ môn.
1.2 Về giảng dạy: bằng nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tìm ra những
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học bộ môn có hiệu quả, đảm bảo phát
triển tư duy, năng lực nhận thức, hành động, ý thức tự giác, tự lực, tích cực của
học sinh.
1. 3 Về mặt học tập: nghiên cứu và chỉ ra những con đường tiếp thu tri thức
nhanh nhất, dựa trên đặc điểm của quá trình nhận thức kỹ thuật.
1.4 Môn phương pháp dạy học KTCN còn có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế
tạo những thiết bị, đồ dùng dạy học, các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm,
thực hành công nghiệp cho các trường phổ thông, đồng thời nghiên cứu việc sử
dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học kỹ thuật như băng hình,
bản trong, phần mềm dạy học trên máy tính điện tử…
Nói tóm lại: nhiệm vụ chung của môn phương pháp dạy học KTCN là phát hiện
ra những mối quan hệ biện chứng và có tính quy luật giữa việc dạy việc học và
nội dung bộ môn KTCN cũng như những điều kiện, phương tiện cần thiết để
nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học bộ môn, đó là nhiêm vụ chủ yếu của
phương pháp dạy học KTCN.
Học phần 2 - Phương pháp dạy học các phân môn KTCN ở trường phổ
thông bao gồm:
+/ Phương pháp dạy học vẽ kỹ thuật
+/ Phương pháp dạy học gia công cơ khí
+/ Phương pháp dạy học điện kỹ thuật
+/ Phương pháp dạy học thực hành các môn học trên.
IV - MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KTCN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC
Phương pháp dạy học KTCN có tính liên môn, dó đó nó liên quan đến các môn
học khác, cụ thể là :
1. Với môn KTCN ở trường phổ thông
Nội dung môn KTCN quy định phương pháp dạy học KTCN. Do đó mối liên hệ
giữa môn KTCN với phương pháp dạy học KTCN ở trường phổ thông là mối
liên hệ giữa nội dung và phương pháp, giữa nội dung và hình thưc tự vận động
bên trong của nó.
Mặt khác, nội dung các phân môn KTCN phổ thông đều được xây dựng, chắt
lọc từ những kết quả nghiên cứu của những ngành khoa học - kỹ thuật - công
nghệ tương ứng có liên quan. Chúng được gia công lại, sắp xếp lại một cách có
hệ thống phù hợp với logic kỹ thuật - công nghệ và logic của quá trình nhận
thức nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Do đó nghiên cứu
về phương pháp dạy học KTCN bao giờ cũng gắn liền với việc nghiên cứu môn
KTCN và các thành tựu kỹ thuật – công nghệ có liên quan.
2. Với triết học
Triết học duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận quan trọng của
phương pháp dạy học KTCN. Mối liên hệ biện chứng giữa sự vật và hiện tượng,
giữa sự phát triển các quy luật cơ bản và hệ quả của chúng, cũng như lý luận
về nhận thức của triết học duy vật biện chứng là tiền đề cho việc xem xét,
nghiên cưu, đánh giá quá trình dạy học kỹ thuật một cách khách quan. Đồng
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Đó là sự thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo
dục, giữa dạy chữ và dạy người. Đó chính là nguyên tắc dạy học, nguyên tắc
đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học của
giáo dục học.
Dựa trên nội dung chương trình môn học đã quy định, khi xây dựng kế hoạch
dạy học, giáo viên phải chọn những tri thức cơ bản, phù hợp với thực tiễn xã
hội, với nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường, nhằm chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học lên trung học hoăc bước vào cuộc sống có cơ sở kiến thức
để tham gia tích cựu vào đời sống xã hội.
Về nội dung dạy học, cần làm cho học sinh hiểu nguồn gốc thực tiễn của kỹ
thuật, nó được hình thành và phát triển do nhu cầu thực tiễn và trở lại phục vụ
thực tiễn. Mặt khác khi khai thác vốn sống và kinh nghiệm của học sinh cho bài
học lý thuyết thì phải ứng dụng ngay những tri thức mới đó vào thực tiễn. Điều
đó càng làm sáng tỏ nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong dạy học của giáo dục học.
Khi tiến hành hoạt động dạy học, giáo viên cần nắm vững đặc điểm từng cá
nhân, của cả lớp về năng lực, động cơ, thái độ học tập …trên cơ sở đó giáo
viên phân loại học sinh (giỏi,khá, trung bình..), tiến hành lựa chọn, nội dung,
phương pháp, hình thưc tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng. Khi giảng
dạy, giáo viên phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, cá biệt hóa hoạt
động dạy học, chú trọng những học sinh khá, giỏi, có năng khiếu đặc biệt và cả
những học sinh yếu, chậm phát triển trí tuệ. Dạy học như thế có nghĩa là quán
triệt nguyên tắc sự thống nhất giữa tính vừa sức chung với tính vừa sức riêng
trong dạy học.
4. Với tâm lí học
Những kết quả nghiên cứu của tâm lý học bao giờ cũng là cơ sở quan trọng cho
việc nghiên cứu tiếp theo của phương pháp dạy học KTCN. Chẳng hạn, những
nghiên cứu về quá trình nhận thức, về tư duy và tư duy kĩ thuật, về tâm lý học
+/ Đặc điểm định lượng của khái niệm
+/ Định nghiã khái niệm kỹ thuật
+/Vận dụng khái niệm kỹ thuật vào thực tiễn
Các phần của bài lên lớp và hình thành khái niệm kỹ thuật vừa trình bày ở trên
chính là tuân thủ những quy luật của lôgic.
Tóm lại: mối liên hệ giữa phương pháp dạy học KTCN với các khoa học nêu
trên là khách quan. Chúng tác động, quy định, ràng buộc lẫn nhau. Mối liên hệ
này cần được tuân thủ khi nghiên cứu lý thuyết và thực hành dạy học bộ môn
để quá trình này được trọn vẹn, không phiến diện và có được cơ sở vũng chắc.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KTCN.
Là một bộ phận của khoa học giáo dục, phương pháp dạy học KTCN cùng với
những phương pháp nghiên cứu thường dùng trong nghiên cứu khoa học giáo
dục đó là :
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận (nghiên cứu lý thuyết)
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là nhóm các phương pháp thu thập thông tin
khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác
tư duy lôgic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết, liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Nhờ đó mà định hướng được mục đích, nhiệm vu , nội dung phạm
vi và mức độ nghiên cứu của đề tài, mang tính kế thừa trong khoa học, không
trùng lập. Nhóm phương pháp lý thuyết gồm những phương pháp cụ thể sau
đây :
1. 1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
Phương pháp phân tích lý thuyết là phương pháp nghiên cứu các văn bản, tài
liệu lý luận liên quan đến đề tài, phân tích chúng thành những bộ phận, những
mặt theo thời gian để hiểu chúng một cách sâu sắc đầy đủ.
Phân tích lý thuyết còn nhằm tìm ra những xu hướng, trường phái nghiên cứu
của từng tác giả và từ đó chọn lọc những thông tin quan trọng phục vụ cho đề
tượng.
+/ Xử lý số liệu : các tài liệu thu thập điều có thể phân loại bằng phương pháp
thủ công hay xử lý bằng công thưc toán học, thống kê bằng máy tính, để có kết
quả khách quan.
*/ Những yêu cầu của phương pháp điều tra :
+/ Khi tiến hành điều tra thường đặt ra những câu hỏi. Câu hỏi có thể là câu tự
luận hay trả lời trắc nghiệm khách quan. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, sát
mục đích nghiên cứu. Câu hỏi không thể trả lời bằng cách đoán mò.
+/ Hệ thống câu hỏi phải phục vụ cho mục đích điều tra, mỗi câu hỏi phải thu
được một thông tin gì đó từ phía người được điều tra (giáo viên, học sinh, phụ
huynh học sinh..)
+/ Kết quả điều tra phải là những kết quả khách quan.
3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Bản chất của phương pháp này là : trên cơ sở của lý luận dạy học, phân tích
thực tiễn hoạt động dạy học kỹ thuật để xác định những điều kiện, nguyên nhân
của thành công và rút ra những bài học có tính quy luật của các kinh nghiệm
tiên tiến, làm phong phú thêm lý luận.
Nội dung của phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
+/ Xác định đối tượng cần tổng kết : đó là những kinh nghiệm nảy sinh trong
quá trình dạy học kỹ thuật, có hiệu quả rõ rệt trong thực tiễn về nội dung và
phương pháp tổ chức dạy học.
+/ Mô tả lại quá trình phát triển của kinh nghiệm theo trình tự lịch sử, hoàn cảnh
nảy sinh kinh nghiệm. Các yêu cầu khách quan và những động lực thúc đẩy sự
phát triển của kinh nghiệm. Những diễn biến cơ bản và những biện pháp tác
động những chuyển biến đó.
+/ Khái quát hóa kinh nghiệm : đó là hệ thống hóa kinh nghiệm, phân tích để tìm
ra mối liên hệ có tính quy luật của những biện pháp đã thực hiện và hiệu quả
mang lại trong việc dạy học KTCN.
Yêu cầu:
+/ Phải được tổ chức sao cho chỉ ra được mối liên hệ giữa những tác động mới
đưa vào và kết quả của nó.
Muốn vậy cần phải:
+/ Chọn mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng sao cho ngoài yếu tố tác động thì
các yếu tố còn lại của các mẫu là tương đương.
+/ Tìm cách khống chế hoặc giữ ổn định các yếu tố khác trong quá trình thực
nghiệm sư phạm.
+/ Xây dựng các thang đo, công cụ đo để ghi lại khách quan kết quả thực
nghiệm.
Trong quá trình thực nghiệm phải từng bước đánh giá, điều chỉnh để quá trình
thực nghiệm diễn ra tự nhiên theo kế hoạch. Thực nghiệm cần được tiến hành
lập lại để giảm bớt các yếu tố ngẫu nhiên của kết quả đo được.
Kết quả cuối cùng phải được xử lý định lượng và phân tích định tính một cách
sâu sắc nhờ thống kê toán học. Những số liệu thu được trong thực nghiệm sư
phạm (điểm số của học sinh, kết quả trả lời trong phiếu điều tra…) là những đại
lượng ngẫu nhiên, không ổn định (do phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác trong quá
trình dạy học).Vì thế phải ứng dụng thống kê toán học để phân tích trên một số
hữu hạn giá trị ngẫu nhiên, tìm ra những thông số đặc trưng cho toàn bộ hiện
tượng nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm có thể được mô tả, thống kê bằng
nhiều cách như : lập bảng phân phối tần suất, vẽ đồ thị, tính các tham số đặc
trưng thống kê và kiểm tra lại nhờ các quy tắc kiểm định giả thuyết thống kê.
Các phương pháp nêu trên thường được sử dụng kết hợp, bổ sung lẫn nhau,
tùy theo đặc điểm, tính chất của từng đề tài cụ thể.
CÂU HỎI ÔN TẬP:
1. Trình bày đối tượng nghiên cứu và các đối tượng của môn phương pháp dạy
học KTCN. Cho ví dụ minh họa.
2. Phân tích mối liên hệ giữa phương pháp dạy học KTCN với các khoa học
mục đích kinh tế, và tạo ra những sản phẩm của cải vật chất cũng như những
dịch vụ thương nghiệp.
Như vậy khái niệm công nghệ được biểu hiện rộng hơn khái niệm kỹ thuật, xét
về chức năng thì khoa học có nhiệm vụ tìm ra quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy. Còn công nghệ áp dụng các nguyên lý, quy luật của khoa học vào sản
xuất kỹ thuật.
Sự phát triển của KH – KT - CN tạo ra bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất và
nâng loài người về trình độ văn minh mới.
2. Ba làn sóng văn minh
Theo sự phát triển của KH – KT - CN có thể chia văn minh của loài người ra ba
lan sóng.
2.1 Làn sóng văn minh nông nghiệp.
Cùng ra đời với sự xuất hiện loài người cho đến thế kỉ XV. Loài người thoát khỏi
thế giới động vật khi biết lao động, biết tạo ra công cụ lao động. Công cụ lao
động đã giúp con người tạo ra quy luật trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt chăn
nuôi gắn liền với các điều kiện tự nhiên.
2. 2 Làn sóng văn minh công nghiệp.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ XV cho đến thế kỷ XIX và chia thành hai thời kỳ:
2. 2. 1 Thời kì thứ nhất (XV-XVIII). Kỹ thuật vẫn thủ công, nhưng với quy mô
sản xuất lớn, máy do thợ lành nghề chế tạo nhưng chưa dựa vào lý thuyết khoa
học và kỹ thuật cơ sở. Công cụ máy móc ra đời đơn chiếc, độ chính xác chưa
cao, độ bền thấp.
2. 2. 2 Thời kì thứ hai (nữa sau thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX). Thời kỳ này xuất
hiện cuộc cách mạng công nghiệp, khởi đầu là sự ra đời của “thoi bay” (1740).
Máy và hệ thống máy dựa trên kỹ thuật cơ khí và công nghệ máy, sản xuất dây
chuyền xuất hiện, khai thác mỏ, biển, núi… phát triển.
2.3 Làn sóng văn minh trí tụê.
Bắt đầu từ nửa thế kỷ XIX, đặc biệt từ 1970 trở lại đây. Cuộc cánh mạng khoa
học công nghệ hiện đại xảy ra làm cho phương pháp sản xuất thay đổi về cơ
bản. Tin học ra đời là điều kiện để công nghệ thông tin phát triển. Cuộc cách
sản xuất với các đặc điểm sau đây:
+/ Lượng thông tin về KHKT tăng lên rất nhanh theo thời gian, theo sự tính toán
của các nhà khoa học thì 7 đến 10 năm lượng thông tin tăng lên gấp đôi. Hằng
năm các tạp chí khoa học trên thế giới công bố khoảng bốn triệu bài báo về
KHKT …
+/ Thời gian từ khi phát minh ra nguyên lý khoa học đến lúc ứng dụng nó vào
sản xuất ngày càng rút ngắn: máy ảnh là 112 năm, máy điện thoại 56 năm, máy
bán dẫn 5 năm, máy vi điện tử 3 năm, tia lade 2 năm….
+/ Trong KHKT xuất hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu mơí và từ đó nhiều nghề
mới xuất hiện, đồng thời nhiều nghề cũ mất đi. Trước tất yếu khách quan đó,
người lao động, cán bộ kỹ thuật phải chuyển nghề .
+/ Cơ khí hóa, tự động hóa được thực hiện một cách khẩn trương. Do đó tính
chất lao động được thay đổi nhanh chóng. Công việc năng nhọc hơn, trong môi
trường độc hài nhiều hơn…. được chuyển sang máy móc hiện đại.