MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trong đời sống hàng ngày, ngôn ngữ là phương tiện hữu hiệu để con người tiến
hành các hoạt động giao tiếp, biểu lộ suy nghĩ, cảm xúc và hành động của mình. Trong
báo chí, ngôn ngữ là phương tiện “gốc” để truyền tải thông tin tới công chúng mà các ký
hiệu, cử chỉ của con người đều không thay thế được mức độ giàu thông tin, đa hình tượng
của ngôn ngữ.
Ngày nay, báo chí thế giới đang phát triển với một tốc độ chóng mặt. Bắt đầu với
những tờ báo chép tay, đến những bản in đầu tiên; sau đó đã xuất hiện thêm các loại hình
báo chí mới như: báo phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử….
Mỗi loại hình báo chí đưa đến cho công chúng một cách tiếp cận thông tin khác
nhau: báo in đưa thông tin qua chữ viết và hình ảnh trên mặt giấy; báo phát thanh truyền
thông tin đến tai người nghe; truyền hình đưa tin bằng cả hình ảnh lẫn âm thanh; còn báo
mạng có thể đăng được những thông tin bằng cả chữ viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh và
động nhờ vào internet. Cho dù là loại hình nào đi chăng nữa thì cũng lấy ngôn ngữ là
phương tiện chuyển tải thông tin đến với công chúng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ cũng như gia tăng sự cạnh tranh với
những tờ báo khác, mỗi cơ quan, tòa soạn phải nâng cao cả chất lượng cả về nội dung,
hình thức, đặc biệt là chú trọng đến việc sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt. Đây cũng là điều
kiện tiên quyết để thu hút độc giả, tạo ra sức mạnh, sự bền vững cho tờ báo.
Tuy nhiên, do được viết trong thời gian khá eo hẹp nên chắc chắn tiểu luận còn
nhiều hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy Trần Văn
Thư để cho bài tập được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
2.
Mục đích khảo sát và nhiệm vụ khảo sát
Lựa chọn đề tài Ngôn ngữ báo chí trong thể loại phóng sự, em muốn tìm hiểu sâu
Kết cấu của bài tập
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài tập lớn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Kết quả khảo sát
Chương 3: Bài học kinh nghiệm
2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.
Ngôn ngữ và ngôn ngữ báo chí
1.
Khái niệm
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao thiệp với
nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như
vậy.
Ngôn ngữ được dùng trên các văn bản báo chí dưới các hình thức như: báo viết, báo
nói, báo hình và báo mạng điện tử được gọi là ngôn ngữ báo chí.
Báo viết là các loại in như nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tạp chí... Báo nói là các
văn bản được phát ngôn trên sóng phát thanh. Báo hình là những thông tin bằng hình ảnh
có kèm theo lời thuyết minh trên kênh truyền hình. Báo mạng điện tử sử dụng ngôn ngữ
thời gian xác định; với những con người xác định. Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn
chế tối đa việc dùng từ có tính chất mơ hồ.
2.3.
Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả mọi người trong xã hội, không
phụ thuộc nghề nghiệp, trình đọ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi,… đều là đối tượng
phục vụ của báo chí. Đây vừa là nơi để họ tiếp nhận thông tin, vừa là nơi để bày tỏ ý kiến.
Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho đại chúng, có tính phổ cập
rộng rãi.
2.4.
Tính ngắn gọn
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn và súc tích. Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin,
ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe. Thêm vào đó, nó còn làm
tốn thời gian của cả người viết lẫn người đọc, dễ dẫn đến các lỗi sai về mặt ngôn từ.
2.5.
Tính định lượng
Các tác phẩm báo chí thường bị giới hạn về mặt thời gian hay diện tích xuất hiện
trên báo, đó là định lương. Vì thế, việc lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ
lưỡng, hợp lý để phản ánh đầy đủ lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về
thời gian và không gian.
2.6.
Tính biểu cảm
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ gắn liền với việc sử dụng những từ ngữ mới lạ, giàu
sự phát triển của khoa học kĩ thuật.
Ở Việt Nam, mặc dù báo chí xuất hiện năm 1865 nhưng theo các nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh, Huỳnh Văn Tòng, phóng sự chỉ lộ diện vào những năm
30 của thế kỉ XX.
Mới chỉ xuất hiện khoảng hơn 70 năm ở Việt Nam nhưng phóng sự đã có những
bước tiến dài về thể loại. Càng ngày phóng sự càng đi sâu vào những vấn đề thời sự cập
nhật, được thể hiện ngắn gọn nhưng thông tin nhanh, nhiều.
2.
Các quan niệm về phóng sự
Có rất nhiều ý kiễn khác nhau về thể loại phóng sự, có lẽ do khả năng phong phú
của nó trong quá trình phản ánh hiện thực
Trên thế giới, có nhiều quan niệm về phóng sự. Người Dduecs coi phong sự chỉ là
tin đưa một cách chi tiết hơn, người Pháp quan tâm nhiều đến khả năng trình bày những
kết quả điều tra, còn người Mỹ lại rất chú trọng khả năng diễn tả.
Ở Việt Nam, cùng nêu đặc điểm chung cơ bản của phong sự là mô tả người thật,
việc thật có tính chất thời sự xã hội, nhiều nhà nghiên cứu còn đưa ra một số quan điểm
riêng của mình về phóng sự.
TS. Đức Dũng cho rằng “Phóng sự là thể loại có khả năng thông tin thời sự, đảm
bảo tính xác thực, tính định hướng thông qua việc trình bày, diễn tả những vấn đề, sự
kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát sinh, phát triển với vai trò
quan trọng của nhân vật trần thuật và ngôn ngữ, bút pháp, giọng điệu linh hoạt, giàu chất
văn học”.
5
Nhà báo Huỳnh Dũng Nhân định nghĩa “Phóng sự là một thể tài báo chí, phản ánh
những vấn đề có tính thời sự, có ý nghĩa chính trị xã hội được bạn đọc quan tâm. Phóng
sự có thể viết bằng các bút pháp mang tính văn học. Trong phóng sự có nhân vật và cái tôi
Các dạng phóng sự
a.
Phân loại theo đối tượng phản ánh
Phóng sự sự kiện
Phóng sự vấn đề
Phóng sự hiện tượng
Phóng sự chân dung
b.
Phóng sự chia theo các lĩnh vực nội dung, có thể kể đến:
Phóng sự chuyên đề kinh tế
Chuyên đề chính trị – xã hội
Văn hóa – thể thao – du lịch
An ninh trật tự
Xây dựng nông thôn mới...
c.
Phân loại theo quy mô
Phóng sự dài kỳ
Phóng sự 1 kì
Phóng sự điều tra
Phóng sự ngắn
Phóng sự ảnh
III.
Ngôn ngữ phóng sự
vật, hiện tượng trong từng thời khắc nhất định, trong từng bối cảnh cụ thế, nhằm tạo ra
một văn bản đơn nghĩa, dễ hiểu. Mặt khác, phóng sự phải miêu tả, kể lại câu chuyện một
cách cô đọng, logic và hàm súc. Tính hàm súc của ngôn ngữ phóng sự nảy sinh từ yêu cầu
phải cung cấp một lượng thông tin cao, không có dư thừa về con người và sự kiện trong
một diện tích ngôn ngữ hạn hẹp trên báo mạng, trên sóng… cho nên cần phải dùng từ sao
cho đắt nhất, có giá trị biểu cảm cao nhất. Cung cấp thông tin một cách chính xác và hàm
súc, có nghĩa là ngôn ngữ đã được thực hiện được chức năng giao tiếp lý trí có hiệu quả
cao nhất.
Trong phóng sự, ngôn ngữ còn giá trị biểu đạt chân thực những trạng thái tình cảm,
cảm xúc tâm lý, thái độ, ý kiến của đối tượng được miêu tả và của chính tác giả, có thể tác
động đến nhận thức, tình cảm của đối tượng tiếp nhận thông tin.
8
CHƯƠNG 2: TRÌNH BÀY KẾT QUẢ KHẢO SÁT
I.
Các bài phóng sự từ 01/03/2015 đến hết 31/01/2015 đăng tải trên Tuổi trẻ Online
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
02/03/2015
Chạy trốn trong đêm
Buông câu lúc 0g
Hành trình cứu người của một luật sư – Kỳ 4:
Theo dấu kẻ bệnh hoạn lạm dụng tình dục trẻ em
Thần hộ mệnh trên biển
Hũ gạo tình thương
“Sàn giao dịch”... trâu ở Si Ma Cai
Hành trình cứu người của một luật sư – Kỳ 5:
Trở lại “địa ngục tình dục”
Hành trình cứu người của một luật sư – Kỳ cuối:
Ngày trở về
MMA – võ đài hung bạo – Kỳ 1: Những trận
chiến kinh hoàng
MMA – võ đài hung bạo – Kỳ 2: Đổi máu để đổi
đời
Đạp xích lô nuôi chồng con
MMA – võ đài hung bạo – Kỳ 3: Lê Cung giã từ
sàn đấu
Nhạc sống... di động
MMA – võ đài hung bạo – Kỳ 4: Lò MMA
chuyên nghiệp giữa lòng Sài Gòn
Dưa Hấu không còn mẹ
MMA – võ đài hung bạo – Kỳ cuối: Giới võ
thuật Việt Nam nói gì về MMA?
9
01/03/2015
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
Nỗi lòng người dân trên đồi Trại Thủy
Cứu người giữa trùng khơi
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 2: Vật lộn sóng
gió, cứu ngư dân
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 3: Bên trong
bệnh viện di động
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 4: Nghẹt thở
trong đêm
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 5: Thuốc quý
như vàng
Dạo phố với xe điện 1 bánh tại Hà Nội, Sài Gòn
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 6: Mệnh lệnh
trái tim
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ 7: Chúng tôi
mang ơn họ
Cứu người giữa trùng khơi – Kỳ cuối: Tổ quân y
đầu tiên ở đảo Trường Sa
Đến Campuchia xem sếu đầu đỏ
28/03/2015
Nam – Kỳ cuối: LKY, trích sổ tay phóng viên...
Đào Tấn – ông quan kịch tác gia: Người học trò
xuất sắc
Gặp lại bé sơ sinh bị bắt cóc
Đào Tấn – ông quan kịch tác gia – Kỳ 2: Ông
quan viết tuồng
29/03/2015
30/03/2015
30/03/2015
31/03/2015
Như vậy, trong tháng 3/2015, Tuổi trẻ Online đã đăng tải 50 bài phóng sự, với loại
thể đa dạng, điển hình như: phóng sự dài kỳ, một kỳ, phóng sự ảnh, phóng sự vấn đề,
phóng sự hiện tượng, phóng sự chân dung, phóng sự chuyên đề kinh tế, văn hóa...
II.
Ngôn ngữ phóng sự thể hiện qua một số loại thể tiêu biểu
1.
Phóng sự dài kì
Trong tháng 03/2015, Tuổi trẻ Online đăng tải hàng loạt phóng sự dài kỳ. Điển hình
là phóng sự Hành trình cứu người của một luật sư (6 kỳ), MMA – võ đài hung bạo (5 kỳ),
Cứu người giữa trùng khơi (8 kỳ)...
Phân tích điển hình chuỗi bài Hành trình cứu người của một luật sư để phần nào
hiểu thêm về ngôn ngữ phóng sự
Đặc trưng của phóng sự ảnh là dùng hình ảnh thay cho lời nói. Nhưng không vì thế
mà không có “chất” ngôn ngữ trong đó. Chỉ với chú thích ngắn gọn kèm với hình ảnh
giàu sức gợi cũng đủ để làm nổi bật đề tài, tạo được nhiều chiều và chiều sâu liên tưởng
trong lòng độc giả.
08/03 là ngày tôn vinh phụ nữ toàn thế giới. Chỉ với một vài bức hình phác họa chân
thực đời sống của những người phụ nữ đã làm lòng ta xao xuyến, thấy phụ nữ Việt thật là
tuyệt
12
13
Với hình ảnh chân thực, chú thích ngắn gọn, phóng sự ảnh nêu trên cho thấy những
người phụ nữ đầy tinh thần nghị lực, vượt qua khó khăn và không lùi bước trước cuộc
sống cho dù công việc nặng nhọc đến đâu.
3.
Phóng sự vấn đề
Để làm rõ chủ đề Nỗi lòng người dân trên đồi Trại Thủy, Phạm Sông Ngân đã đưa
ra những nhân chứng điển hình trong khu vực giải tỏa.
Điều đặc biệt trong tác phẩm là tác giả sử dụng những từ cổ: tứ linh, đồi thiêng, hạ
sơn; các từ mang sắc thái biểu cảm cao như xóm ổ chuột, nhà ổ chuột, “khang trang”...
càng tô đậm thêm nỗi khổ của dân nghèo đồi Trại Thủy.
4.
Phóng sự chân dung
Cô gái có trái tim hồng, Người “cải tử hoàn sinh” những chiếc đồng hồ là những
Thứ nhất, nhà báo cần nắm vững những kiến thức cơ bản liên quan tới việc sử dụng
tiếng Việt, bao gồm: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách. Chỉ khi nắm bắt, hiểu
được những kiến thức về ngôn ngữ tiếng Việt, nhà báo mới có thể viết đúng, nói đúng;
chưa viết đúng, nói đúng thì cũng chưa thể viết hay được.
Thứ hai, nhà báo cần hạn chế tối đa việc vay mượn những từ ngữ nước ngoài. Nó
không chỉ gây cản trở đối với đối tượng độc giả không biết ngoại ngữ mà còn làm cho bài
báo trở nên khó hiểu khi dùng sai nghĩa của từ.
15
Thứ ba, nhà báo cần có một trình độ ngoại ngữ nhất định. Nó mang đến cho họ
nhiều lợi ích, nhất là trong thời kỳ đa phương hóa, toàn cầu hóa như hiện nay. Bên cạnh
đó, khi có ngoại ngữ, nhà báo có thể quy chiếu một cách chính xác những từ, tiếng nước
ngoài sang tiếng Việt. Các ngoại ngữ phổ biến như Anh, Pháp, Nga… đều có tính khoa
học và chính xác cao. Học được điều này sẽ giúp cho nhà báo sử dụng tiếng Việt một
cách khúc chiết, mạch lạc, tránh sự dài dòng, cầu kỳ, không cần thiết.
16
KẾT LUẬN
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, báo chí đã và đang trở thành “món ăn
tinh thần” không thể thiếu của con người. Song, thực tế cạnh tranh báo chí khốc liệt buộc
các nhà báo và nhà quản lý báo chí phải đối mặt với những câu hỏi như: Công chúng sẽ bị
hấp dẫn bởi tác động gì từ các tác phẩm báo chí? Quá trình tiếp nhận của công chúng với
các tác phẩm báo chí diễn ra theo quy luật nào? Những kiến thức và kỹ năng nào là cần
thiết trong quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí tiếp cận tốt với công chúng? Trả lời được
những câu hỏi này là cơ sở cho việc xác định bước đầu cách thức tác động và thuyết phục
công chúng báo chí.
Tuy nhiên, cốt lõi của tác phẩm báo chí là ngôn ngữ. Ngôn từ ngắn gọn, mạch lạc,
TS. Nguyễn Quang Hòa, Phóng sự báo chí – Lý thuyết, kỹ năng và kinh
nghiệm, NXB Thông tin và truyền thông.
5.
TS. Đức Dũng (sưu tầm và giới thiệu), Phóng sự báo chí hiện đại, NXB
Thông tấn.
6.
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Tác phẩm báo chí (tập 2), NXB Lý luận
chính trị, 2006
7.
Báo Tuổi trẻ Online tháng 03/2015.
18