Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương - Pdf 34

3

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài:

Dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm được cụ thể hóa trong
khoản 2, điều 28, Luật giáo dục năm 2005, cụ thể: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả
năng tự làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Việc
giảng dạy tăng cường tính tích cực là một hướng nghiên cứu đáp ứng những yêu cầu
đặt ra.
Trong điều kiện đất nước có nhiều đổi mới, từ kinh tế đến xã hội đều phát
triển, đòi hỏi nền giáo dục nước nhà cũng phải thay đổi, cũng phải phát triển phù
hợp với xu thế phát triển chung của đất nước. Một trong những đổi mới của giáo
dục là phải đổi mới phương pháp dạy của người thầy và phương pháp học của trò,
trong đó đề cao vai trò chủ thể nhận thức của người học.
Môn Địa lí trong trường phổ thông cùng với những môn học khác tạo nên
nền tảng kiến thức phổ thông cho học sinh. So với nhiều môn học khác thì Địa lí là
môn học có nhiều mảng kiến thức thích hợp thực hiện dạy học theo quan điểm lấy
người học làm trung tâm.
Thực tiễn giáo dục hiện nay tại các trường phổ thông chịu sự tác động của
nhiều nhân tố. Từ việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, kinh tế xã hội phát
triển, những dịch vụ cũng phát triển, tệ nạn xã hội, tâm lý nhận thức học sinh thay
đổi đã tác động nhiều đến quá trình dạy học hiện tại.
Trường THPT Thiên Hộ Dương được thành lập vào năm 2007, so với các
trường khác trong Tỉnh thì Thiên Hộ Dương là trường mới thành lập, đội ngũ giáo
viên, cơ sở vật chất và truyền thống của Trường đang được xây dựng. Với vị trí tọa

thông Thiên Hộ Dương, trên cơ sở thực tế quá trình dạy học, tác giả kết hợp với
những giáo viên tại trường nhằm vận dụng những phương pháp dạy học nhằm tăng
cường tính tích cực của học sinh vào quá trình dạy học địa lí.
4.

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài quá trình dạy học tích cực môn địa lí ở
trường phổ thông.
5.

Phạm vi nghiên cứu

Trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương, cụ thể học sinh khối lớp 10 và
lớp 12.
6.

Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, tác giả tìm những tài liệu phân tích quá trình
dạy học địa lí ở trường phổ thông, từ đó tác giả đối chiếu, so sánh và phân tích đặc
điểm quá trình dạy học ở trường THPT Thiên Hộ Dương nhằm đưa ra những nhận
định cho hướng thực hiện của đề tài.
Tác giả nghiên cứu hệ thống tài liệu về phương pháp dạy học, đặc biệt là hệ
thống phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh.
Tác giả sưu tầm những tài liệu trình bày về những kỹ thuật thực hiện các
phương pháp dạy học tích cực.



Hà Nội, 2003. Trong tài liệu trên, nhóm tác giả đã phân tích hệ thống phương pháp
dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học địa lí ở
trường phổ thông. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đã đưa ra những yếu tố tác động đến
dạy và học tích cực hiện nay ở trường phổ thông.


6
+ Đặng Văn Đức, Lí luận dạy học địa lí đại cương, NXBĐHSP Hà Nội,
2005. Giáo trình cũng đã cung cấp đầy đủ hệ thống những phương pháp giảng dạy
nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học Địa lí.
+ Nguyễn Đức Vũ, Phương pháp dạy học Địa lí ở trường phổ thông, NXB
Giáo dục, 2005. Tài liệu cũng chỉ ra đặc điểm của quá trình dạy học địa lí ở trường
phổ thông và đưa ra hệ thống những phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính
tích cực của học sinh trong quá trình dạy học.
- Bên cạnh những tài liệu trên, hệ thống lí luận về dạy học tích cực như:
+ G.S TSKH Thái Duy Tiên, Viện khoa học giáo dục với bài báo “Phát huy
tính tích cực nhận thức của người học”. Trong bài viết, tác giả đã phân tích rất rõ
những nhân tố tác động tích cực đến quá trình dạy học địa lí hiện nay. Đặc biệt, tác
giả đã phân tích rất rõ những nhân tố bên ngoài (môi trường xã hội) tác động rất
nhiều đến dạy học tích cực.
+ Nguyễn Ngọc Quang cũng đã phân tích bản chất của quá trình dạy học nói
chung và những đặc điểm của các thành tố tạo thành quá trình dạy học.
- Những công trình khoa học trên là cơ sở tác giả tiến hành vận dụng những
phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy ở trường phổ thông, cụ thể là trường
THPT Thiên Hộ Dương.
8. Giả thuyết khoa học
Đề tài phân tích rõ thực tiễn quá trình dạy học tại trường phổ thông hiện nay,
từng bước vận dụng linh hoạt các phương pháp nhằm tăng cường vai trò tích cực,
chủ động của học sinh vào quá trình dạy học.
9.

tiến hành các thao tác có liên quan đến quá trình dạy học:
Hoạt động dạy: là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo
viên.
Bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống gia
cố, trong đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm
đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học.
Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải hoạt động tích cực, giáo viên
luôn tăng cường cũng cố kiến thức cho học sinh, khen thưởng, xác nhận một cách
kịp thời.
Hoạt động học tập: là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh
nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân
cách của bản thân.
Bản chất của học tập là quá trình tiếp thu, xử lí thông tin bằng các hành động
trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn kinh nghiệm đã có của cá nhân, từ
đó có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới.
Như vậy, trong học bao giờ cũng có tự học, không thể có ai học thay được.
Tuy nhiên chúng ta muốn nhấn mạnh tự học là nói tới sự tự giác, tích cực và độc lập
cao.
Có nhiều cách học: học có chủ định và không có chủ định, học bền vững (có
thể phát triển lên được) và học không bền vững, học bị động theo kiểu hình thành
phản xạ có điều kiện cổ điển, còn gọi là điều kiện của Pavlop, học chủ động theo


8
kiểu điều kiện hoá tác động của B. F. Skinner, học giáp mặt (với thầy), học từ xa.
Cần kết hợp nhiều cách học để có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều nhân tố tác
động qua lại lẫn nhau theo những quy luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện
các nhiệm vụ dạy học, nhiệm vụ đạt chất lượng và hiệu quả dạy học.
Dạy học về bản chất là một quá trình thiết kế và góp phần thi công của người

9
tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên
những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
Các cấp độ của tính tích cực:
+ Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của bạn…
+ Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác
nhau về một vấn đề …
+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu.
Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của tính tích cực, một điều quan
trọng muốn học sinh học theo quan điểm này thì giáo viên phải tạo ra được một cảm
giác mới, lạ, thu hút sự chú ý của học sinh trong bài dạy của mình.
1.1.3. Phương tiện, thiết bị trong dạy học hiện nay
Khoa học đã chứng minh, khi ta vận dụng tất cả các giác quan của học sinh
vào quá trình dạy học thì hiệu quả sẽ cao hơn những hoạt động thông thường, cụ
thể:
Bảng 1. Vai trò các giác quan trong việc học [1, trang 320]

Trong việc tiếp thu tri thức (%)

Trong việc lưu giữ tri thức (%)

Nếm: 1

Nghe: 20

Sờ: 1,5

Nhìn: 30

Ngửi: 3,5


Phương pháp giảng giải.

-

Phương pháp đàm thoại tái hiện.

-

Phương pháp đàm thoại tìm tòi.

-

Phương pháp thảo luận.

-

Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ giáo khoa.

-

Phương pháp động não.

-

Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.

1.2.

Tổng quan về trường THPT Thiên Hộ Dương

6 năm. Với 6 năm hình thành và phát triển cho thấy Nhà trường còn không ít khó
khăn về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên.
Qua phỏng vấn học sinh và nghiên cứu hồ sơ học sinh, đa số học sinh trong
trường có hộ khẩu tại Phường 6, Xã Tân Thuận Đông, Xã Tịnh Thới, Xã Tân Thuận
Tây, một số học sinh còn lại của các phường khác trong thành phố. Về kinh tế,
những xã, phường trên chủ yếu là nông nghiệp. Chính vì vậy thu nhập của người
dân so với các phường khác trong tỉnh chưa cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến quá trình đầu tư vào học tập của con em họ.
Do là trường mới thành lập nên phương tiện dạy học đáp ứng những yêu cầu
cơ bản của giáo viên và học sinh.
1.2.2. Về phía giáo viên
Trường THPT Thiên Hộ Dương hiện nay có 65 giáo viên và cán bộ. Trong
số đó, có khoảng 7 giáo viên có tuổi đời từ 50 tuổi trở lên, còn lại có tuổi đời trung
bình khoảng 30 tuổi, giáo viên trẻ tuổi nhất là 26 tuổi (nguồn: Website Trường). Đối
với môn địa lí, trường có hai giáo viên nữ, tuổi đời trung bình 29 tuổi. Bên cạnh hai
giáo viên, Hiệu trường nhà trường cũng có chuyên môn Địa lí. Mặc dù có dạy ít tiết
để đủ chuẩn, nhưng Hiệu trưởng không thuộc biên chế chuyên môn Địa lí.
Qua những số liệu trên, một vấn đề quan trọng đầu tiêu của giáo viên trường
Thiên Hộ Dương hiện nay là đa số tuổi đời giáo viên là trẻ. Chính yếu tố trẻ này tạo
nên một nguồn nhân lực dồi dào cho Trường, giáo viên năng động, tích cực trong


12
giảng dạy, nhưng kinh nghiệm chuyên môn chưa nhiều. Chính đều này gây không ít
khó khăn cho quá trình phát triển của nhà Trường.
Nhà trường đã trang bị hệ thống phương tiện thiết bị vào dạy học. Về cơ bản,
những phương tiện đó đáp ứng được yêu cầu. Để nâng cao trình độ của học sinh
cũng như tạo được một môi trường mới trong học tập của học sinh, giáo viên nên
tạo thêm nhiều phương tiện dạy học khác. Chính việc tạo thêm phương tiện dạy học
và sử dụng chúng vào quá trình dạy học mới tạo được sự tò mò, gây hứng thú cho

trường, trung bình 8 giờ, ngủ 8 giờ, chuẩn bị bài 2 giờ, xem lại bài 1 giờ, xem tivi 2
giờ, đi chơi với bạn 1 giờ, thời gian còn lại trong ngày thì thực hiện các công việc
khác. Trong các khoảng thời gian hoạt động trong ngày, thời gian chú ý học tập tại
nhà ít. Trong khảo sát, thời gian chuẩn bị bài học tại nhà của học sinh cao nhất là 3
giờ/ngày, thấp nhất là 20 phút/ngày. Tương tự, thời gian xem lại bài đã học nhiều
nhất là 4 giờ, ít nhất là 15 phút, đa số trả lời là 1 giờ.
Qua việc khảo sát, tất cả học sinh đều rất quan tâm đến Internet, đều biết
Internet và sử dụng Internet thành thạo. Tuy nhiên, sau khi phỏng vấn từng học sinh
về việc sử dụng những gì trên Internet thì trên 90% là chơi game, số còn lại là chat,
mail, đọc báo… Khi được hỏi có giáo viên nào hướng dẫn cách ứng dụng Internet
vào học tập chưa hoặc có hình thức nào khuyến khích học tập thông qua Internet thì
học sinh trả lời rất ít. Việc biết sử dụng Internet là một nội dung tốt, cần phát huy.
Tuy nhiên, do thiếu định hướng sử dụng Internet trong học tập đã dẫn đến việc học
sinh phí thời gian trên những phương tiện hiện đại.
Bên cạnh việc một số học sinh không có thời gian phụ giúp gia đình thì vẫn
còn đại đa số học sinh có khoảng thời gian phụ giúp gia đình. Thời gian phụ giúp
gia đình nhiều, từ 1 đến 5 giờ/ngày, đa số là 2 giờ/ngày. Chính việc thời gian phụ
giúp gia đình nhiều đã ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh.
Thông qua việc phát phiếu khảo sát và dự giờ chuyên môn của hai giáo viên,
tác giả đề tài đã rút ra những kết luận về hiện trạng giảng dạy địa lí tại trường THPT
Thiên Hộ Dương. Trên cơ sở hiện trạng, tác giả tiến hành vận dụng lí luận cụ thể để
nâng cao tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập địa lí.


14
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO TRƯỜNG
THPT THIÊN HỘ DƯƠNG
2.1. Vận dụng sơ đồ nội dung môn Địa lí ở trường phổ thông vào giảng
dạy
Một đặc điểm quan trọng trong việc dạy học địa lí ở trường phổ thông

Sd
dụng cụ
NC ĐL

Làm
việc tài
liệu ĐL

Học tập
và NC
ĐL

Số liệu
Sự kiện
Biểu tượng
Mô hình sáng
tạo…

Qua sơ đồ này, khi tiến hành giảng dạy, giáo viên cần phải phân tích được
nội dung có trong bài đang dạy thuộc mảng nào, kiến thức hay kỹ năng, trong kiến


15
thức là kiến thức gì, mối liên hệ giữa các kiến thức; đối với kỹ năng là kỹ năng gì,
hướng dẫn học sinh thực hiện từng kỹ năng đó như thế nào.
Bên cạnh việc chú ý đến sơ đồ trên, giáo viên cần chú ý đến các mức độ nhận
thức của Bloom có trong bài học (được quy định trong chuẩn kiến thức). Việc xác
định đúng mức độ và dạy học theo các mức độ của thang phân loại nhận thức
Bloom giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, tích cực hơn.
2.2. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học


và giải thích
Đàm thoại

Là phương pháp Câu hỏi phải Giáo viên hỏi

Những dấu hiệu

người giáo viên dễ, đáp án có Học sinh suy của khái niệm,
khéo léo dùng sẵn

nghĩ

trong quy

hệ thống câu hỏi

khoảng

để hỏi học sinh

gian ngắn (10

luật,

Sự

thời kiện, Số liệu

đến 30 giây)

một hướng giải chủ đề chung, tưởng
quyết

chia

nhóm,

nêu yêu cầu cụ
thể nhóm, các
nhóm

làm

việc, GV quan
sát, các nhóm
báo cáo)
Hướng dẫn Là phương pháp Phải có bản đồ 3 mức độ đọc Quy luật
học

sinh giáo viên hướng giáo khoa

khai thác tri dẫn

sinh

khoa: liệt kê,

thức từ bản tiếp thu tri thức

giải thích và

nhuyễn các phương pháp nhằm tạo thêm những tình huống học tập mới cho học
sinh. Có như thế, tính tích cực mới được phát huy.


17

2.3. Sử dụng phương tiện, thiết bị vào giảng dạy
Phương tiện, thiết bị có vai trò to lớn trong việc tạo hứng thú, khơi gợi
động cơ để hình thành tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học hiện nay.
Những phương tiện dạy học truyền thống của Địa lí như bản đồ giáo khoa
(Atlat, Bản đồ giáo khoa treo tường, Bản đồ giáo khoa trong sách giáo khoa), tranh
ảnh, mô hình… về cơ bản được trang bị đầy đủ tại trường nhưng chưa đủ để thực
hiện dạy học tích cực. Người giáo viên cần phải đầu tư nhiều hơn nữa để bài dạy
sinh động, hiệu quả hơn.
Những phương tiện người giáo viên cần chuẩn bị gồm:
+ Sơ đồ tóm lượt những nội dung cơ bản của bài;
+ Những số liệu liên quan đến bài và những bài liền kề để học sinh liên hệ,
phân tích, so sánh;
+ Tranh ảnh để học sinh tìm tri thức. Tranh ảnh là nguồn tài liệu cơ bản nhất
người giáo viên sử dụng. Tranh ảnh tạo biểu tượng nhằm hình thành những khái
niệm trừu tượng cho học sinh. Việc sử dụng tranh ảnh đòi hỏi người giáo viên phải
khéo léo, linh hoạt. Nếu sử dụng tranh ảnh không đúng cách, hình ảnh chỉ mang
tính chất minh họa cho kiến thức, không phải là nguồn tri thức, vì thế giờ dạy chỉ
mang tính thụ động, trình chiếu là chính, không phát huy tính tích cực, chủ động
của học sinh;
+ Bản đồ là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng, là đặc thù của môn Địa lí. Bản
đồ có nhiều nguồn, từ sách giáo khoa, Atlat, bản đồ treo tường. Những bản đồ hiện
tại đã được biên soạn từ trước, một số bản đồ không phù hợp với nội dung mới của
sách giáo khoa. Một yêu cầu thiết yếu trong dạy học địa lí là người giáo viên phải
tạo ra được những bản đồ trống, từ những bản đồ trống thiết lập những phiếu học

những quy luật, những hiện tượng, mối quan hệ…
Ứng dụng công nghệ thông tin là một xu hướng tất yếu ở các trường phổ
thông hiện nay. Nếu giáo viên biết cách thiết kế và khai thác hợp lý thì hiệu quả dạy
học được cải thiện đáng kể, nếu không, hiệu quả chẳng những không cải thiện mà
quá trình dạy học trở thành quá trình “chụp – chiếu”.
2.5. Kỹ thuật khơi gợi động cơ, tạo và duy trì hứng thú của học sinh
Do thành lập các lớp học dựa trên nguyên tắc là điểm số nên những lớp đầu,
có điểm số cao, học sinh học rất tốt, tác phong học nghiêm túc, còn những lớp cuối
của từng khối thì ngược lại, học sinh thụ động, kết quả học tập không cao.
Đối với trường hợp này, người giáo viên cần chú ý một số kỹ thuật sau:


19
+ Đối với lớp giỏi: cần nâng mức độ nhận thức trong bài học. Cụ thể, hạn
chế mức độ biết, tăng cường mức độ hiểu, vận dụng. Đối với phương pháp dạy học,
giáo viên hạn chế sử dụng phương pháp giảng giải và đàm thoại tái hiện, tăng
cường sử dụng đàm thoại tìm tòi, thảo luận, nêu vấn đề, báo cáo.
+ Đối với những lớp trung bình và yếu: đối với những lớp này, học sinh thụ
động, ít phát biểu.
- Nguyên nhân cơ bản:
* Nguyên nhân cơ bản là học sinh chưa hiểu hết những kiến thức những môn
cơ bản trên lớp giáo viên dạy, như toán, lý, hóa, anh văn, văn…từ đó có những mặc
cảm, không chủ động trong đóng góp ý kiến của bài học. Nguyên nhân này có yếu
tố khách quan và chủ quan. Khách quan là do lớp đông, giáo viên đặt mục tiêu dạy
theo mức trung bình chung của lớp, chính vì vậy những học sinh chậm về mặt nhận
thức sẽ có những hiểu biết chậm hơn những học sinh khác. Vì lớp đông, giáo viên ít
chú tâm vào những học sinh này nên những kiến thức hỏng ngày càng nhiều, dẫn
đến học sinh ngán học, ham chơi. Còn chủ quan là do học sinh không chịu học.
* Hoàn cảnh gia đình: bên cạnh việc có một số gia đình học sinh có kinh tế
khá, có rất nhiều gia đình học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Điều này ảnh

danh học sinh A, B hay C trả lời câu hỏi thì cảm giác của học sinh sẽ vui hơn, thích
hơn là gọi em “đầu bàn 3”, tổ trưởng, lớp trưởng.
Để biết và nhớ tên học sinh, giáo viên cần phải làm quen và hỏi tên học sinh
ngay từ buổi đầu, định vị chỗ ngồi và lập lại nhiều lần. Giáo viên nên nhớ tên ban
cán sự trước, gồm lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, sau đó nhớ tên các thành viên
trong lớp. Việc ghi nhớ này phải từ từ, không nóng vội. Ngoài ra, giáo viên cần phải
chuẩn bị một số cái tên thông thường, dễ nhớ như Cúc, Thanh, Tuấn, Minh… để gọi
học sinh trong lớp một cách ngẫu nhiên, từ đó định vị chỗ ngồi, nhớ gương mặt.
+ Đánh giá học sinh lúc phát biểu ý kiến
Đánh giá là khâu rất quan trọng trong quá trình học tập. Mục tiêu cơ bản của
đánh giá là xác nhận mức độ của học sinh để học sinh biết được năng lực bản thân ở
đâu trong hệ thống chuẩn kiến thức cần lĩnh hội mà tự học, tự nâng cao trình độ
theo yêu cầu chung.
Đánh giá có nhiều khâu, nhiều hình thức, từ đánh giá đầu vào, đánh giá quy
trình, đánh giá kết quả, với nhiều hình thức như tự đánh giá, kiểm tra, tìm thông
tin,…
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay chưa thể hiện được mục
tiêu của đánh giá, mà trái lại, đánh giá làm cho học sinh “ngán ngẫm” việc học tập
của mình.


21
Trong dạy học theo quan điểm tăng cường tính tích cực của học sinh trong
quá trình học tập, yếu tố học sinh tích cực đóng góp bài là một khâu then chốt. Để
học sinh tích cực phát biểu, giáo viên nên đánh giá học sinh. Tùy theo bản chất câu
hỏi là tái hiện hay tìm tòi, nếu tái hiện, giáo viên không nên đánh giá điểm tối đa,
còn câu hỏi tìm tòi, giáo viên nên đánh giá điểm tối đa. Nếu kỹ thuật này thực hiện
thường xuyên, liên tục thì chỉ cần giáo viên đặt câu hỏi, không cần biết giáo viên có
cho điểm hay không, học sinh có biết hết nội dung hay không thì tự nhiên học sinh
sẽ xung phong phát biểu ý kiến của mình, vì bản thân học sinh luôn luôn mong

cũng là một thứ thuốc độc hại, nếu biết sử dụng sẽ rất tốt, nếu quá lạm dụng Internet
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và thời gian học tập.
Đối với môn địa lí, giáo viên nên cung cấp cho học sinh những tên miền có
chứa những nội dung địa lí như tự nhiên, kinh tế xã hội, địa lí các quốc gia trên thế
giới…
Bên cạnh đó, giáo viên cần đưa ra những chủ đề và hướng dẫn học sinh khai
thác thông tin từ Internet để học sinh có cơ hội, điều kiện sử dụng Internet vào học
tập.
Một mặc khuyến khích, mặc khác, giáo viên cũng phê bình, nhắc nhở những
học sinh thường xuyên sử dụng Internet cho những công việc khác như chơi game,
chat, xem những nội dung không tốt… để răn đe học sinh.
+ Đối với hệ thống kỹ năng, như kỹ năng đọc bản đồ giáo khoa, kỹ năng
phân tích bảng số liệu, vẽ biểu đồ, giáo viên phải làm mẫu, đến việc khuyến khích
học sinh làm theo và từ làm theo khuyến khích học sinh tự suy nghĩ, tự làm và phải
duy trì liên tục những mảng kỹ năng đã hình thành cho học sinh.
2.6. Vận dụng dạy học tích cực vào giảng dạy địa lí tại trường THPT
Thiên Hộ Dương
2.6.1. Giáo án 1
Nội dung trọng tâm của vận dụng dạy học tích cực vào giảng dạy trong giáo
án 1 là vận dụng triệt để nội dung môn địa lí vào trường phổ thông và sử dụng thang
phân loại nhận thức của Bloom vào giảng dạy.
a. Phân tích nội dung môn Địa lí có trong bài 12, Sự phân bố khí áp. Một số
loại gió chính, chương trình Địa lí 10, ban cơ bản:


23

Hình 1: Bài 12, SGK Địa lí 10, Cơ bản



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status