Vấn đề quyền con người và can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HỒNG XUYẾN

VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CAN THIỆP
NHÂN ĐẠO TRONG LUẬT QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HỒNG XUYẾN

VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CAN THIỆP
NHÂN ĐẠO TRONG LUẬT QUỐC TẾ

Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số

: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS.GVC. LÊ VĂN BÍNH

HÀ NỘI - 2015

1.3. Một số văn kiện quốc tế về quyền con người ................................................ 12
1.4. Nội dung pháp luật quốc tế về quyền con người ........................................... 14
1.5. Mối quan hệ giữa Luật quốc tế về quyền con người và Luật nhân đạo
quốc tế ............................................................................................................... 18
1.6. Cơ chế bảo vệ và phát triển quyền con người trong luật quốc tế ................. 19
1.6.1. Cơ chế quốc tế về bảo vệ và phát triển quyền con người ..................... 20
1.6.2. Cơ chế quốc gia bảo vệ và phát triển quyền con người ........................ 24
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CAN THIỆP NHÂN
ĐẠO ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LUẬT QUỐC TẾ ...26
2.1.Lý luận chung về can thiệp nhân đạo .............................................................. 26
2.1.1.Khái niệm can thiệp nhân đạo ................................................................ 26
2.1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc can thiệp nhân đạo .................................... 30
2.2. Can thiệp nhân đạo và các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại...... 30
2.2.1. Can thiệp nhân đạo và nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực trong quan hệ quốc tế .................................................................. 31


2.2.2. Can thiệp nhân đạo và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau trong luật quốc tế ..................................................................... 34
2.3. Cơ sở pháp lý của can thiệp nhân đạo ............................................................ 35
2.4. Quy trình can thiệp nhân đạo trong pháp luật quốc tế................................... 40
2.5. Hệ quả của can thiệp nhân đạo ....................................................................... 42
2.6. Can thiệp nhân đạo hay trách nhiệm bảo vệ .................................................. 44
2.7. Mối quan hệ giữa quyền con người và can thiệp nhân đạo .......................... 47
Chương 3: THỰC TIỄN CAN THIỆP NHÂN ĐẠO VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ................................................................................52
3.1. Thực tiễn can thiệp nhân đạo .......................................................................... 53
3.1.1. Can thiệp nhân đạo theo quyết định của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc..53
3.1.2. Can thiệp nhân đạo không theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên
hợp quốc ................................................................................................. 65

LHQ

: Liên hợp quốc

NATO

: Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Nord Atlantic
Treaty Organization)

NQ

: Nghị quyết

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển và
tiến bộ của các xã hội cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân
cách và năng lực của mỗi cá nhân. Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con
người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại.
Ai sinh ra đều có quyền được sống, được tự do và được mưu cầu hạnh
phúc. Mỗi cá nhân được nhận sự bảo đảm bằng các quy định và các thiết chế
trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.
Luật quốc tế về quyền con người là tổng thề các nguyên tắc và quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong việc
bảo vệ và phát triển các quyền cơ bản của con người ở từng quốc gia cũng

quốc gia khác với mục đích “nhân đạo”.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung quyền con người, mối quan hệ
giữa quyền con người và can thiệp nhân đạo là cơ sở để giải quyết các vấn đề
liên quan. Từ những lý do trên đây, học viên đã chọn và thực hiện nghiên cứu đề
tài: “Vấn đề quyền con người và can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế” với
mong muốn kiến nghị một số giải pháp trong việc bảo vệ quyền con người.
2. Tình hình nghiên cứu
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học về quyền con người
và về vấn đề can thiệp nhân đạo ở phạm vi trong và ngoài nước.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu vấn đề quyền con người và vấn đề can
thiệp nhân đạo đã được một số chuyên gia đề cập dưới các góc độ và ở phạm vi
khác nhau.
Về giáo trình và ấn phẩm khoa học: Giáo trình lý luận và pháp luật về
quyền con người do tập thể tác giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã
Khánh Tùng – Khoa Luật, ĐHQGHN 20011; Quyền con người, tập hợp những
bình luận và khuyến nghị chung của Ủy ban công ước LHQ – sách tham khảo,

2


khoa Luật, ĐHQGHN, NXB CAND 2010; Bảo vệ các quyền con người bằng
pháp luật quốc tế - đề tài NCKH của PGS.TS Nguyễn Bá Diến và Hoàng Ngọc
Giao, Luật quốc tế về quyền con người của nhóm dễ bị tổn thương – sách
chuyên khảo – Khoa Luật ĐHQGHN, NXB Lao động xã hội 2010, Giới thiệu
các văn kiện quốc tế về quyền con người: Khoa Luật – DDHQGHN….
Về các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan: Tạp chí
Luật học, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp
chí Nhân quyền… đã đề cập đến vấn đề quyền con người, can thiệp nhân đạo ở
cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Ở cấp độ luận văn và luận án tiến sỹ luật học: Một số đề tài nghiên

đánh giá sự cần thiết hay không cần thiết việc can thiệp nhân đạo vào quốc
gia hay không khi có sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người và tìm hiểu
hệ quả của việc can thiệp nhân đạo vào công việc nội bộ của quốc gia.
Nghiên cứu sự can thiệp nhân đạo để phân biệt được rõ học thuyết về
can thiệp nhân đạo hiện nay có lỗi thời hay không, có nên bác bỏ học thuyết
can thiệp nhân đạo hay không?
Nghiên cứu học thuyết về can thiệp nhân đạo để phân biệt can thiệp
nhân đạo với pháp luật nhân đạo quốc tế, tránh sự nhầm lần giữa hai khái
niệm này.
Nghiên cứu vấn đề can thiệp nhân đạo có ý nghĩa thực tiễn to lớn, là
sơ sở để bảo vệ chủ quyền quốc gia, tránh các nước khác lợi dụng học thuyết
can thiệp nhân đạo để dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để can thiệp vào
công việc nội bộ của quốc gia.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về
quyền con người và hoạt động can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế.

4


Nghiên cứu quyền con người, sự can thiệp nhân đạo và mối quan hệ
giữa quyền con người và can thiệp nhân đạo.
Nghiên cứu nội dung các quyền con người trong pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia, mối quan hệ giữa quyên con người và sự can thiệp nhân đạo.
Nghiên cứu sự can thiệp nhân đạo, phân biệt can thiệp nhân đạo và
pháp luật nhân đạo quốc tế. Cơ chế can thiệp nhân đạo, hệ quả của việc can
thiệp nhân đạo.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động can thiệp nhân đạo tại một số quốc gia.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề quyền con người và can thiệp nhân đạo đề từ đó

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI,
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CAN THIỆP NHÂN
ĐẠO ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG LUẬT QUỐC TẾ
Chương 3. THỰC TIỄN CAN THIỆP NHÂN ĐẠO TRONG LUẬT
QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP.

6


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Lý luận chung về quyền con người
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của
tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và
phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh
phúc của mọi người.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, cộng đồng quốc tế và các
lực lượng tiến bộ đã cùng nhau ký kết Hiến chương thành lập nên Liên hợp
quốc với mục đích thực hiện sự hợp tác quốc tế… trong sự phát triển và sự
tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người.
Quyền con người đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế
có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia. Quyền con người là khái niệm chính
trị - pháp lý rất quan trọng không chỉ trong luật quốc gia mà còn trong luật
quốc tế.
Có rất nhiều định nghĩa về quyền con người ở cả cấp độ quốc tế và
quốc gia. Mỗi định nghĩa nghiên cứu quyền con người ở một góc độ nhất
định. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa quyền con người của Văn

Tính liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện
ở chỗ việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong
mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực
tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc đảm bảo các quyền khác.
Thực tế cho thấy để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền
chính trị cơ bản) thì cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội,
văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y
tế… vì nếu không thì các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những
người đói khổ, bệnh tật, hay mù chữ.

8


Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều gắn liền
với sự phát triển của các quyền dân sự, chính trị. Bởi lẽ kết quả của việc bảo
đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh trong quản lý
nhà nước, quản lý xã hội…
Hai là, quyền con người có tính phổ quát tức là phải được thực hiện
trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử với tất cả mọi người vì bất cứ
lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi,
thành phần xuất thân..
Ba là, quyền con người được thực hiện trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm
và giá trị của mỗi con người. Nhà nước có trách nhiệm hàng đầu trong việc
thúc đẩy và thực hiện quyền con người.
Vì sao phải nghiên cứu nội dung quyền con người:việc nghiên cứu
quyền con người là nhiệm vụ vô cùng quan trọng bởi lẽ con người là tế bào xã
hội, là chủ nhân của nhân loại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu quyền con
người là nền tảng để phát triển đầy đủ nhân cách năng lực của mình và cũng
là nền tảng của sự phát triển và tiến bộ xã hội…
Hiện nay, quyền con người đã trở thành vấn đề thu hút sự chú ý rộng

quyền con người thứ nhất là sự khẳng định mạnh mẽ các quyền dân sự, chính
trị như quyền sống, quyền tự do, quyền được xét xử công bằng trước pháp
luật. Các quyền này gắn liền với tự do cá nhân. Mục đích của thế hệ quyền
này về cơ bản là hạn chế sự lạm quyền và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống
tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan Nhà nước qua
đó xác định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc thừa nhận, tôn trọng và đảm
bảo thực hiện các quyền của con người. Quyền con người ở thế hệ thứ nhất
được ghi nhận ở các văn bản pháp luật quốc gia như Tuyên ngôn độc lập của
Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp
1796 và các văn kiện pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người và Công ước quốc tế về các quyền con người phổ cập, khu vực,
song phương, đa phương.
10


Thế hệ quyền con người thứ hai: Thế hệ quyền con người thứ hai gắn
liền với cuộc cách mạng tháng Mười Nga và Chiến tranh thế giới thứ II. Thế
hệ quyền này được tính từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Quyền con người thế hệ
thứ hai là thời kỳ phát triển của nhân dân thế giới đấu tranh cho các quyền
kinh tế - xã hội của cá nhân, các quyền dân tộc cơ bản, quyền dân tộc tự
quyết. Quyền con người ở thế hệ thứ hai được ghi nhận rõ nét ở Công ước về
quyền dân sự, chính trị 1966 và công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn
hóa 1966.
Thế hệ quyền con người thứ ba: xác định trách nhiệm của các quốc gia
và các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực quyền con người về những
nghĩa vụ có hiệu quả các vấn đề quyền con người trong thời đại toàn cầu và
khoa học công nghệ như: quyền được sống trong hòa bình, quyền được phát
triển, được thông tin… vì sự tồn tại của con người trong cộng đồng nhân loại,
chống sự hủy diệt của chiến tranh hạt nhân, của xung đột và bạo lực, của độc
quyền thông tin, của nghèo đói, suy thoái, của suy thoái môi trường… Thời

được thay bằng khái niệm chủ quyền “hạn chế”, trong đó mở rộng sự chi phối
của cộng đồng quốc tế đối với một số vấn đề trước đây được coi là “nội bộ”
của quốc gia, đặc biệt là vấn đề nhân quyền.
Chính quyền quốc gia ngày phải tôn trọng những tiêu chuẩn pháp lý về
quyền con người mà mình đã tự nguyện tuân thủ (thông qua việc tự nguyện
tham gia các điều ước quốc tế về vấn đề này) và buộc phải tuân thủ các tập
quán quốc tế về quyền con người.
1.3. Một số văn kiện quốc tế về quyền con người
Kể từ khi LHQ ra đời cho đến nay, đã có 25 điều ước quốc tế đa
phương toàn cầu được ký kết và đang có hiệu lực điều chỉnh các lĩnh vực
khác nhau của quyền con người như quyền tự do cơ bản của con người, quyền
của phụ nữ, trẻ em, bình đẳng giới, chống phân biệt chủng tộc, chống tội ác
diệt chủng… Có thể kể đến một số văn bản quan trọng như: Hiến chương

12


LHQ 1945; Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế - 1948; Tuyên bố thiên niên kỷ
của LHQ - 2000; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị - 1966; Công ước quốc
tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc - 1960; Công ước
về xóa bổ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - 1979; Công ước
về quyền trẻ em - 1989;…. Và các điều ước quốc tế khác...
Hiến chương LHQ là văn bản quốc tế rất quan trọng, cơ bản và là văn
bản quốc tế đầu tiền trải qua hơn 70 năm thử thách vẫn giữ nguyên giá trị
pháp lý và các ý nghĩa xã hội. Hiến chương LHQ đã đặt nền móng đầu tiên
cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy các
quyền con người trên thế giới bởi Hiến chương LHQ đã khẳng định việc
thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một trong những mục tiêu hoạt động
của Liên hợp quốc.
Lời nói đầu của Hiến chương khẳng định ý chí của các dân tộc trong

năm 1994. Hiện khu vực châu Á chưa có một văn bản pháp lý tương tự.
1.4. Nội dung pháp luật quốc tế về quyền con người
Trong luật quốc tế, quyền con người có các đặc trưng là một thể thống
nhất, được xác định bằng các quyền năng, chuẩn mực cụ thể mang tính phổ
cập và có sự thống nhất biện chứng giữa đặc trưng dân tộc với đặc tính nhân
loại, giữa quyền cá nhân và quyền tập thể, giữa quyền con người và quyền
công dân.
Việc phân loại quyền con người trong luật quốc tế có thể căn cứ vào
một số tiêu chí nhất định như chủ thể quyền (cá nhân, nhóm, tập thể); tính
chất quyền (quyền tự do, bình đẳng, dân chủ, quyền phát triển); nội dung
quyền (quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa). Việc phân loại
quyền cơ bản của con người theo các tiêu chí nêu trên có ý nghĩa tương đối vì
bản chất quyền con người là thống nhất, không thể bị chia cắt.

14


Các quyền dân sự - chính trị
Đây là quyền con người cơ bản, được thực hiện trong lĩnh vực dân sự chính trị. Các quyền dân sự - chính trị lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên
ngôn nhân quyền 1948 sau đó được cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế
khác như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966… Các quyền
dân sự - chính trị có một số đặc điểm để phân biệt với các quyền kinh tế, văn
hóa, xã hội:
Về nguồn gốc: với tư cách là quyền chủ thể của cá nhân con người,
khái niệm quyền dân sự - chính trị ra đời sớm hơn các quyền kinh tế - xã hội văn hóa. Quyền dân sự - chính trị là những quyền có tính chất gắn chặt với
nhân thân của cá nhân con người, được hiểu là giá trị vốn có, không thể bị
tước đoạt hay chuyển nhượng của cá nhân.
Quyền dân sự - chính trị là những quyền mà sự thực hiện ít bị phụ
thuộc vào trình độ phát triển của quốc gia. Trong các văn bản pháp lý quốc tế,
nội dung của quyền dân sự - chính trị thể hiện ra ở giá trị cá nhân và giá trị

một cách trực tiếp với con người nhu quan hệ giữa các cá nhân với nhau hay
quan hệ giữa các cá nhân với nhà nước. Cùng với các quyền kinh tế, văn hóa,
xã hội, các quyền dân sự - chính trị là một bộ phận cấu thành hệ thống nhu cầu
và lợi ích của con người, được luật quốc tế, luật quốc gia ghi nhận và bảo vệ.
Cho nên, khi xem xét khía cạnh pháp lý quốc tế của quyền dân sự chính trị cần thiết phải xem xét mối quan hệ giữa quyền dân sự - chính trị với
quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Cụ thể, cơ sở vật chất và các điều kiện chính
trị, kinh tế, xã hội đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thực hiện quyền
dân sự - chính trị vì mức độ và phạm vi bảo đảm của quyền dân sự - chính trị
phụ thuộc vào sự ổn định hay tiến bộ của nền chính trị, kinh tế, xã hội.

16


Các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa
Luật quốc tế về quyền con người đã ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản
của con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa. Các quyền kinh tế - xã
hội - văn hóa lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền 1948 và
sau đó được cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế như Công ước quốc tế về
các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966… Cũng như nhóm quyền dân sự, chính
trị, quyền kinh tế, xã hội, văn hóa mang giá trị là các quyền cá nhân và tập thể.
Với tư cách là quyền tập thể, quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội, văn hóa đề cập trước tiên khái niệm quyền tự quyết của các dân tộc. Quyền
tự quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thể hiện ở một số nội dung cơ
bản là quyền tự do lựa chọn trong phát triển và quyền bình đẳng về kinh tế giữa
các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị hay trình độ phát triển.
Giá trị cá nhân của quyền kinh tế, xã hội, văn hóa liên quan đến hai vấn
đề lớn. Một là sự bình đẳng giữa các cá nhân trong thực hiện quyền và hưởng
thụ các giá trị phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và hai là hình thành các tiêu
chí pháp lý cụ thể để hiện thực hóa các quyền này vào đời sống xã hội. Cả hai
vấn đề này đều chịu tác động của cơ chế và các đảm bảo cụ thể tại từng quốc

phạm nguyên tắc, quy phạm đó của luật quốc tế.
Luật nhân đạo quốc tế bao gồm: Bốn công ước Geneve 1949 là Công
ước Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ
trang chiến đấu trên bộ; Công ước cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh
binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển; Công ước
đối xử với tù binh chiến tranh; Công ước bảo vệ thường dân trong thời gian
chiến tranh; Công ước La-hay bảo vệ các tài sản văn hóa khi xảy ra xung đột
vũ trang 1954; Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ các loại vũ
khí vi trùng (sinh học) và vũ khí độc hại cũng như về sự hủy diệt của các loại
vũ khí đó 1972; Công ước về cấm hoặc hạn chế việc sử dụng một số loại vũ
khí công ước 1980: ….

18


Luật quốc tế về quyền con người và Luật nhân đạo quốc tế là hai ngành
luật có khá nhiều điểm chung. Đó là đều nhấn mạnh việc bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người trên cơ sở các nguyên tắc không
phân biệt đối xử, tôn trọng tính mạng và phẩm giá con người.
Mặc dù đều với mục tiêu là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của con người nhưng Luật quốc tế về quyền con người và Luật nhân
đạo quốc tế là hai ngành luật quốc tế độc lập. Mỗi ngành luật được hình thành
và phát triển trong những hoàn cảnh khác nhau và theo những hình thức khác
nhau. Luật nhân đạo quốc tế chỉ áp dụng trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ
trang còn luật quốc tế về quyền con người được áp dụng trong mọi hoàn cảnh
kể cả hòa bình hay chiến tranh.
1.6. Cơ chế bảo vệ và phát triển quyền con người trong luật quốc tế
Hệ thống các văn kiện quốc tế về quyền con người được ban hành với
mục tiêu bảo vệ các quyền con người trên mọi lĩnh vực, khía cạnh. Vả để các
văn kiện đó được thực thi rộng rãi và hiệu quả trong đời sống quốc tế thì cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status