Hoàn thiện công tác quản lý trợ giá cho VTHKCC bằng xe bus ở Hà Nội - Pdf 34

TIỂU LUẬN:

Hoàn thiện công tác quản lý
trợ giá cho VTHKCC bằng
xe bus ở Hà Nội


Lời nói đầu

Trải qua 15 năm cùng với cả nước thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà
nước về chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, Hà Nội đã có những bước phát triển không
ngừng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt từ 9- 10%, đời sống của người
dân đô thị đã được cải thiện một cách đáng kể…
Bên cạnh những thành tựu to lớn không thể phủ nhận đó những mặt tiêu cực
xung quanh quá trình đô thị hoá cũng bắt đầu nảy sinh và trở thành những hiện
tượng thường nhật gây nhiều mối quan tâm cho toàn xã hội như: tai nạn giao
thông, ách tắc giao thông và ô nhiễm môi trường…
Để giải quyết vấn đề bức xúc trên, phát triển một mạng lưới cơ sở hạ tầng
đường xá là chưa đủ mà còn cần phải có một hệ thống vận tải hành khách công
cộng hiệu quả.
Theo chủ trương của chính phủ Việt Nam, VTHKCC đến năm 2020 phải đáp
ứng được 50% nhu cầu đi lại của người dân trong đô thị với các chỉ tiêu an toàn,
nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm… Tuy nhiên, hiện nay VTHKCC vẫn đang là
một khâu yếu kém nhất trong hệ thống giao thông vận tải đô thị Hà Nội do đó để
đạt được mục tiêu trên đòi hỏi các nhà quản lý và điều hành giao thông đô thị phải
đưa ra được các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của VTHKCC và một trong
hệ thống các giải pháp đó là trợ giá cho VTHKCC.
Trợ giá cho VTHKCC ngoài việc xây dựng các phương pháp tính toán mức trợ
giá thì quản lý trợ giá cũng là một khâu quan trọng, nó giúp cho nhà quản lý lựa
chọn một phương pháp tính toán mức trợ giá hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế,
phát huy được hiệu quả đồng tiền trợ giá của Nhà nước, đem lại lợi ích kinh tế xã

giữa các khu vực trong đô thị và cấu thành nên hệ thống giao thông vận tải quốc
gia.
Giao thông vận tải đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động
của các chức năng đô thị khác cũng như phúc lợi xã hội của mọi người dân. Nó là
một bộ phận cần thiết và không thể thiếu được của đô thị.
Giao thông vận tải đô thị có nhiệm vụ lưu thông vận tải hàng hoá, hành
khách trong đô thị với yêu cầu đáp ứng đầy đủ, an toàn, nhanh chóng, thuận tiện
và tiết kiệm. Một hệ thống giao thông vận tải hiệu quả sẽ góp phần đáng kể vào
việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đô thị.
Một quy luật chung cho sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước là
giao thông vận tải đi trước. Sự phát triển giao thông vận tải phải được ưu tiên hàng
đầu về thời gian cũng như kinh phí đầu tư, ngoài ra cũng cần có sự chú ý đến quỹ
đất giành cho giao thông vận tải.
2 - Sự cấu thành của hệ thống giao thông vận tải đô thị:
Hệ thống giao thông vận tải đô thị được cấu thành bởi hai hệ thống cơ bản
đó là: hệ thống giao thông và hệ thống vận tải.
* Các thành phần chính của hệ thống giao thông bao gồm hai loại:


- Hệ thống giao thông động: là hệ thống đường xá các công trình trên
đường và các công trình kiến trúc khác.
- Hệ thống giao thông tĩnh: là hệ thống các điểm đỗ, garage, bến bãi phục
vụ cho hoạt động của phương tiện và sự đi lại của hành khách.
* Các thành phần chính của hệ thống vận tải có thể được xem xét trên hai
quan điểm:
- Theo quan điểm về sở hữu:
+ Vận tải công cộng.
+ Vận tải cá nhân.
- Theo quan điểm về đối tượng chuyên chở:
+ Hệ thống vận tải hành khách.

thống
vận tải
hành
khách

Vận
tải cá
nhân

Hệ
thống
vận tải
hàng
hoá

Vận tải
chuyên
dùng


Sơ đồ 1.1 - Mô phỏng hệ thống giao thông vận tải đô thị
Qua sơ đồ 1.1, ta thấy rằng vận tải hành khách công cộng là một bộ phận
không thể tách rời trong hệ thống giao thông vận tải đô thị và nó có mối quan hệ
qua lại mật thiết với các bộ phận cấu thành khác.
3 - Vận tải hành khách công cộng và vị trí của nó với phát triển đô thị:
3.1 - Một số khái niệm:
Để có một cái nhìn rõ nét về vận tải hành khách công cộng trước hết ta tìm
hiểu một số khái niệm có liên quan.
* Giao thông: là luồng dịch chuyển của các phương tiện vận tải và mối
quan hệ giữa chúng trong một mạng lưới đường.


-

Mạng lưới điện chạy dọc tuyến (với xe điện).

-

Hệ thống thông tin tín hiệu.

3.2 - Nhu cầu vận tải và sự tất yếu của việc phát triển vận tải hành khách
công cộng:
a - Nhu cầu vận tải:
Nhu cầu vận tải được hiểu là nhu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách
trong không gian theo thời gian nhất định tương ứng với số lượng, chất lượng, giá
cả xác định và khả năng thanh toán của người tiêu dùng.
Nhu cầu vận tải không phải là một nhu cầu nguyên sinh mà là loại nhu cầu
phát sinh, nó là kết quả của các nhu cầu khác trong lĩnh vực sản xuất, văn hoá, xã
hội.
Để tìm ra phương thức tối ưu nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu vận
tải trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các nhà phân tích và hoạch định
chính sách phải tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của nhu cầu vận tải.
-

Thứ nhất: Nhu cầu vận tải là một nhu cầu phát sinh.

-

Thứ hai: Nhu cầu vận tải có thể được thực hiện bằng các phương tiện

khác nhau.

Các yếu tố chủ quan gồm:

+ Đặc điểm sinh hoạt văn hoá của dân cư.


+ Yêu cầu về mức độ tiện lợi sử dụng phương tiện vận tải.
+ Thói quen sử dụng phương tiện vận tải.
+ Tình hình sức khoẻ của hành khách.
-

Các yếu tố khách quan gồm:

+ Mức độ phát triển kinh tế xã hội.
+ Dân số và mật độ dân cư, sự phân bố và kết cấu dân cư.
+ Sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
+ Quan hệ kinh tế và hành chính của từng điểm dân cư.
+ Điều kiện khí hậu và đặc điểm kinh tế xã hội của các vùng.
+ Sự phát triển của mạng lưới vận tải.
+ Khoảng cách thời gian một chuyến đi của hành khách, tốc độ giao thông,
giá cả vận chuyển.
Sự tác động của các yếu tố trên đến nhu cầu đi lại không giống nhau, có yếu
tố làm tăng, có yếu tố làm giảm nhu cầu, có yếu tố tác động trực tiếp cũng có yếu
tố tác động gián tiếp. Có yếu tố có thể định lượng được nhưng cũng có yếu tố chỉ
dừng lại ở mức định tính. Vì vậy, khi xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
đến nhu cầu đi lại thì phải phân tích chúng trên quan điểm tổng hợp.
b - Tính tất yếu của việc phát triển vận tải hành khách công cộng:
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và
công nghệ, quá trình đô thị hoá ở các nước đang phát triển cũng ngày một lớn
mạnh. Quá trình này đã kéo theo nó những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế xã
hội của các đô thị.


Các vấn đề về nhà ở và việc làm.

-

Các vấn đề về giao thông vận tải.

-

Các vấn đề về vệ sinh môi trường.

-

Các tệ nạn xã hội...

Trong các vấn đề nêu trên, ta không thể đặt một vấn đề nào lên hàng đầu
hay ưu tiên giải quyết trước mà cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban
ngành cùng giải quyết một cách đồng bộ và phát triển một hệ thống vận tải hành
khách công cộng là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đô thị hoá.
Kinh nghiệm của nhiều nước phát triển trên thể giới khi giải quyết nhu cầu
vận tải đô thị (mà chủ yếu là nhu cầu đi lại) đã chỉ ra rằng: để đáp ứng được nhu
cầu đi lại ở đô thị thì không chỉ có một hệ thống mạng lưới đường phát triển, quy
mô mà còn phải có một hệ thống vận tải hành khách công cộng hoàn hảo gồm
nhiều hình thức vận tải khác nhau bao trùm lên toàn bộ mạng lưới đường đô thị và
các vùng phụ cận. Một hệ thống vận tải hành khách công cộng phát triển phải bao
gồm nhiều hình thức vận tải tham gia như: tầu điện ngầm, tầu điện bánh hơi, tầu
điện bánh sắt, xe bus...Mỗi một loại hình vận tải hành khách công cộng này có
những đặc tính khai thác kỹ thuật là khác nhau. Bởi vậy, tuỳ vào điều kiện cụ thể
của mỗi đô thị, mỗi quốc gia mà người ta xem xét để lựa chọn toàn bộ hay một
phần trong các loại hình vận tải hành khách công cộng sao cho phù hợp. Một hệ

duy trì đảm bảo sự sống còn của thành phố, tránh sự tê liệt giao thông.
Vận tải hành khách công cộng tạo thuận lợi cho sự phát triển chung của đô
thị, nó góp phần tiết kiệm được thời gian đi lại của người dân góp phần tăng sản
phẩm xã hội. Vận tải hành khách công cộng góp phần thiết lập và duy trì trật tự kỷ
cương giao thông đô thị.
-

Xem xét về mặt môi trường:

Chỉ riêng việc tăng cường giao thông công cộng chưa đủ để có một tác
động môi trường đáng kể, nó phải được kèm theo các biện pháp hạn chế phương
tiện cá nhân. Tuy nhiên, phát triển một hệ thống giao thông công cộng là điều kiện
cần thiết để áp dụng những biện pháp như vậy.
Việc đưa vào hoạt động những phương tiện vận tải hành khách công cộng
và hạn chế phương tiện cá nhân cũng chưa đủ, tuy vậy, nếu sử dụng các loại
phương tiện theo tiêu chuẩn thì sẽ giảm được ô nhiễm không khí.
Một khía cạnh quan trọng về mặt môi trường của giao thông công cộng là
sử dụng tốt hơn không gian đường.


3.3 - Đặc điểm khai thác kỹ thuật và vai trò của vận tải hành khách công
cộng bằng xe bus trong hệ thống vận tải hành khách công cộng:
a - Khái niệm vận tải hành khách công cộng bằng xe bus:
Hiện nay đang tồn tại một số quan điểm khác nhau về vận tải hành khách
công cộng bằng xe bus.
-

Xác định nhu cầu theo vùng hoạt động thì vận tải xe bus giới hạn trong

phạm vi của thành phố và các vùng lân cận với cự li vận chuyển không quá 50 km.


Vận tải ô tô bus là phương thức vận tải phổ biến nhất trong tất cả các loại
hình vận tải hành khách công cộng. Tuy nhiên, năng lực vận chuyển của vận tải
hành khách công cộng bằng xe bus không cao, sử dụng loại nhiên liệu không kinh
tế và gây ô nhiễm môi trường, tốc độ khai thác còn thấp (từ 15km/h đến 18km/h).
Cũng giống như các loại hình vận tải khác, ô tô bus cũng mang đầy đủ các
đặc điểm của vận tải và cũng có những đặc điểm khác mang tính đặc thù của vận
tải hành khách công cộng bằng xe bus.
-

Thời gian hoạt động chủ yếu vào ban ngày do phục vụ nhu cầu thường

xuyên và ổn định của xã hội.
-

Chi phí vận hành phương tiện xe bus thường cao hơn (từ 40% đến 50%)

so với vận chuyển liên tỉnh.
-

Do vận tải hành khách công cộng bằng xe bus có đặc điểm là hành

khách lên xuống thường xuyên nên phải bố trí nhiều công trình, trang thiết bị phục
vụ, điều này làm cho giá thành của vận tải hành khách công cộng bằng xe bus
tăng.
-

Công suất vận tải thấp do phải dừng đỗ tại nhiều điểm.

-

luôn là loại hình vận tải hành khách công cộng đầu tiên trong hệ thống vận tải
hành khách công cộng. Vận tải hành khách công cộng bằng xe bus giữ một vị trí
quan trọng ở những khu đang phát triển, những khu trung tâm và đặc biệt là đối
với những đô thị cổ.
Kinh nghiệm phát triển ở các đô thị trên thế giới cho thấy ở các thành phố
có quy mô dân số nhỏ hơn 5000 dân thì vận tải hành khách công cộng bằng xe bus
là phương tiện đi lại chủ yếu.
Vận tải hành khách công cộng bằng xe bus đã thực sự trở thành loại phương
tiện thu hút người dân đô thị, đặc biệt là ở các đô thị của những nước đang phát
triển. Vận tải xe bus ngoài chức năng vận chuyển một khối lượng hành khách độc
lập, nó còn có khả năng thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ trung chuyển
giữa các loại hình vận tải trong hệ thống vận tải hành khách công cộng tạo mối
liên hệ đảm bảo liên thông của cả hệ thống vận tải hành khách công cộng trong đô
thị.
II - Tổng quan về trợ giá cho vận tải hành khách công cộng ở đô thị
1 - Trợ giá và sự cần thiết phải trợ giá cho vận tải hành khách công
cộng:
Theo quan điểm của OECD (Organisation for Economic Co-operation and
Development) thì trợ giá là những khoản chi trả trực tiếp của chính phủ để hỗ trợ
cho việc sản xuất, mua và bán của một sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ.
Định nghĩa này chưa xét đến một thực tế là: các chính phủ có thể sử dụng
rất nhiều những phương thức tác động khác nhau nhưng vẫn đạt được mục đích và
hiệu quả trợ giá tương tự như nhau.
ở nước ta, trợ giá là một phạm trù mới và quan niệm về nó cũng còn nhiều
điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trợ giá cũng giống như bù lỗ trong cơ chế
trước đây, trợ giá là hỗ trợ cho người sản xuất, trợ giá đồng nghĩa với bao cấp...
Nếu xét về bản chất kinh tế thì trợ giá và bù lỗ là hai phạm trù hoàn toàn khác
nhau.





Vận tải hành khách công cộng không phải là một hoạt động kinh doanh
thuần tuý mà là một hoạt động mang tính xã hội. Nó không chỉ là một yêu cầu
quan trọng đối với việc phát triển kinh tế văn hoá xã hội mà còn là một trong
những tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển văn minh đô thị. Nó góp phần duy trì
trật tự kỷ cương giao thông đô thị, hạn chế tình trạng ách tắc, tai nạn, ô nhiễm môi
trường... Trợ giá cho vận tải hành khách công cộng ở các đô thị chính là thực hiện
một chính sách xã hội về phúc lợi công cộng.
ở các thành phố thuộc các nước đang phát triển khoản mục chủ yếu trong
giá thành là nhiên liệu trong khi đó ở Anh, Canađa, Tây Âu thì chủ yếu là lương.
ở các thành phố của Anh, xe bus được miễn thuế nhiên liệu nên hàng năm
đã giảm được hơn 100 triệu Bảng Anh.
Vấn đề giá cước là vấn đề rất phức tạp, tác động tới nhiều yếu tố như trợ
giá, tỉ lệ sử dụng vận tải hành khách công cộng... ở nhiều thành phố của các nước
đang phát triển đã chọn giá cước rất thấp, thoát li chi phí khai thác. Điều đáng chú
ý nhất là tỉ lệ giữa doanh thu/chi phí không tỉ lệ với giá nhiên liệu và giá vé cho
một chuyến đi, phần lớn các thành phố thu không đủ bù đắp chi phí.
Để duy trì và phát triển vận tải hành khách công cộng đồng thời thực hiện
mục tiêu lợi ích xã hội, hầu hết các thành phố và các nước đã chọn giải pháp trợ
giá cho vận tải hành khách công cộng mà đặc biệt là cho vận tải xe bus.
Trợ giá là một vấn đề khá phức tạp, hiệu quả của nó phần lớn được quyết
định bởi việc xác định rõ đối tượng được hưởng trợ giá, hình thức trợ giá, các yếu
tố ảnh hưởng đến mức trợ giá... Mức độ trợ giá cao hay thấp lại phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố giá thành và mức độ đáp ứng nhu cầu đi lại, giữa
chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, do đó cần xem xét đầy đủ mọi khía cạnh
khi xây dựng phương án trợ giá cụ thể.
Tóm lại, để giải quyết mâu thuẫn lớn tồn tại trong vận tải hành khách công
cộng nói chung và vận tải xe bus nói riêng, đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu chất
lượng, mức độ phục vụ hành khách bằng vận tải hành khách công cộng với khả

Mục tiêu của việc trợ giá cho vận tải hành khách công cộng ở các nước
nhìn chung là giống nhau, tuy vậy phương thức thực hiện lại hết sức đa dạng và
phong phú. Về cơ bản, việc trợ giá cho vận tải hành khách công cộng có thể phân
làm hai nhóm phương thức chủ yếu đó là: các phương thức trợ giá trực tiếp và các
phương thức trợ giá gián tiếp.
2.1.1 - Hình thức trợ giá trực tiếp:
Về nguyên tắc, chính sách trợ giá có thể được thực hiện cho bên cung (đơn
vị thực hiện vận tải hành khách công cộng) hoặc cho bên cầu (người sử dụng
phương tiện vận tải hành khách công cộng).
* Trợ giá trực tiếp cho bên cung:
Nhà Nước dùng chính sách trợ giá trực tiếp tác động vào bên cung bằng
cách bổ sung doanh thu cho các đơn vị vận tải hành khách công cộng. Phương
thức này được thực hiện khi Nhà Nước yêu cầu các đơn vị vận tải giảm giá vé và


được tài trợ để bù đắp lại những thiệt hại do giảm giá vé. Cụ thể việc tài trợ để
giảm giá vé như sau:
-

Nếu giá vé thấp hơn giá thành thì việc trợ giá gồm khoản bù đắp do

không đủ chi phí và khoản lợi ích tài chính của đơn vị vận tải khi bỏ vốn ra kinh
doanh.
-

Nếu giá vé bằng giá thành sản phẩm thì việc tài trợ chỉ phải bù đắp phần

lợi ích tài chính (lãi).
Phương thức trợ giá này có ưu điểm là khuyến khích được đơn vị thực hiện
nhiệm vụ vận chuyển hành khách công cộng, đảm bảo lợi ích cho họ, khuyến


áp dụng chính sách đánh thuế vào các phương tiện vận tải cá nhân, trên

các tuyến có đủ lực lượng vận tải hành khách công cộng đáp ứng nhu cầu đi lại thì
có thể hạn chế hoặc cấm các loại phương tiện cá nhân khác bằng các biện pháp
mang tính cưỡng chế.
* Nhà Nước tạo điều kiện cho vận tải hành khách công cộng hoạt động
được bình thường, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ hành khách bằng
cách:
-

Ưu đãi về tài chính đối với các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất.

Dùng chính sách giá ưu đãi các yếu tố đầu vào của hoạt động vận tải như: miễn
giảm thuế vốn, lãi suất tín dụng, thuế nhập khẩu phương tiện, thuế đất, miễn thuế
nhập nhiên liệu phụ tùng. Dùng chính sách miễn giảm thuế các yếu tố đầu ra của
hoạt động sản xuất vận tải như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp.
-

Cho phép các đơn vị vận tải kinh doanh các dịch vụ hỗ trợ mà không

phải nộp thuế.
Ưu điểm của phương thức trợ giá gián tiếp là góp phần hạ thấp chi phí cho
vận tải hành khách công cộng do có sự ưu đãi các yếu tố đầu vào và đầu ra. Tuy
vậy, phương thức này cũng có nhược điểm là các đơn vị hoạt động vận tải có thể
tranh thủ dựa vào sự ưu đãi của Nhà Nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh
của mình. Lúc đó các mục tiêu của Nhà Nước sẽ khó có thể được thực hiện.
Tóm lại, việc trợ giá có thể được thực hiện cho bên cung hoặc bên cầu. Với
cùng một mức trợ giá, khi trợ giá cho bên cung thì tác động trực tiếp đến cả bên
cung và bên cầu. Còn nếu trợ giá cho bên cầu thường chỉ có tác động trực tiếp cho

Bù doanh
thu

Bù thu nhập

trợ giá
gián tiếp

bên cung

* Tạo môi trường
hoạt
động
thuận
lợi.
- Mở rộng và nâng
cấp
mạng
lưới
tuyến.
- Các giải pháp
hạn
chế
phương
tiện vận tải cá
nhân.

* Tạo điều kiện
hoạt
động


Tính trợ giá theo số chuyến xe.

-

Tính trợ giá theo lượt hành khách và tổng km xe chạy.


-

Tính trợ giá dựa trên phân tích biểu đồ cân đối thu chi

-

Tính trợ giá theo phương án tổng hợp theo số lượt hành khách và số

chuyến xe chạy.
3 - Các nhân tố ảnh hưởng đến mức trợ giá cho vận tải hành khách
công cộng:
Mức trợ giá cho vận tải hành khách công cộng nói chung và vận tải xe bus
nói riêng ở đô thị phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố. Tuy nhiên, có thể phân loại
các nhân tố theo một số tiêu thức:
3.1 - Theo tính tất yếu của nhân tố:
Gồm có hai nhóm chủ yếu là nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
* Nhân tố khách quan (hay còn gọi là nhân tố của nền kinh tế) phát sinh và
tác động như một tất yếu nằm ngoài sự chi phối và ý muốn chủ quan của con
người. Một cách chung nhất thì các nhân tố khách quan chính là các yếu tố đặc
trưng cho môi trường hoạt động của vận tải hành khách công cộng. Nó bao gồm
các yếu tố về thị trường và giá cả thị trường (cả thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu
ra cũng như thị trường các yếu tố đầu vào của hoạt động vận tải hành khách công

đến mức trợ giá

nhân tố khách quan

chính
sách
giá vé

các
chế độ
tài
chính
của
nhà
nước
(thuế,
phí,
bhxh)

nhu
cầu đi
lại và
đặc
tính
của
nhu
cầu đi
lại

thị

tính
khai
thác
của
tuyến

trình
độ tổ
chức
quản
lý và
điều
hành

các nhân tố ảnh hưởng
đến chi phí

Sơ đồ 1.3: Phân loại nhân tố ảnh hưởng đến mức trợ giá


Qua sơ đồ phân loại ở hình 1.3 cho thấy: các nhân tố ảnh hưởng đến mức
trợ giá cho vận tải hành khách công cộng thông qua ảnh hưởng của nó đến doanh
thu từ hoạt động của hệ thống và chi phí cho việc vận hành hệ thống vận tải hành
khách công cộng.
* Doanh thu:
Doanh thu từ hoạt động của hệ thống vận tải hành khách công cộng được
hình thành từ các nguồn chủ yếu sau:
-

Doanh thu từ bán vé cho hành khách đi trên tuyến.

+ Chi phí khấu hao máy móc thiết bị (C1) như: phương tiện vận tải, máy
móc thiết bị điều khiển, nhà cửa, công trình vật kiến trúc, depot, garage, terminal...
Đây là phần giá trị đầu tư vào tài sản cố định phục vụ cho hoạt động của vận tải
hành khách công cộng được chuyển dần thành chi phí khai thác thông qua khấu
hao.


+ Chi phí về nguyên nhiên vật liệu (C2) được sử dụng trong quá trình vận
hành của vận tải hành khách công cộng như: nhiên liệu trong vận tải dầu nhờn, vật
tư phụ tùng trong bảo dưỡng sửa chữa phương tiện...
+ Chi phí tiền lương và bảo hiểm xã hội cho lao động (v) như: lương lái
phụ xe, nhân viên điều hành, công nhân bảo dưỡng sửa chữa, nhân viên quản lý...
+ Các khoản chi phí khác (Ckhác): bao gồm các chi phí cần thiết phát sinh
trong quá trình vận hành của vận tải hành khách công cộng không nằm trong ba
nhóm chi phí nói trên như: các loại thuế đánh vào yếu tố đầu vào của vận tải hành
khách công cộng, các loại lệ phí, lãi suất ngân hàng...
-

Phân loại theo tính biến động của chi phí:

Toàn bộ chi phí trong hoạt động vận tải hành khách công cộng được phân
ra thành chi phí cố định và chi phí biến đổi.
+ Chi phí cố định (Định phí): là loại chi phí không phụ thuộc hoặc ít phụ
thuộc vào sự thay đổi của mức sản lượng hay tổng quãng đường xe chạy như: tiền
lương trả theo thời gian, chi phí khấu hao theo phương pháp đường thẳng, các loại
phí cố định, chi phí quản lý...
+ Chi phí biến đổi (Biến phí): là chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ thay đổi
của tổng quãng đường xe chạy như: tiền lương trả theo sản phẩm, chi phí nhiên
liệu, săm lốp, dầu nhờn, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa thường xuyên.
-


Các chi phí trong cùng một khoản mục đều phục vụ cho một mục đích chi.
Cách phân loại này để phục vụ hạch toán giá thành theo hạch toán thống kê hay
hạch toán nghiệp vụ và hạch toán kế toán.
Theo cách phân loại này, chi phí vận hành của vận tải hành khách công
cộng gồm:
+ Tiền lương lái phụ xe.
+ Các loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của lái phụ
xe.
+ Chi phí nhiên liệu trong vận tải.
+ Chi phí vật liệu bôi trơn.
+ Chi phí trích trước săm lốp.
+ Chi phí bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa thường xuyên phương tiện.
+ Trích khấu hao cơ bản.
+ Thuế đất.
+ Các loại phí bảo hiểm: bảo hiểm phương tiện, bảo hiểm hành khách...
+ Các loại lệ phí: lệ phí bến, cầu phà.
+ Chi phí quản lý.
4 - Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến mức trợ giá cho vận tải hành
khách công cộng bằng xe bus:
4.1 - ảnh hưởng của nhu cầu đi lại và đặc tính nhu cầu đi lại trong vùng
thu hút của mạng lưới tuyến xe bus công cộng:


Trích đoạn Hình thức kiểm tra Thiết kế các loại vé Xét duyệt và cấp phát trợ giá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status