Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG ĐẠI HẢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ
LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Đỗ Đức Bình
THÁI NGUYÊN - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS. TS Đỗ Đức Bình, người
thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên
cứu đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Khoa Sau đại học - Trường Đại học
kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học thái nguyên, Quý thầy cô Khoa Quản lý
kinh tế đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại
Chi cục thuế, Phòng tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thống kê huyện Lâm thao, Chi cục
thuế thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ; Chi Cục thuế huyện Vĩnh tường - Tỉnh Vĩnh
Phúc, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi
trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện Luận văn này.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Đại Hải
1.1.6. Vai trò của thuế giá trị gia tăng 12
1.2. Nội dung công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 14
1.2.1. Sự cần thiết và khái niệm của công tác quản lý thuế GTGT 14
1.2.2. Quy trình, nội dung công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 16
1.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý thuế GTGT 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế giá trị gia tăng 30
1.4. Một số kinh nghiệm về quản lý thuế giá trị gia tăng ở một số chi cục thuế
và bài học rút ra 34
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý thuế giá trị gia tăng ở một số địa phương 34
1.4.2. Một số bài học rút ra 36
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 40
2.2. Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1. Cơ sở phương pháp luận 40
41
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 42
2.2.4. Phương pháp tổng hợp số liệu 43
2.2.5. Phương pháp phân tích thông tin 44
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của các doanh nghiệp NQD và
số hộ kinh doanh 46
2.3.2. Kết quả kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp NQD 47
nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh 47
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT TẠI
CHI CỤC THUẾ LÂM THAO 48
3.1. Khái quát về Chi cục thuế Lâm Thao 48
4.2.2. Quan điểm 2: Hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng phải
nhằm khắc phục triệt để những bất cập và tiêu cực phát sinh từ công tác thu
thuế và hoàn thuế GTGT 101
4.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia
tăng tại Chi cục thuế Lâm Thao 101
4.3.1. Tăng cường cải cách quy trình quản lý thuế giá trị gia tăng 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
4.3.2. Tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng 103
4.3.3. Tăng cường công tác quản lý ấn chỉ, hoá đơn tự in, chứng từ 104
4.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra 105
4.3.5. Tăng cường phối hợp với các ngành chức năng 106
4.3.6. Tăng cường việc áp dụng tin học vào công tác quản lý thuế GTGT 106
4.3.7. Tăng cường công tác đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng
giao tiếp cho đội ngũ cán bộ 107
4.3.8. Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn thuế giá trị gia tăng 108
4.3.9. Góp phần hoàn thiện luật thuế GTGT 109
4.4. Kiến nghị 109
4.4.1. Kiến nghị đối với Nhà nước Trung Ương 109
4.4.2. Kiến nghị với Huyện Lâm thao và Tỉnh Phú thọ 110
4.4.3. Kiến nghị với cục thuế Tỉnh và cơ quan quản lý thuế cấp trên (Tổng cục
thuế và Bộ tài chính) 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
TH
: Thực hiện
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TT-HT
: Tuyên truyền - Hỗ trợ
UBND
: Uỷ ban nhân dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Tăng trưởng của loại hình DN và hộ kinh doanh 49
Bảng 3.2. Kết quả Kiểm tra thuế đối với Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
địa bàn huyện Lâm Thao năm 2010 - 2012 68
Bảng 3.3. Kết quả thu NSNN 2010 - 2012 74
Bảng 3.4: Kết quả thu thuế GTGT 2010 - 2012 75
Bảng 3.5: Sự thay đổi Nợ khó thu thuế GTGT qua các năm 2010 - 2012 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Qui trình quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai - tự tính - tự nộp thuế . 16
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy Chi cục thuế Lâm Thao 59
Sơ đồ 3.2: Quy trình quản lý ĐTNT thuế GTGT 61
Luật thuế GTGT đã thi hành được 16 năm. Bên cạnh những thành tựu đạt
được, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Các vụ gian lận thuế GTGT ngày càng
nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã
trở nên ngày càng nguy hiểm và đáng báo động bỏi nó đã tạo ra sự bất công bằng
cho các đối tượng nộp thuế. Do nhiều người chưa hiểu rõ về thuế GTGT, ý thức
chấp hành nghĩa vụ nộp thuế cũng như ý thức trong việc góp phần tham gia chống
thất thu thuế chưa cao. Đồng thời, trong thời gian áp dụng có nhiều thay đổi chưa
hoàn thiện nên luật thuế GTGT còn một số bất hợp lý chưa được thay đổi phù hợp
với điều kiện của Việt Nam hiện nay, do đó công tác quản lý thuế GTGT còn gặp
một số khó khăn, hạn chế. Một trong những vấn đề quan trọng góp phần khắc phục
những hạn chế trên là phải tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT cho
các cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
Chi cục Thuế huyện Lâm Thao trong những năm qua đã cố gắng phấn đấu
hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách của mình. Cùng với sự cố gắng, nổ lực phấn
đấu trong công tác quản lý thuế nên kết quả thu ngân sách đã đạt kết quả khá cao,
hầu hết đều đạt và vượt mức dự toán giao, số thu năm sau cao hơn năm trước. Tuy
nhiên kết quả đã vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Huyện công tác quản lý
thuế vẫn còn lúng túng, chưa đồng bộ chưa pháp huy được hết khả năng, hiệu quả
của mình. Đặc biệt là các khoản thu về thuế GTGT, vẫn còn nợ đọng, vẫn còn thất
thu cả về đối tượng nộp thuế (ĐTNT) lẫn doanh thu và mức thuế.
Để góp phần đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thi
việc nghiên cứu cơ chế thi hành quản lý thuế GTGT có ý nghĩa quan trọng trong.
Chí vì lý do trên nên tôi đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia
tăng của Chi cục thuế Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ”. Làm đề tài nghiên cứu của
minh góp phần thiết thực trong việc quản lý thuế và triển khai chiến lược cải
cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Xây dựng và gìn giữ các trị. Minh Bạch
Đề xuất các biện pháp đổi mới nhằm tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia tăng
trên địa bàn huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ phù hợp với điều kiện mới.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là Công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, hệ thống
hóa và có bổ sung, phát triển những vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng và cô
quản lý thuế giá trị gia tăng của Chi cục Thuế huyện Lâm thao.
Phân tích và đánh giá đúng thực trạng quản lý thu thế giá trị gia tăng của chi
cục thuế Lâm Thao.
Luận văn đề xuất các giải pháp sát thực, khách quan và khả thi nhằm
thiện công quản lý thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế Lâm Thao, đáp ứng yêu
cầu thu đúng, thu đủ và kịp thời cho ngân sách nhà nước. Có ý nghĩa thiết thực cho
quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và đối với các
địa phương có điều kiện tương tự.
Các kết quả nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về thuế, quản lý thu thuế. Cụ thể như sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của thuế trên các mặt: khái niệm, bản chất, vai
trò và tác dụng của thuế, phân loại thuế.
Hai là, đi sâu nghiên cứu từng sắc thuế cụ thể như: thuế giá trị gia tăng
(GTGT).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
4
Ba là, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về quản lý thuế nói
chung, bao gồm từ khái niệm, chức năng, vai trò, nội dung quản lý thuế đến các quy
trình, thủ tục, mô hình quản lý thuế.
Bốn là, làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu đối với một số
loại thuế cụ thuế như quản lý thu thuế giá trị gia tăng (VAT).
Năm là, làm rõ được một số vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với một số
đối tượng .
đến năm 1986 thì 4 mức thuế suất đó được thay đổi thành: 5,5- 7- 18,6 và 33,3%
Từ đó thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành
nguồn thu quan trọng của Chính phủ nhiều nước. Hiện nay trên thế giới đã có hơn
130 quốc gia đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế khoá của mình. Còn Đức tuy là
nước được biết về thuế GTGT sớm hơn cả nhưng mãi đến năm 1969 mới bắt đầu áp
dụng thuế GTGT với mức thuế suất là 10% và đến năm 1995 tăng lên là 15% Lịch
sử áp dụng thuế GTGT ở các nước trên thế giới là bài học kinh nghiệm rất quý giá
cho Việt Nam học hỏi trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT.
Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT chính thức được Quốc Hội thông qua ngày
10-05-1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1999. Luật thuế GTGT ra đời đã
khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu như: Tránh tình trạng tính
thuế trùng lắp, việc thực hiện tổ chức quản lý dễ dàng và đơn giản hơn, mang tính
trung lập và dân chủ cao. Đồng thời, thuế GTGT cũng đã thể hiện được vai trò rất
quan trọng trên mọi lĩnh vực như: Khuyến khích sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu,
thu hút được các nguồn đầu tư từ nước ngoài, thúc đẩy công tác hạch toán, kế toán
trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện chống thất
thu thuế, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách Nhà nước, góp phần tăng
cường quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Sau khi thuế GTGT ra đời thay thế cho thuế doanh thu thì hệ thống thuế của
Việt Nam đã có nhiều ưu điểm nổi bật hơn, mang lại nhiều thành công hơn góp
phần quan trọng đưa đất nước phát triển về KT-XH, hội nhập với khu vực và thế
giới. Hiện nay, hệ thống thuế của Việt Nam bao gồm các sắc thuế:
- Thuế giá trị gia tăng;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thuế thu nhập cá nhân;
sản phẩm là tổng các giá trị tăng thêm ở các giai đoạn đó. Thuế đánh vào tổng giá
trị sản phẩm ở mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn thuế đánh vào phần giá trị
tăng thêm ở từng giai đoạn gọi là thuế GTGT.
Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm, nên dù hàng hoá được
mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay vòng vo qua nhiều
thang, nhiều nấc thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định,
đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả.
Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng, còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với
tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế. Vì vậy, có thể nói
bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng.
Cũng do thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ,
nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào làm cho
giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp vào ngân
sách, về thực chất lại là do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả,
tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế. Lúc này các cơ sở sản xuất, kinh
doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước và là người nộp hộ thuế cho
người tiêu dùng, là một mắt xích trong hệ thống thu thuế. Vì vậy, thuế GTGT là một
loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một
cách gián tiếp, thông qua giá cả.
Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức
trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống thất thu cho
ngân sách Nhà Nước. Đặc biệt là đối với đối tượng người nộp thuế trong việc tự kê
khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi nhân dân phải có
tinh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
vụ của thuế doanh thu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Thuế GTGT tăng cường tính dân chủ. Việc thuế doanh thu không được thể
hiện rõ bên cạnh giá bán hàng hoá như bấy lâu nay là không phù hợp với phương
châm này, nó chưa thể hiện được tính dân chủ. Trái lại, thuế GTGT được thể hiện rõ
bên cạnh giá bán làm cho người tiêu dùng biết rõ sự đóng góp của mình vào ngân
sách Nhà nước thông qua việc tiêu dùng, đó là một biểu hiện của dân chủ và công
khai. Khi chịu thuế GTGT, người tiêu dùng có thể cảm nhận được, thậm chí họ cảm
thấy hãnh diện hoặc phiền lòng nếu tiêu dùng những hàng hoá có thuế cao, hoặc họ
cảm thấy hài lòng khi chọn được những mặt hàng tiêu dùng có thuế thấp. Đây là
một ưu điểm về tính dân chủ của thuế GTGT.
Thuế GTGT mang tính trung lập cao. Một loại thuế được gọi là trung lập khi
nó không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến hoạt động của doanh nghiệp nếu Chính
phủ không muốn thế. Trong thuế doanh thu các doanh nghiệp có khuynh hướng tối
thiểu hóa số tiền thuế phải nộp bằng cách hội nhập lại theo chiều dọc, mặc dù Chính
phủ không muốn thế, (ví dụ: xí nghiệp sợi có thể kết hợp với xí nghiệp dệt và may
để không phải đóng thuế khi chuyển sản phẩm từ khâu trước sang khâu sau). Còn
thuế GTGT không hề khuyến khích các doanh nghiệp hội nhập như trên bởi vì tổng
số thuế phải nộp trong cả 2 trường hợp là như nhau. Tuy thuế GTGT áp dụng các
mức thuế suất khác nhau đối với các loại hàng hoá khác nhau phần nào có tác động
đến quan hệ sản xuất trong xã hội, nhưng xét về cơ bản, thuế GTGT không can
thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khích hay hạn chế sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
theo ngành nghề cụ thể.
1.1.5. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
- Phương pháp tính Thuế GTGT
Đặc trưng của thuế GTGT là chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ ở mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Để
mua vào
x
Thuế suất
thuế
GTGT
Hay:
Thuế Thuế Thuế
GTGT = GTGT - GTGT
phải nộp thu hộ trả hộ
Phương pháp này rất thuận lợi cho việc tính thuế trong trường hợp thuế suất
đầu ra và thuế suất đầu vào khác nhau.
Trong 4 phương pháp trên, thì 2 phương pháp đầu có nhiều hạn chế và khó
chính xác. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều sử dụng cách tính thuế GTGT theo
phương pháp trừ gián tiếp.
Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng 2 phương pháp tính thuế GTGT là:
(1) Phương pháp khấu trừ:
Số thuế Thuế Thuế
GTGT = GTGT - GTGT
Thuế Doanh Doanh Thuế suất thuế
G TG T = số bán - số mua x GTGT của hàng
Phải nộp ra vào hoá, dịch vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
phải nộp đầu ra đầu vào
Trong đó:
Thuế Giá tính thuế Khối lượng Thuế suất thuế
GTGT = của hàng hoá x hàng hoá, dịch x GTGT của hàng
đầu ra dịch vụ vụ bán ra hoá, dịch vụ đó
dịch vụ nhưng không đủ hóa đơn mua vào, thì áp dụng theo công thức sau:
GTGT của
hàng hóa
=
Doanh Thu
*
Tỷ lệ(%)
GTGT tính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
Dịch vụ
trên doanh thu
1.1.6. Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Trong nền kinh tế quốc dân, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách mà còn
là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý Nhà
nước. Nhà nước sử dụng thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu
nhập, giải quyết công bằng xã hội Trong đó, thuế GTGT là một khoản thu chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách của Nhà Nước, do đó thuế GTGT có vai trò
rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Có thể khái quát các
vai trò đó thành ba vai trò cơ bản như sau:
* Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất
hoặc nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, hạn chế thất
thu. Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình
sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho
trên thị trường quốc tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, giải quyết nhu cầu lao
động trong xã hội.
Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối. Thuế GTGT áp dụng mức thuế suất cao đối với các loại hàng hoá, dịch
vụ cao cấp mà chỉ những người có thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều
hơn, còn đối với các hàng hoá thông thường hoặc có tính chất thiết yếu thì thuế
GTGT quy định mức thuế suất thấp hơn, qua đó điều tiết một phần thu của họ.
Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị
trường, giá cả hàng hoá được bán ra phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cung cầu, nó
phải được người tiêu dùng chấp nhận, người sản xuất khó có thể thay đổi giá cả
theo ý mình. Do đó việc Nhà nước đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu thuần của
doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm
bớt chi phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật,
nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán,
phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
nước đã khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn,
chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra,
thuế GTGT góp phần phát triển hệ thống thanh toán. Việc thuế GTGT đòi hỏi
những doanh nghiệp có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì mới
được hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua hệ thống
ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.
* Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện luật thuế
GTGT. Để thu được thuế và đảm bảo thực hiện đúng luật thuế, cơ quan thuế và các