Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện lâm thao tỉnh phú thọ - Pdf 68

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế và quản lý
với đề tài “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
tại huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ” đã được hoàn thành. Tác giả xin chân thành cảm
ơn các Thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Thủy Lợi, cùng bạn bè và đồng nghiệp đã
tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Anh
Tuấn đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện
Lâm Thao đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn.
Do hạn chế về thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế của bản than chưa
nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được ý
kiến đóng góp tận tình của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để bài luận văn hoàn thiện
hơn, góp một phần nào đó vào việc tăng cường công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội
bắt buộc tại huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Việt

i


LỜI CAM ĐOAN

1.1.5 Hệ thống các chế độ Bảo hiểm xã hội ....................................................... 10
1.1.6 Quỹ Bảo hiểm xã hội................................................................................. 10
1.2 Văn bản pháp lý về quản lý bảo hiểm xã hội ...................................................... 12
1.3 Công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc ................................................. 13
1.3.1 Khái niệm thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc .................................................. 13
1.3.2 Vai trò của công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc ..................... 14
1.3.3 Nội dung của công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc .................. 16
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc ......... 31
1.4.1 Các yếu tố khách quan .............................................................................. 31
1.4.2 Các yếu tố chủ quan .................................................................................. 35
1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương về công tác quản lý thu BHXH bắt buộc . 36
1.5.1 Kinh nghiệm công tác quản lý thu BHXH bắt buộc của huyện Thanh Ba
............................................................................................................................ 36
1.5.2 Kinh nghiệm công tác quản lý thu BHXH bắt buộc của huyện Hạ Hòa .. 37
1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho BHXH huyện Lâm Thao ........................ 38
1.6 Các công trình nghiên cứu có liên quan .............................................................. 40

iii


Kết luận chương 1 ......................................................................................................... 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC TẠI HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ ........................................ 45
2.1 Giới thiệu chung về huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và cơ quan Bảo hiểm xã hội
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ................................................................................ 45
2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ............................... 45
2.1.2 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ............... 53
2.2 Giới thiệu về tình hình công tác quản lý bảo hiểm xã hội của Việt Nam ........... 58
2.3 Phân tích thực trạng công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ........................................................................................... 60

3.2.3 Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thu BHXH ............................. 96
3.2.4 Giải pháp về kiện toàn bộ máy quản lý thu BHXH bắt buộc ................... 97
3.2.5 Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý thu BHXH bắt buộc ................. 98
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác quản
lý thu BHXH bắt buộc......................................................................................101
3.2.7 Giải pháp về phối kết hợp với các ban ngành liên quan trong quá trình
thực hiện ...........................................................................................................106
3.2.8 Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách ..............................................107
3.3 Một số kiến nghị................................................................................................ 108
3.3.1 Đối với Nhà nước ....................................................................................108
3.3.2 Đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ......................................109
Kết luận chương 3 .......................................................................................................110
KẾT LUẬN .................................................................................................................111

v


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý thu - nộp BHXH bắt buộc ................................................ 24
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức BHXH huyện Lâm Thao ...................................................... 56
Sơ đồ 2.2 Quy trình thu BHXH bắt buộc tại huyện Lâm Thao..................................... 75
Sơ đồ 2.3 Trình tự thủ tục tham gia BHXH lần đầu ..................................................... 76

vi


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Biến động sử dụng đất huyện Lâm Thao 2016- 2018 .................................... 48

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHXH BB

Bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHYT

Bảo hiểm y tế

CBVC

Cán bộ viên chức

CNTT

Công nghệ thông tin

DN

Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

ĐTNN



1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta đang trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ngày càng
quan tâm, chú trọng đến công tác An sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một
trong những trụ cột quan trọng của hệ thống An sinh xã hội, các chính sách BHXH
góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định tình hình chính trị xã hội, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc mở rộng và hoàn thiện chế độ,
chính sách BHXH cần có bước đi, lộ trình phù hợp tình hình thực tế của đất nước. Phát
triển hệ thống BHXH đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, nhằm đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và
thụ hưởng các chế độ BHXH.
Trong ngành BHXH nói chung thì công tác thu BHXH giữ vị trí trọng tâm, thu BHXH
được triển khai thực hiện tạo ra một quỹ tài chính, gọi là quỹ BHXH. Quỹ BHXH là
quỹ tài chính độc lập, tập trung vào ngân sách Nhà nước. Quỹ BHXH có ý nghĩa quan
trọng đối với sự nghiệp phát triển BHXH; đảm bảo việc chi trả các chế độ cho các đối
tượng tham gia, hưởng BHXH và cho ngành BHXH hoạt động có hiệu quả. Quỹ
BHXH được hình thành từ các nguồn như: Sự đóng góp của người lao động (NLĐ),
đóng góp của người sử dụng lao động (NSDLĐ), nguồn ngân sách hỗ trợ của Nhà
nước và thu từ các nguồn khác.
Công tác thu BHXH được tiến hành đều đặn từng quý đối với tất cả các ngành, các
đơn vị có sử dụng lao động sẽ giúp nhà nước trong việc giảm chi từ ngân sách nhà
nước trong việc chi trả chế độ BHXH, mà các khoản chi này từ ngân sách nhà nước là
rất lớn. Điều này càng khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác thu
trong ngành BHXH.
Hiện nay trên cả nước nói chung, địa bàn huyện Lâm thao tỉnh Phú Thọ nói riêng, bên
cạnh các đơn vị thực hiện tốt các chế độ, chính sách cho người lao động thì vẫn còn

1




3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản
lý BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, không đề cập tới quản
lý BHXH tự nguyện, BHYT và đối tượng thuộc lực lượng vũ trang tham gia BHXH.
- Về không gian: BHXH huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian:
+ Các số liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ năm 2016-2018
+ Thời gian nghiên cứu đề tài từ 2017 đến 2018
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và sử dụng các phương
pháp cụ thể như: phương pháp khái quát hóa, phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích - tổng hợp, khảo sát điều tra chọn mẫu để nghiên cứu thực trạng quản lý thu
BHXH bắt buộc tại địa bàn huyện Lâm Thao và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác quản lý BHXH bắt buộc của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Phương
pháp phân tích - tổng hợp và nội suy sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian từ năm 2016 đến
2018, về phát triển dịch vụ thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Lâm Thao. Số liệu sử
dụng trong luận văn chủ yếu được lấy từ nguồn số liệu thống kê của Bảo hiểm xã hội
huyện Lâm Thao và các tài liệu thống kê khác.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu và xử lý thông tin.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
a. Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu hệ thống hóa và bổ sung lý luận về Công tác
quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Lâm Thao.
b. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng Công tác quản lý thu BHXH bắt
buộc trên địa bàn huyện Lâm Thao. Những kết quả phân tích ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa bàn và
những giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH bắt buộc trên địa

3


nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động
của họ. Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi có
đầy đủ thu nhập và các điều kiện sống bình thường. Ngược lại, có rất nhiều trường hợp
gặp khó khăn, bất lợi, ngẫu nhiên phát sinh làm cho con người ta bị giảm thu nhập
hoặc các điều kiện phát sinh khác chẳng hạn như: Ồm đau, thai sản, tai nạn lao động,
mất việc làm hay khi tuổi già,... khi gặp phải những rủi ro đó thu nhập của họ bị giảm
hoặc mất, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của chính bản thân họ và cả gia đình từ
đó gây bất ổn đến xã hội.
Bởi vậy, muốn tồn tại và phát triển ổn định, con người và xã hội loài người phải tìm ra
cách giải quyết cho các vấn đề trên. Sự tương trợ cộng đồng dần dần được hình thành,
mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như việc lập quỹ tương tế, các
hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật để trợ giúp lẫn nhau. Những hình thức trợ giúp
tự nguyện của cá nhân, của cộng đồng đã góp phần bảo đảm nguồn vật chất cần thiết
đối với những người hoạn nạn, khó khăn, thiếu thốn. Đây chính là tiền đề hình thức
hình thành nên bảo hiểm. Khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, việc thuê
mướn lao động diễn ra phổ biến làm cho mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ và người chủ
lao động đa dạng hơn và cũng phức tạp hơn. Thu nhập của người thợ từ làm công ăn
lương thì họ không còn bất kỳ một khoản thu nhập nào khác, cuộc sống của họ chỉ phụ
thuộc vào tiền công nhận được. Chính vì vậy khi không may bị ốm đau, thai sản, tai
nạn họ gặp rất nhiều khó khăn, không thể tự trang trải được trong khi họ không nhận
được tiền công tiền lương hay bất kỳ sự trợ giúp nào vào những ngày nghỉ đó. Thực tế
đó dẫn đến việc giới thợ đã đấu tranh buộc giới chủ phải cam kết trả lương, trả công
cho họ khi họ nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn, sinh đẻ và khi hết tuổi lao động về nghỉ

5


hưu. Đối với giới chủ, do những đòi hỏi của giới thợ sẽ làm phát sinh thêm một khoản
chi phí - trả tiền cho NLĐ khi NLĐ gặp rủi ro là điều mà họ không mong muốn. Quan
điểm trái ngược nhau đó làm mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng trở nên gay gắt,


phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Mặt khác là một bộ phận
trong hệ thống chính sách kinh tế -xã hội, BHXH còn góp phần vào sự bình ổn xã hội
của quốc gia. [3]
1.1.2.2 Vai trò đối với chính trị
BHXH là trụ cột trong chính sách an sinh xã hội nó liện quan đến kinh tế, chính trị, có
tác động đến tinh thần và quan hệ xã hội. Một giai cấp chính trị, một đảng phái chính
trị hay một nhà nước nào nếu có ý thức đối với BHXH, coi đó là một công cụ điều tiết
quan trọng trong xã hội, là một chương trình chính trị thì tức là giai cấp, đảng phái,
nhà nước đó đã thực hiện tốt chức năng xã hội của mình, đã thực hiện tốt các chính
sách xã hội đối với người dân; điều đó sẽ giúp cho giai cấp, đảng phái, nhà nước đó
củng cố, giữ vững và thể hiện được quyền lực, thế lực của mình trên mặt trận chính trị.
NLĐ bị mất thu nhập khi không may gặp phải tai nạn, rủi ro sẽ được BHXH bù đắp để
đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình, điều đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước,
của cộng đồng xã hội đối với NLĐ góp phần tăng cường trật tự an toàn xã hội. [3]
1.1.2.3 Vai trò đối với văn hóa, tinh thần xã hội
BHXH thể hiện ý thức của xã hội đối với con người, giữa con người đối với con
người. BHXH thể hiện đạo lý, trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, của giai cấp cầm
quyền và cộng đồng xã hội với người dân khi họ bị mất đi khả năng lao động vì lý do
bất khả kháng hay những rủi ro bất ngờ mà họ gặp phải. Điều đó cho thấy BHXH vừa
thể hiện tính nhân đạo xã hội, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội đối với người tham gia.
Có thực hiện tốt các vấn đề về BHXH để có một xã hội ổn định và an toàn hay không
được coi là một tiêu thức đánh giá xã hội đó có công bằng, văn minh, tiến bộ không.
Hiện nay trên thế giới, BHXH đã trở thành một chính sách không thể thiếu trong đời
sống xã hội. [3]

1.1.3 Bản chất của Bảo hiểm xã hội
Thực chất BHXH là sự tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xảy ra trong xã hội.
Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung hình thành do có sự đóng góp của các bện tham gia và các nguồn thu hợp pháp

BHXH đã ra đời và phát triển từ rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất cụ
thể về đối tượng của BHXH, còn tồn tại nhiều quan điểm giữa đối tượng BHXH và đối
tượng tham gia BHXH. Như chúng ta đã biết, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên

9


cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Như vậy, có thể hiểu đối tượng của BHXH chính là thu
nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc mất đi.
Đối tượng tham gia BHXH là NLĐ và người SDLĐ. Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận
những NLĐ nào đó. Mối quan hệ ràng buộc này cũng chính là đặc trưng riêng có của
BHXH. BHXH có tồn tại và phát triển một cách bền vững hay không chính là nhờ vào
mối quan hệ này. Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài NLĐ
còn có người SDLĐ và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Người SDLĐ
đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho NLĐ mà họ sử dụng.
Các cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của NLĐ và người SDLĐ, phải có trách nhiệm
quản lý và sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với NLĐ. Mối quan
hệ ràn buộc này chính là đặc riêng riêng có của BHXH. BHXH có tồn tại và phát triển
bền vững hay không là phụ thuộc vào mối quan hệ này. [3]

1.1.5 Hệ thống các chế độ Bảo hiểm xã hội
Theo tổ chức lao động Quốc tế ILO thì BHXH gồm có các chế độ chủ yếu như: Chăm
sóc y tế, Trợ cấp ốm đau, Trợ cấp thất nghiệp, Trợ cấp tuổi già, Trợ cấp tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, Trợ cấp gia đình, Trợ cấp thai sản, Trợ cấp khi tàn tật, Trợ
cấp tử tuất.
Hiện nay, ở Việt Nam đang thực hiện các chế độ BHXH như: Chế độ ốm đau; Chế độ
thai sản; Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chế độ hưu trí; Chế độ tử tuất.

trợ cấp ( chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH). Số lượng tiền trong
quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia và bởi thực
hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.
Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả: Tính hoàn trả thể
hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấp cho người lao
động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thu nhập. Do đó, người
lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp. Tuy nhiên,
thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào
những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đón g- có
hưởng, đóng ít - hưởng ít, đóng nhiều - hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là
những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn đưọc hưởng một khoản trợ cấp
như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần,

11


có người được hưởng ít lần ( với chế độ ốm đau), thậm trí không được hưởng (chế độ
thai sản).
1.2 Văn bản pháp lý về quản lý bảo hiểm xã hội
Ngày 29/6/2006, Quốc Hội ban hành Luật BHXH, trong đó quy định rõ về đối tượng
tham gia BHXH, các chế độ BHXH, nguyên tắc BHXH, tỷ lệ thu BHXH như: Người
lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng phải áp dụng các chế độ
BHXH theo quy định. Với tỷ lệ thu BHXH hiện nay là 26%, trong đó người sử dụng
lao động trích nộp18% tổng quỹ tiền lương, người lao động trừ 10,5% tiền lương
tháng. Theo đó, Bộ Tài chính có Thông tư số 58/TT-BTC hướng dẫn quy định tạm
thời về tài chính BHXH, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, quy trình quản lý thu
BHXH.
Mặt khác, để phù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước Chính phủ tiếp tục

tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
1.3 Công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc

1.3.1 Khái niệm thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
* BHXH bắt buộc:

+ Theo tổ chức LĐ quốc tế (ILO) thì BHXH là: “Sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối
với các thành viện của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào Quỹ
BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất
nghiệp. Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời
sống của thành viên và đảm bảo an toàn xã hội”.
+ Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị
mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua
việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của người lao động và gia
đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội. [2]
+ Theo TS.Nguyễn Huy Ban (Nguyện Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam) thì: “BHXH
là sự bảo vệ của xã hội đối với người LĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp
để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về KT và XH do bị ngừng hoặc bị

13


giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng LĐ, tuổi
già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia
đình người LĐ, để góp phần ổn định cuộc sống của người LĐ và gia đình họ, góp phần
bảo đảm an toàn xã hội”. Quan niệm trện đây đã phản ánh đầy đủ, toàn diện cả hai mặt
của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thể hiện bản chất của BHXH.[4]
* Thu BHXH bắt buộc:


BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, góp phần nâng
cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Người lao động khi bị
đau, thai sản, tai nạn lao động, về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị
mất. Do đó cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được bảo đảm, tạo cho người lao
động luôn yên tâm làm việc.
BHXH gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao
động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời làm
cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách
thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho người
lao động. [5]
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một quỹ độc lập với
NSNN, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ. Vì thế,
công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH. Công tác thu BHXH có những vai
trò chủ yếu sau:
- Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm
đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung, thống nhất. Thu các khoản
đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ trung ương đến địa phương
cùng với sự phối kết hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp
luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng
góp của các bên tham gia BHXH. Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ
các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH. Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong
việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham
gia BHXH nói riêng.
- Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ được tập trung về một mối, vừa đóng vai
trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng

15




16


Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với các viên
chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương. Việt Nam cũng không vượt ra
khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những người
lao động.
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao động còn có
người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Người sử
dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho người
lao động mà họ sử dụng. Các cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của người lao động và
người sử dụng lao động, phải có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ để thực hiện mọi
công việc về BHXH đối với người lao động. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của
BHXH một cách ổn định và bền vững.
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc:
Theo quyết định 959/QĐ - BHXH của Bảo hiểm xã hội Việt Nam[6] thì đối tượng
tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
+ Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,
viên chức, kể cả cán bộ, công chức cấp xã.
+ Người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; và hợp
đồng khống xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động; người lao
động, xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo hợp đồng
lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập,
hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
+ Người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công thuộc các chức danh quy
định tại Khoản 13, Điều 4 Luật Doanh nghiệp, gồm: chủ sở hữu, giám đốc doanh
nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh cống ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên,
Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các
chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status