Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Khoa
Bảo hiểm, Trường Đại học Lao Động Xã Hội – những người đã giảng dạy
cho em những kiến vô cùng quý báu trong thời gian ngồi trên giảng đường.
Đặc biệt, em vô cùng biết ơn Thạc sĩ Phùng Bá Đề - người thầy đã tận tình
hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng tập thể cán bộ, công
chức, viên chức Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Sơn, đặc biệt là cán bộ bộ
phận Thu đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, số liệu tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho em hoàn thành bài khóa luận này.
Do còn hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu bài báo
cáo của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận
được sự góp ý của các thầy, cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Vũ Thị Lan Anh
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Nội dung
Trang
Bảng 1
Lực lượng quản lý thu của cơ quan BHXH huyện Thanh
Sơn năm 2011
23
Bảng 2
Tình hình tham gia BHXH bắt buộc của NLĐ và đơn vị
SDLĐ tại BHXH huyện Thanh Sơn giai đoạn 2007-2011
24
Bảng 3
Cơ cấu số lượng đơn vị SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc
phân theo khối ngành tại BHXH huyện Thanh Sơn giai đoạn
2007-2011
28
Kết quả thu BHXH bắt buộc theo các khối ngành tại BHXH
huyện Thanh Sơn năm 2007-2011
45
Bảng 9
Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc của BHXH huyện
Thanh Sơn giai đoạn 2007-2011
48
Bảng 10
Số nợ BHXH bắt buộc của BHXH huyện Thanh Sơn phân
theo khối ngành năm 2007-2011
50
Hình 1
Biểu đồ thể hiện số đơn vị SDLĐ thuộc diện tham gia và đã
tham gia BHXH bắt buộc huyện Thanh Sơn năm 2007-2011
25
Hình 2
Biểu đồ thể hiện số người lao động thuộc diện tham gia và
Biểu đồ thể hiện tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH
bắt buộc tại BHXH huyện Thanh Sơn năm 2007-2011
41
Hình 6
Hình 7
Sơ đồ 1
Biểu đồ thể hiện số thu BHXH bắt buộc theo các khối ngành
tại BHXH huyện Thanh Sơn năm 2007-2011
Biểu đồ thể hiện cơ cấu số nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc
phân theo khối tại bảo hiểm xã hội huyện Thanh Sơn năm
20010 và năm 2011
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan BHXH huyện Thanh
Sơn
SV: Vũ Thị Lan Anh
46
51
22
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
thành tích như: số đơn vị, số lao động tham gia BHXH bắt buộc, số thu
ngày càng tăng, chi trả đúng đối tượng... Tuy nhiên bên cạnh những thành
tích đã đạt được thì vẫn còn tình trạng nợ đọng BHXH, lao động thuộc diện
tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa được tham gia, trục lợi BHXH.
Xuất phát từ thực tế trên, qua một thời gian thực tập tại BHXH
huyện Thanh Sơn em lựa chọn đề tài: “Công tác quản lý thu Bảo hiểm xã
hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ giai
đoạn 2007-2011 thực trạng và giải pháp”.
2.
Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về nội dung, ý nghĩa, vai trò của
BHXH và quản lý thu. Đồng thời đánh giá thực trạng công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Thanh Sơn giai đoạn 2007-2011 và đưa
ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện tốt công tác quản lý thu
BHXH bắt buộc tại BHXH huyện.
SV: Vũ Thị Lan Anh
6
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Một số phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu kết hợp phân tích lý
luận và thực tiễn.
6.
7.
Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý thu tại BHXH huyện Thanh Sơn.
Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Cấu trúc
Chương I: Một số lý luận chung về bảo hiểm xã hội và công tác quản lý
thu bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
tại Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007-2011.
Chương III: Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác
quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Thanh Sơn.
CHƯƠNG I
SV: Vũ Thị Lan Anh
7
Lớp: Đ4BH1
riêng và ổn định trật tự xã hội, ổn định sản xuất nói chung.
Hệ thống BHXH thực sự đầu tiên ra đời tại Cộng hòa liên bang Đức
(1850) bằng việc thủ tướng Đức Bismark đã ban hành đạo luật BHXH đầu
tiên trên thế giới. Theo đạo luật này, hệ thống BHXH ra đời với sự tham gia
bắt buộc của cả người làm công ăn lương và giới chủ. Nhà nước đảm bảo
một số chế độ và giữ vai trò quản lý, định hướng hoạt động của BHXH.
Đây là nguồn gốc của sự ra đời nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc và việc quy
định người được bảo hiểm phải đóng phí BHXH và có sự tham gia ba bên:
Người lao động, người SDLĐ và Nhà nước. Đến ngày nay hình thức này
vẫn tồn tại và phát triển trong những nước có hệ thống BHXH.
SV: Vũ Thị Lan Anh
8
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, Bảo hiểm xã hội đã có sự tham
gia của hàng loạt các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canada. Sau chiến tranh
thế giới thứ 2 cùng với việc giành được độc lập cho mình các nước Châu
Phi, Châu Á và vùng Caribê cũng đã hình thành BHXH tại nước mình. Cho
đến nay, trải qua hơn 150 năm ra đời và phát triển, BHXH trở nên phong
phú, đa dạng và được áp dụng hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, do
điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi nước có sự khác nhau do đó BHXH cũng
có những điều kiện khác nhau.
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
nhiệm của người SDLĐ, ổn định thu chi, phát triển BHXH bền vững trong
điều kiện đời sống xã hội chưa cao, thông qua đó nhằm mục đích đảm bảo
đời sống cho NLĐ cũng như đảm bảo ASXH.
Ở nước ta trước đây, khi mới triển khai BHXH thì chỉ có BHXH bắt
buộc, áp dụng cho công nhân viên chức trong khu vực hành chính Nhà
nước. Đến nay, khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống dần được
ổn định và nâng cao thì nhu cầu được bảo vệ trước rủi ro của con người
cũng được nâng cao hơn. Đối tượng được tham gia BHXH đã được mở
rộng, BHXH tự nguyện cũng được triển khai giúp NLĐ yên tâm sản xuất từ
đó tiến tới mục tiêu ASXH.
1.1.3. Khái niệm về thu bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm
xã hội
Để tìm hiểu về quản lý thu BHXH trước hết tìm hiểu về khái niệm
quản lý. Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong tổ chức nhân sự nói
chung là: “Hoạt động của các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để
thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung”. Công việc quản lý gồm 5 nhiệm
vụ: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các
nguồn lực có thể sử dụng để quản lý đó là nhân lực, tài chính, công nghệ,
môi trường tự nhiên…
Với chức năng quản lý, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình
thông qua các thể chế chính trị bao gồm hệ thống pháp luật và các thiết chế
chính trị để tổ chức thực hiện công tác thu BHXH dưới hai hình thức bắt
1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.1. Vai trò của bảo hiểm xã hội
BHXH là một trong những hợp phần của hệ thống ASXH nhằm đảm
bảo sự an toàn bản thân NLĐ cũng như gia đình họ trong trường hợp gặp
rủi ro trong cuộc sống.
Đối với người lao động:
Mục đích chính của BHXH là đảm bảo thu nhập cho NLĐ cũng
như gia đình họ. Khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống dẫn đến giảm
hoặc mất thu nhập. Vì vậy, đối với NLĐ thì BHXH chính là điều kiện cho
NLĐ được cộng đồng tương trợ khi ốm đau, tai nạn…Đồng thời BHXH
cũng chính là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho
những khó khăn của các thành viên khác.
Không những vậy, tham gia BHXH còn giúp cho NLĐ nâng cao hiệu
quả trong chi dùng cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ đều đặn để
có được nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả, mất sức lao động…
nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình họ. Nhờ có
BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ
em, những người tàn tật, góa bụa cũng được đảm bảo an toàn.
+
Đối với người sử dụng lao động:
BHXH giúp các tổ chức, doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất
kinh doanh. Khi người sử dụng lao động tham gia BHXH sẽ thể hiện được
trách nhiệm với NLĐ. Do đó mối quan hệ lao động sẽ trở nên bền chặt hơn,
NLĐ sẽ tận tâm làm việc năng suất lao động ngày càng cao, hoạt động của
doanh nghiệp sẽ có hiệu quả, ngày càng mở rộng.
BHXH còn giúp các đơn vị ổn định nguồn chi, ngay cả khi rủi ro xảy
ra thì họ cũng ít bị ảnh hưởng. Nhờ đó các chi phí được chủ động hạch
phần quan trọng trong quá trình huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài
chính thêm phong phú và kinh tế xã hội phát triển.
Đối với nước ta, thông qua các chính sách của BHXH bắt buộc đối
với khu vực chính thức thì BHXH còn góp phần làm cho quá trình sản xuất
nhỏ tiến lên sản xuất lớn nhanh chóng hơn. BHXH còn có vai trò phân phối
lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH, góp phần thực hiện công
bằng xã hội.
1.2.2. Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội
Công tác quản lý thu có vai trò chủ yếu sau đây:
1.2.2.1. Nắm chắc được các nguồn thu bảo hiểm xã hội
Nguồn thu của quỹ BHXH theo quy định của luật BHXH hiện hành
gồm:
+ Nguồn đóng BHXH của NLĐ tham gia BHXH: Hàng tháng NLĐ
đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm
2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là
8%.
+ Nguồn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động: Hàng tháng
NSDLĐ đóng bằng 15% quỹ tiền lương, tiền công của những người lao
động tham gia BHXH (trong đó: 3% đóng vào quỹ ốm đau và thai sản, 1%
vào quỹ TNLĐ-BNN và 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất), từ năm 2010 trở
đi cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 18%.
+ Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư tăng trưởng.
SV: Vũ Thị Lan Anh
12
Lớp: Đ4BH1
định nhất là trong điều kiện kinh tế nước ta chưa phát triển, chúng ta không
thể tăng nhanh mức đóng BHXH.
−
Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thu đúng thời gian quy
định.
+ Thu đúng đối tượng là phải căn cứ vào những quy định trong Luật
BHXH. Hiện nay theo quy định của Luật BHXH có hai loại: BHXH bắt
buộc và BHXH tự nguyện. Trong các đơn vị tham gia BHXH, đặc biệt là
các đơn vị sản xuất kinh doanh thường có số lao động có đủ điều kiện tham
gia BHXH bắt buộc và cũng có số lao động chưa có đủ điều kiện tham gia
BHXH bắt buộc, với các lý do khác nhau đã kê khai danh sách đóng
BHXH ít hơn số lao động đủ điều kiện tham gia BHXH theo Luật định.
+ Thu đủ số lượng và thu đúng thời gian quy định cũng phụ thuộc
vào công tác quản lý thu BHXH. Trên thực tế có rất nhiều đơn vị nộp
BHXH không đủ số lượng hàng tháng. Tình trạng trốn tránh nộp BHXH,
nợ đọng tiền BHXH còn xảy ra ở nhiều đơn vị. Vì vậy phải bằng các biện
pháp quản lý thu khoa học, kết hợp với các biện pháp hành chính cứng rắn,
phạt tiền đối với các đơn vị cố tình nợ, không nộp BHXH đúng hạn. Có
như vậy công tác quản lý thu BHXH mới đem lại hiêu quả cao.
1.2.2.3. Bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm xã hội
SV: Vũ Thị Lan Anh
13
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Đầu tư vào các dự án do Nhà nước quy định.
Các hình thức đầu tư cung ứng lượng tiền nhàn rỗi trên thị trường tài
chính để đầu tư phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, mang
lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
1.3. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.3.1. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Việc xác định thành viên tham gia hệ thống BHXH bao gồm người
lao động và người sử dụng lao động là một trong những nhiệm vụ lớn và
quan trọng nhất của quản lý thu BHXH.
Theo khoản 1 và 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 thì đối
tượng áp dụng BHXH bắt buộc bao gồm:
1. Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam bao gồm:
+
Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức.
+
Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và HĐLĐ
không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động.
SV: Vũ Thị Lan Anh
14
Lớp: Đ4BH1
Hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công
trình ở nước ngoài;
Hợp đồng cá nhân;
∗
Đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng
lương như đối với quân nhân, công an nhân dân, được quy định tại Nghị
định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 như sau:
+
Người lao động thuộc diện hưởng lương, bao gồm:
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân;
Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ
thuật Công an nhân dân;
Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân,
công an nhân dân;
+
Người lao động thuộc diện hưởng trợ cấp, bao gồm:
Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân;
Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân.
2. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:
+
Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
+
Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo; y
tế; văn hoá; thể dục thể thao; khoa học và công nghệ; môi trường; xã hội;
dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em và các ngành sự nghiệp khác.
+
Hợp tác xã, Liên hiệp HTX thành lập, hoạt động theo Luật HTX.
+
Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn,
sử dụng và trả công cho NLĐ theo quy định của pháp luật lao động.
+
Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh
thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia có quy định khác.
Việc quản lý đối tượng tham gia BHXH được cơ quan BHXH thực
hiện nghiêm túc, luôn theo sát các đơn vị SDLĐ để nắm bắt được số lao
động thuộc diện tham gia BHXH, số lao động biến động hàng tháng, hàng
quý.
1.3.2. Quản lý tiền lương bình quân làm căn cứ đóng bảo hiểm xã
hội
+
1.3.3.1. Quản lý mức thu
− Quản lý mức lương của người lao động (lương chính và các loại phụ cấp)
hoặc tiền công theo hợp đồng của từng NLĐ làm căn cứ đóng BHXH.
Bảng kê khai mức lương hoặc tiền công làm căn cứ đóng BHXH do đơn vị
lập theo mẫu quy định của BHXH Việt Nam, lập hàng năm theo mức tăng
giảm tiền công, tiền lương từng người lao động.
− Quản lý tổng quỹ tiền lương, tiền công của số lao động tham gia BHXH.
Bảng kê khai tổng quỹ lương do NSDLĐ lập theo mẫu của BHXH Việt
Nam và lập hàng năm theo sự biến động của số người tham gia và mức tiền
lương, tiền công thay đổi của từng NLĐ. Đây là căn cứ để tính mức đóng
BHXH hàng tháng của đơn vị SDLĐ, cần phải quản lý chặt chẽ để tránh
việc các đơn vị các đơn vị SDLĐ kê khai không đúng ảnh hưởng đến công
tác quản lý thu BHXH.
− Quản lý mức đóng BHXH của từng NLĐ trên cơ sở danh sách tham gia
BHXH của từng đơn vị, mức lương hoặc tiền công của từng NLĐ và tổng
quỹ lương của những người tham gia BHXH.
+ Mức đóng BHXH bắt buộc của NLĐ được quy định cụ thể trong Luật
BHXH năm 2006. Hàng tháng NLĐ đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền
công vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi cứ 2 năm một lần đóng
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%. Riêng NLĐ hưởng tiền lương,
tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì được đóng BHXH theo
hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần. Đối với người làm việc có thời
hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc thì mức đóng và
phương thức đóng được giao cho Chính phủ quy định.
1.3.3.2. Quản lý phương thức thu bảo hiểm xã hội
Quản lý phương thức đóng BHXH được thực hiện theo quy định của
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006. Phương thức đóng BHXH được thực hiện
theo tháng, quý hay sáu tháng một lần tùy thuộc vào tình hình sản xuất,
kinh doanh của đơn vị và được cơ quan BHXH chấp nhận phương thức
đóng đó. Các đơn vị có thể đóng tiền BHXH bằng tiền mặt, đóng bằng séc
hay chuyển khoản cho cơ quan BHXH.
Hệ thống BHXH thực hiện nhiều phương thức khác nhau để thu các
khoản đóng góp như: thu bằng tiền mặt trực tiếp, thu bằng séc hoặc chuyển
khoản.
− Thu qua tài khoản: Là hình thức các đơn vị SDLĐ hàng tháng nộp BHXH
vào tài khoản thu BHXH của các cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn hoặc Kho bạc Nhà nước. Đây là hình thức
thu của BHXH Việt Nam.
− Thu bằng tiền mặt: Là hình thức thu tiền BHXH trực tiếp bằng tiền mặt tại
các cơ quan BHXH. Hình thức này áp dụng chủ yếu đối với thu BHYT tự
nguyện và BHXH tự nguyện.
Vấn đề quan trọng của việc quản lý các khoản thu nộp BHXH là có
thủ tục nhận tiền an toàn, tránh sự thất thoát.
1.3.4. Quản lý quy trình thu bảo hiểm xã hội
SV: Vũ Thị Lan Anh
18
Lớp: Đ4BH1
∗
BHXH huyện
Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH, BHYT; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT
đối với NSDLĐ và NLĐ theo phân cấp quản lý.
∗
BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công An và Ban cơ yếu Chính phủ quản
lý; xây dựng kế hoạch thu và báo cáo quyết toán thu BHXH, cấp sổ BHXH
hàng năm với cơ quan BHXH Việt Nam.
1.3.4.2. Lập và giao kế hoạch thu hàng năm
∗
BHXH huyện
Căn cứ tình hình thực hiện năm trước và khả năng mở rộng NLĐ
tham gia BHXH, BHYT trên địa bàn, lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH,
BHYT bắt buộc” năm sau (Mẫu số 13-TBH) gửi 01 bản đến BHXH tỉnh
trước ngày 05/11 hàng năm.
∗
BHXH tỉnh
− Lập 02 bản dự toán thu BHXH, BHYT đối với NSDLĐ do tỉnh quản lý,
đồng thời tổng hợp toàn tỉnh lập 02 bản “Kế hoạch thu BHXH, BHYT bắt
buộc” năm sau (Mẫu số 13-TĐH), gửi BHXH Việt Nam 01 bản trước ngày
15/11 hàng năm.
đốc BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản).
Hàng quý, BHXH tỉnh (Phòng Kế Hoạch - Tài Chính) và BHXH
huyện có trách nhiệm quyết toán số tiền 2% đơn vị giữ lại, xác định số tiền
chênh lệch, thừa, thiếu; đồng thời gửi thông báo quyết toán cho phòng thu
hoặc bộ phận thu để thực hiện thu kịp thời số tiền NSDLĐD.
Chưa chi hết vào tháng đầu của quý sau.
BHXH Việt Nam thẩm định số thu BHXH, BHYT theo 06 tháng
hoặc hàng năm đối với BHXH tỉnh, BHXH thuộc Bộ Quốc Phòng, Bộ
Công An và Ban Cơ yếu Chính phủ.
1.3.4.4. Thông tin, báo cáo
BHXH tỉnh, BHXH huyện mở sổ chi tiết thu BHXH, BHYT bắt
buộc (Mẫu số 07-TBH), thực hiện ghi số theo hướng dẫn sử dụng mẫu
biểu.
BHXH tỉnh, huyện thực hiện chế độ báo cáo tình hình thu BHXH,
BHYT bắt buộc (Mẫu số 09, 10, 11-TBH) định kỳ tháng, quý, năm: BHXH
như sau:
+
BHXH huyện
Báo cáo tháng trước ngày 22 hàng tháng; báo cáo quý trước ngày 20
tháng đầu quý sau; báo cáo năm trước ngày 25 tháng 01 năm sau.
SV: Vũ Thị Lan Anh
20
Lớp: Đ4BH1
a) Đơn vị vi phạm các quy định của pháp luật về đóng BHXH bắt buộc được
cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý buộc truy đóng hoặc do cơ quan
BHXH kiểm tra và truy thu hoặc đơn vị có yêu cầu được truy thu:
Không đóng BHXH cho người lao động.
Đóng không đúng thời gian quy định.
Đóng không đúng mức quy định (từ 01/01/2010 đến 31/12/2011 mức
đóng BHXH bắt buộc là 22%).
Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
SV: Vũ Thị Lan Anh
21
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
b) Đơn vị hết thời hạn tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định
của pháp luật, đơn vị điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của NLĐ; NLĐ
đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sau khi về truy đóng BHXH theo quy
định của pháp luật.
c) Các trường hợp khác theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
1.3.5.3. Điều kiện truy thu
Đơn vị, người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
hợp phát sinh trước ngày 01/01/2007 thì báo cáo BHXH Việt Nam xem xét,
giải quyết.
b) Truy thu các trường hợp quy định tại khoản b, c, trong các trường hợp truy
thu.
SV: Vũ Thị Lan Anh
22
Lớp: Đ4BH1
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu bảo hiểm xã
hội bắt buộc
− Trình độ dân trí ảnh hưởng đến công tác quản lý thu. Nếu trình độ của cán
bộ BHXH, người SDLĐ, người lao động và người dân được nâng cao thì
nhận thức của họ về BHXH cũng được cải thiện. Khi trình độ nâng cao
người lao động, người sử dụng lao động sẽ có cơ hội tiếp xúc gần hơn với
các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là internet. Đây là một phương
tiện để tuyên truyền, giải quyết thắc mắc về BHXH cho NLĐ, NSDLĐ một
cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Từ đó, người lao động hiểu được
quyền lợi khi tham gia BHXH, NLĐ đóng với một mức thấp nhưng họ sẽ
được hưởng trợ cấp khi ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử
tuất, thai sản, thất nghiệp. Bên cạnh đó khi về già được hưởng hưu trí giúp
Trường Đại học Lao Động – Xã Hội
Khóa luận tốt nghiệp
− Chính sách tiền lương tiền công của Chính phủ cũng ảnh hưởng tới công
tác quản lý thu. Chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện
chính sách BHXH, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và hưởng BHXH
của chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào tiền lương tối thiểu do Nhà nước
quy định. Thu BHXH của người lao động dựa trên tiền lương- tiền công.
Khi chính sách tiền lương có sự thay đổi đặc biệt là tiền lương tối thiểu
tăng thì mức thu BHXH của người lao động sẽ thay đổi. Vì vậy cơ quan
BHXH phải cập nhật kịp thời những thay đổi về tiền lương - tiền công của
Chính phủ để có những chính sách phù hợp tránh tình trạng thu thiếu, thu
thừa cho người lao động.
− Trình độ chuyên môn của cán bộ công chức, viên chức. Nếu cán bộ BHXH
có trình độ chuyên môn sẽ quản lý tốt số lao động tham gia, tiền lương của
người lao động, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu của quản lý thu BHXH
là thu đúng đối tượng thu đủ số lượng và đúng thời gian quy định. Bên
cạnh đó có thể đưa ra những biện pháp để giảm tình trạng chốn đóng và
đảm bảo mọi người lao động đều được tham gia BHXH. Nếu cán bộ có
trình độ quản lý kém sẽ không thể đạt được nhiệm vụ và mục tiêu đề ra.
Bên cạnh trình độ chuyên môn thì cán bộ BHXH cần phải có phẩm chất
đạo đức và tư cách nghề nghiệp vì cán bộ BHXH là những người trực tiếp
tiếp xúc với NSDLĐ, NLĐ và người dân.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ
nghiệp được đổi mới, hình thành các hợp tác xã dịch vụ điện năng.
Tuy nhiên do là huyện Thanh Sơn có địa bàn rộng, nhiều đơn vị
tham gia BHXH nên việc đôn đốc và kiểm tra đến tận cơ sở là việc rất khó
khăn nhất là việc đôn đốc thu. Trình độ dân trí khá thấp tỉ lệ người dân tộc
thiểu số khá cao nên nhận thức của người lao động về chính sách BHXH
còn hạn chế, việc vận động người dân tham gia BHXH gặp nhiều khó khăn.
2.1.2. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội huyện Thanh Sơn
2.1.2.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển bảo hiểm xã hội ở bảo
hiểm xã hội huyện Thanh Sơn
Năm 1995 sự nghiệp BHXH đã đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế
hoạt động theo quy định của Bộ lao động được cụ thể hóa bằng điều lệ
BHXH ban hành kèm theo quy định Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của
Chính Phủ.
Từ đó BHXH huyện Thanh Sơn không còn nằm trong phòng LĐTBXH mà được tách ra thành một đơn vị riêng hoạt động độc lập theo quyết
định của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. BHXH huyện Thanh Sơn thành
SV: Vũ Thị Lan Anh
25
Lớp: Đ4BH1