MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tục ngữ , thành ngữ là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu
trong mỗi ngôn ngữ, có giá trị biểu đạt độc đáo, tinh tế, hình tượng cô đọng và
súc tích. Tục ngữ , thành ngữ gắn liền với đời sống văn hóa, với cách tư duy
của mỗi dân tộc và được xem là trầm tích của mỗi nền văn hóa dân tộc .
Chúng được đúc kết từ thực tiễn đời sống, được lưu truyền từ đời này sang đời
khác. Do vậy, nghiên cứu tục ngữ, thành ngữ có thể giúp tìm ra được những
nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc và nếu tiến hành theo hướng đối chiếu
thì có thể tìm được những nét tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa
của các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ đó.
Trong vốn tục ngữ, thành ngữ của mỗi ngôn ngữ, c tục ngữ, thanh ngữ
so sánh chếm một số lượng không nhỏ. Vì thế, việc tìm hiểu về tục ngữ v
chúng g là rất cần thiết. Bởi, tục ngữ và thành ngữ so sánh thể hiện sinh động
cách nói mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh và rất nhịp nhàng của người lao
động. Trong tục ngữ và thành ngữ so sánh, hệ thống hình ảnh vừa quen thuộc
vừa hấp dẫn. Khi tìm hiểu hình ảnh trong vế được so sánh, ta có thêm nhiều
điều lý thú về đất nước cũng như nét sắc thái văn hóa trong sự phân biệt với
các dân tộc khác.
1.2. Người Việt và người Thái đều sống trong nền kinh tế nông nghiệp
trồng lúa nước, hoặc làm nương rẫy. Do điều kiện tự nhiên khác nhau nên
cách tổ chức cộng đồng, đời sống văn hóa cũng có những điểm khác. Điều
này tạo nên sự đa dạng phong phú về nét đẹp văn hóa và bản sắc riêng của
mỗi dân tộc. Dân tộc Thái có nền văn học cổ truyền rất phong phú và đa dạng
với nhiều thể loại khác nhau, như truyện thơ, tục ngữ, ca dao trong đó có tục
ngữ và thành ngữ chiếm một số lượng đáng kể. Chúng phản ánh cuộc sống,
cũng như đúc kết kinh nghiệm trong ứng xử, với tự nhiên và xã hội của người
dân. Nó được chọn lọc hoàn thiện, qua nhiều thế hệ. Tục ngữ và thành ngữ
Thái được ra đời từ thực tế đời sống, vì vậy, chúng có cách diễn đạt thật giản
trong bài “So sánh tục ngữ người Việt với tục ngữ các dân tộc thiểu số”
( 2008), Nguyễn Nghĩa Dân đã thông qua việc đối chiếu tục ngữ của người
Việt với tục ngữ của các dân tộc thiểu số (trong đó có người Thái) ở nước ta
để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau nhằm chỉ ra cái chân, thiện,
mĩ trong tục ngữ các dân tộc ở nước ta. Bài viết đã trích dẫn và phân tích
nhiều tục ngữ Thái theo đề tài về tự nhiên – sản xuất và con người – xã hội.
Từ đó, có thể thấy về mặt tự nhiên – sản xuất, hai dân tộc Việt – Thái tuy
đều có những câu tục ngữ nói về lúa song hình ảnh cụ thể thì khác nhau:
người Việt có lúa ruộng còn Thái có lúa nương; người Việt chỉ trồng trọt còn
người Thái ngoài trồng trọt còn có cả săn bắn; thiên nhiên rừng núi cũng
được phản ánh với nét riêng không có trong tục ngữ Việt. Đối với tục ngữ chỉ
con người – xã hội, tục ngữ thái và Việt cơ bản là thống nhất, đặc biệt trong
nội dung về bản chất lao động cần cù, về đạo đức hướng thiện, về giao tiếp,
nếp sống, dựa trên tinh thần đoàn kết, hoà đồng giữa các dân tộc.
Cùng với bài nghiên cứu trên còn có các công trình biên soạn về tục
ngữ Thái như:
- “Tục ngữ Thái giải nghĩa” của Quán Vi Miên, NXB Dân Trí, 2010.
-“Tục ngữ Thái” của Hà Văn Nam, NXB Văn hóa dân tộc, 1999.
- “Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tập 1, quyển I của
Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb. Đà Nẵng, 2002.
- “Tục ngữ - Văn học dân gian các dân tộc” của Đặng Văn Lung, Nxb
Văn hoá dân tộc, 2004.
- “Lời có vần ông cha truyền lại” của Hoàng Trần Nghịch, tác phẩm
được giải ba- Hội văn học nghệ thuật- các dân tộc thiểu số Việt Nam
năm 2005.
Các tuyển tập trên đã tập hợp được lượng lớn tục ngữ Thái kèm với
phần dịch sang tiếng Việt. Các câu tục ngữ được chia xếp theo cách cơ bản,
giống với tục ngữ Việt: tự nhiên, sản xuất, xã hội,…Ngoài ra còn có những
phần lời mở đầu và Phụ lục để dẫn dắt độc giả hiểu về văn hóa người Thái.
Thông qua nghiên cứu, khảo sát tục ngữ và thành ngữ so sánh tiếng
Thái (có đối chiếu với tiếng Việt), góp phần vào nghiên cứu tục ngữ và thành
ngữ nói chung, tục ngữ và thành ngữ tiếng Thái nói riêng; qua đối chiếu để
làm nổi bật đặc trưng văn hóa dân tộc phản ánh trong tục ngữ và thành ngữ
của mỗi dân tộc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:
1) Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài luận án.
2) Nghiên cứu khảo sát đặc điểm cấu trúc tục ngữ và thành ngữ so
sánh tiếng Thái.
3) Nghiên cứu khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ và thành ngữ
so sánh tiếng Thái.
4) Đối chiếu với với tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt nhằm chỉ ra
những nét bản sắc, sắc thái văn hóa của dân tộc Thái.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc nghiên cứu tục ngữ và thành ngữ của một dân tộc là một việc đòi
hỏi nhiều công sức của nhiều người trong một thời gian dài. Trong khuôn khổ
của luận văn, chúng tôi không đi sâu vào tất cả các phương diện mà chỉ
nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ và thành ngữ so sánh
tiếng Thái, có đối chiếu với các tục ngữ và thành ngữ so sánh trong tiếng Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi thu thập các đơn vị tục ngữ và thành ngữ so sánh tiếng Thái
và tiếng Việt, chủ yếu dựa vào một số cuốn từ điển tục ngữ và thành ngữ tiếng
Thái, tục ngữ và thành ngữ đang được lưu hành rộng rãi. Đồng thời tiến hành
thu thập bằng ghi chép điền dã.
4.2. Tư liệu nghiên cứu
+ từ điển, sách gì; thu thập ra sao
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ và thành ngữ tiếng Thái (có đối
chiếu với thành ngữ tiếng Việt)
Em chú ý các ví dụ đều để chữ nghiêng: ếch ngồi đáy giếng
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ , THÀNH NGỮ
1.1.1. Giới thuyết về tục ngữ, thành ngữ:
bổ sung nội dung này
1.1.1.1. Khái niệm tục ngữ
1.1.1.2. Khái niệm thành ngữ
1.1.2. Tục ngữ, thành ngữ tiếng Thái và tiếng Việt
1.1.2.1. Khái niệm tục ngữ tiếng Thái và tiếng Việt
Thứ nhất, tục ngữ tiếng Thái :
Tục ngữ tiếng Thái là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm
của dân tộc Thái về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội.
Nó do người Thái sáng tạo, lưu truyền bằng gngôn ngữ Thái cho tới bây giờ.
Được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh
của nhân dân Thái, tục ngữ Thái biểu thị kinh nghiệm riêng của dân tộc Thái
trong sản xuất nông nghiêp, săn bắn; trong cách nhìn nhận về tự nhiên và cả
trong văn hóa ứng xử giữa người với người trong làng bản xa xưa. Nó được
diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu.
Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ
thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết,
Ếch kêu uôm uôm ao chuôm đầy nước (dân tộc Việt)
1.1.2.2. Khái niệm thành ngữ tiếng Thái và tiếng Việt
a. Khái niệm thành ngữ tiếng Thái:
Thành ngữ tiếng Thái là đơn vị tiêu biểu của ngữ cố định trong tiếng
Thái, do người Thái sáng tạo và lưu truyền. Cũng như thành ngữ của các dân
tộc khác, thành ngữ Thái có kết cấu ổn định, ý nghĩa hoàn chỉnh, hình thức
giản tiện, nhưng khả năng biểu đạt cô đọng, súc tích, h.àm ẩn, hình tượng,
sinh động và độc đáo. Nó góp phần nói lên văn hoá ngôn ngữ, giao tiếp đậm
đà bản sắc dân tộc của người Thái, cùng đó là cách nhìn, đánh giá về mọi việc
trong tự nhiên và xã hội của họ. Ví dụ:
Bẳư pé mu chôn phớ. (Dốt như lợn dũi khoai)
Bẳư pé đớ kin khoại ( Dốt như ve cắn trâu).
Lược giải: Ve ở đây là một loại côn trùng ký sinh chuyên hút máu trâu,
bò để sống. Câu tục ngữ được dùng để chê kẻ hết sức ngu dốt.
Tương đương với thành ngữ Việt: Dốt đặc cán mai; Dốt dài cán thuổng.
b. Khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Thành ngữ tiếng Việt cũng giống như thành ngữ Thái. Đó là đơn vị tiêu
biểu của ngữ cố định, ý nghĩa hoàn chỉnh, hàm ẩn, hình tượng, sinh động và
độc đáo. Điểm khác là nó bằng tiếng Việt, do người Việt sáng tạo ra. Vì vậy,
nó thể hiện những nét riêng về văn hóa, cách dùng ngôn ngữ của người Việt.
Thành ngữ Việt nhiều hơn hẳn thành ngữ Thái về số lượng, kèm theo đó là
những biến thể trong thành ngữ. Ví dụ: chúng ta nói "dày gió dạn sương",
nhưng cũng có thể nói "gió sương dày dạn "; chúng ta nói "dễ như trở bàn
tay", nhưng cũng có thể nói "dễ như lật bàn tay". Trật tự của các từ trong
nhóm có thể thay đổi, thậm chí từ cũng có thể thay thế, miễn là nói lên được
nguyên ý.
Ví dụ: Thành ngữ được dùng để chê kẻ hết sức ngu dốt:
- Dốt đặc cán mai
Có thể nói thành ngữ có hình thức cấu tạo là một câu (thậm chí là câu
ghép) thì nó cũng mang tính tương đương như từ về chức năng cấu tạo câu( có
thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ hoặc có thể kết hợp với từ để tạo thành
câu).Tuy nhiên trong sử dụng thành ngữ cũng có thể biến đổi, tuỳ vào văn
cảnh cụ thể.
Trong thời gian gần đây đã có luận văn thạc sĩ của Trần Anh Tư là:" TN
đồng nghĩa và TN trái nghĩa trong Tiếng Việt"(2001)[32,12].
Luận án này xem xét về đặc điểm cấu tạo,nguồn gốc từ loại cũng như
những biến thể sử dụng và các giá trị khác nhau của TN tiếng Việt. Đồng thời
luận án này cũng chỉ ra được các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa khái
quát và vai trò của TN đồng nghĩa, trái nghĩa.
Đây là công trình đã có nhiều tính sáng tạo, công phu nhưng nó chỉ đi
sâu vào thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong tiếng Việt chứ
không đi sâu nghiên cứu thành ngữ so sánh.
Thành ngữ so sánh nói chung, cấu trúc- ngữ nghĩa nói riêng đã có nhiều
nhà ngôn ngữ quan tâm.Ví dụ như nhà nghiên cứu Trương Đông San(1994),
Nguyễn Thuý Khanh(1995), Nguyễn Thiện Giáp(1996) và Hoàng Văn Hành...
Tác giả Trương Đông San trong "Thành ngữ so sánh tiếng Việt" đã
phân tích cấu trúc- ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh và phân ra ba loại: loại có
một nghĩa đen, loại có hai nghĩa ( đen và bóng), loại có một nghĩa: nghĩa hình
tượng [31,11]. Bài nghiên cứu cuả tác giả Trương Đông San đã mở đầu cho
hướng nghiên cứu về cấu trúc- ngữ nghĩa thành ngữ so sánh tiếng Việt
Tác giả Nguyễn Thuý Khanh đã có một vài nhận xét về thành ngữ so
sánh có tên gọi động vật. Bài viết có đề cập đến cấu trúc, thành phần cơ cấu
nghĩa, rút ra những kết luận khái quát về đối tượng này. Đây là bài viết có giá
trị về vấn đề thành ngữ so sánh.
Đặc biệt, có tác giả Bùi Thị Thi Thơ trong luận văn tốt nghiệp đai học
và luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu khá sâu về thành ngữ so sánh :"Hình ảnh
tương quan ảnh hưởng của thời tiết với đất đai, cây trồng để rút ra những kinh
nghiệm. Ngoài ra, họ còn đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi
trồng, tạo nên kho tàng kinh nghiệm quý báu cho con cháu. Ví dụ: tục ngữ
người Thái có câu:
- Trăng đội nón sắt thì lụt, trăng đội nón đồng thì mưa
- Trời sắp nắng sao tỏ, trời sắp mưa sao mờ
- Sấm trước trời không mưa
- Đào nương không sợ uổng công, đắp phai chớ sợ phí sức
- Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi, làm giàu cho chủ
Người Việt cũng có câu tương tự:
- Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa
- Mấy đời sấm trước có mưa
- Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
- Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi, nhanh như chớp (dân tộc Việt)
Song thời vụ gieo trồng khác nhau giữa hai dân tộc làm cho việc tính
toán về thời vụ. mùa màng cũng khác:
- Mồng chín tháng chín không mưa
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn
- Mồng hai tháng hai không mưa
Cha con sắm sửa sọt sưa đi Lào
Mồng hai tháng hai có mưa
Cha con sắm sửa cày bừa làm ăn
- Điều kiện con người, gia đình, xã hội
Dân tộc Thái nổi tiếng là dân tộc có bản sắc văn hóa đặc sắc. Lối sống,
nhân cách của người Thái cũng rất đáng để các dân tộc khác học tập. Chính
điều này đã tạo cơ sở cho những câu tục ngữ, thành ngữ đậm chất nhân văn
trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc này. Hình ảnh con người Thái
được phản ánh trong tục ngữ, thành ngữ Thái là con người chăm chỉ trong lao
trọng nhất. Do vậy, con cái thường đề cao sự hiếu thuận với cha mẹ. Họ biết
ơn cha mẹ đã sinh ra mình, nuôi dưỡng mình lúc trẻ: "Có cha mới có con, có
khung mới có cửi" (dân tộc Thái). Họ cũng đều quý trọng và chăm lo giáo dục
con cái từ tuổi bé thơ: "Dạy con từ thuở còn thơ" (dân tộc Việt, Thái, Tày).
Tình mẫu tử với đức hi sinh của người mẹ được thể hiện trong tục ngữ các dân
tộc: "Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo phần con" (dân tộc Việt); "Chỗ ướt mẹ thế
vào, chỗ khô để phần con" (dân tộc Thái). Tình cảm anh chị em ruột thịt cũng
là một giá trị đạo đức được quan tâm: "Anh em như chân với tay", "Anh em
bát máu xẻ đôi" (dân tộc Việt), "Máu chảy ruột trơn" (dân tộc Thái). Về quan
hệ vợ chồng, người Thái tuy vẫn tồn tại quan điểm phong kiến trọng nam
khinh nữ song về cơ bản mối quan hệ vợ chồng có phần bình đẳng hơn người
Việt: "Vợ chồng yêu nhau chém núi đèo cũng lở/Vợ chồng không yêu nhau
chém dây leo không đứt" (dân tộc Thái)...Họ đề cao trách nhiệm của người
chồng, đây là người chủ gia đình phải lo cho vợ con, không để tình trạng "Mất
vợ đợ con" (dân tộc Thái) xảy ra, hoặc tình trạng mẹ chồng nàng dâu: "Than
hồng với nước lã, mẹ chồng với nàng dâu" (dân tộc Thái)...
Về quan hệ xã hội, tổ chức xã hội theo truyền thống của người Thái là
bản, mường. Bản của người Thái nhỏ nhất vài ba nóc nhà, lớn thì hàng chục,
hàng trăm nhà. Trong cộng đồng ấy, con người được gắn kết với nhau bằng
tình cảm và những luật tục, nghi lễ. Lễ hội “xên bản, xên mường” của người
Thái kết tinh cao giá trị văn hóa, lịch sử và nhân văn. Do vậy, tục ngữ Thái
khuyên răn con người ta sống phải biết yêu quý bản mường của mình, gắn kết
với nơi ăn, trốn ở nơi mình sinh sống. Đây là điểm chung giữa hai dân tộc. Cả
người Thái và người Việt đều có lòng yêu nước, bảo vệ xây dựng tổ quốc
"Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" (dân tộc Việt), "Giặc đến bản, cùng nhau
đánh" (dân tộc Thái)..., tục ngữ người Việt cũng như các dân tộc thiểu số nói
nhiều đến tinh thần cộng đồng dân tộc, đoàn kết thương yêu được đúc rút từ
thực tiễn chinh phục thiên nhiên và đấu tranh chống xâm lược trong quá trình
hiện nguồn gốc văn hóa của mỗi dân tộc ấy. Ở đây, chúng tôi phân tích văn
hóa trong tục ngữ, thành ngữ qua 4 thành tố văn hóa theo Trần Ngọc Thêm
[20]:
a. Văn hóa nhận thức
Qua việc lựa chọn hình ảnh đưa vào trong tục ngữ, thành ngữ, ta thấy tư
duy, nhận thức của con người. Ví dụ: Người Việt giữ trong mình triết lý âm
dương từ trong máu thịt nên có những câu: trong rủi có may, trong họa có
phúc, trèo cao ngã đau, nhân nào quả ấy, bãi bể nương dâu…Lối sống trọng
tình và coi trọng kinh nghiệm sự khéo léo qua những thành ngữ chỉ văn hóa
nhận thức tư duy của mình cũng làm dân tộc ta có những câu nói về sự kính
trọng người già lão: sống lâu lên lão làng, kính lão đắc thọ…. Đó còn là sự
nhận thức về một Việt Nam vừa giàu có vừa khó khăn, ví dụ: rừng vàng biển
bạc, non sông gấm vóc, chó ăn đá gà ăn sỏi, đồng chua nước mặn… Tuy
thuộc hai nền văn hóa khác nhau, nhưng người Thái với người kinh lại gần
nhau trong quan niệm về thế giới. Cả người Thái và người Kinh đều nhìn thế
giới với con mắt “ vạn vật hữu linh”. Tục ngữ Thái có câu :
- Một cái cây to bằng cái đũa cũng có thần
Một miếng đất bằng cái quạt cũng có chủ
Cũng giống như câu tục ngữ của người kinh :
- Đất có thổ công, sông có hà bá
Nhìn sự thay đổi của tạo hóa theo quy luật, người Thái cũng có những câu thật
triết lý :
- Hoa tàn hoa về cây
Hoa úa hoa về cành
Cũng như người Kinh quan niệm :
- Lá rụng về cội
b. Văn hóa tổ chức cộng đồng
Qua tục ngữ, thành ngữ, ta thấy được việc tổ chức cộng đồng của mỗi
hay "Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông" (thời điểm đi đánh tôm, cá)...
nhưng loại tục ngữ này vắng mặt trong các dân tộc thiểu số.
d. Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
Tục ngữ, thành ngữ còn thể hiện văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Ở các dân tộc khác nhau cơ bản, cách ứng xử với môi trường xã hội cũng khác
nhau, Việt Nam tế nhị, hiếu hòa, linh hoạt trong xưng hô, giao tiếp (ví dụ:
xưng khiêm hô tôn, học ăn học nói học gói học mở,…); Nó còn thể hiện cái
nhìn về cộng đồng, về cá nhân và vai trò của chúng trong việc định hình tính
cách cư dân.Thành ngữ Việt đậm đặc sự cộng cảm mang tính tập thể, gắn bó
keo sơn trong làng xã, tinh thần đoàn kết trong quốc gia (tương trợ, giúp đỡ
lẫn nhau ví dụ: tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách…). Tinh thần đoàn
kết cộng đồng, muôn người như một, tạo thành sức mạnh được người Thái ví
von bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi:
- Vỗ tay cần nhiều ngón
Bàn bạc cần nhiều người
- Chuối đến lúc trĩu buồng phải có cây chạc chống
Lúc đó cây chống chuối
Chuối dựa cây
Mình trông cậy người
Người nhờ mình, tốt quá
hoặc:
- Khỏe một mình làm không được
Khôn một mình làm không xong
Tương tự như vậy, tục ngữ người Kinh có những câu:
- Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
- Ngựa chạy có bày, chim bay có bạn
- Nhiễu điều phủ lấy giá gương
của ông cha ta từ xưa. Nếu nói dân tộc Việt Nam đã có 4000 năm lịch sử, thời
tục ngữ, thành ngữ Việt Nam cũng đã có 4000 năm tuổi. Tới nay, dù ngôn ngữ
hiện tại có thay đổi song bằng các thành ngữ tục ngữ cổ, ta biết được tiếng nói
cổ của cha ông, từ đó hiểu về văn hóa, cách nhìn nhận mọi vật của tổ tiên. Nó
là giá trị văn hóa tinh thần vô cùng quan trọng, đi song hành với những cổ vật
quý mà chúng ta còn lưu giữ được. Chính vì điều này nên thành ngữ, tục ngữ
được gọi là hóa thạch sống của ngôn ngữ. Có thể lấy ví dụ: trong thành ngữ
Việt có cụm từ “Ăn trên ngồi trốc”. Từ “trốc” là từ cổ, được dùng với nghĩa là
đầu. Hay thành ngữ “Con dại cái mang”, “cái” ở đây chỉ mẹ, đây cũng là từ
cổ. Nhờ hai câu tục ngữ này, ta đã lưu giữ lại được hai từ cổ. Từ đó ta hiểu về
ý thức mẫu hệ của người Việt cổ (ví dụ: qua từ “cái”, ta thấy mẹ được nhắc
tới với ý thức về cái to lớn, vĩ đại, quan trọng)
Ngoài ra, lớp trầm tích này có thể mở rộng hơn với việc sử dụng ngôn
ngữ để phản ánh xã hội. Nhờ thành ngữ, tục ngữ cổ, ta hiểu về văn hóa cổ xưa
của ông cha ta. Đây là nhóm từ vựng phản ánh rõ nét nhất đặc điểm văn hoá
và những nét đặc sắc trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc, phản ảnh mọi mặt cuộc
sống của người dân Việt Nam, qua quá trình lịch sử. Đó là một bức tranh sinh
động, phong phú, đầy mầu sắc Việt Nam. Đồng thời đúc kết những kiến thức,
kinh nghiệm, phản ánh nhiều lĩnh vực đa dạng của đời sống xã hội, tư duy,
quan niệm và phong tục tập quán của mỗi dân tộc. Nó thể hiện được một cách
sâu sắc rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân Việt Nam từ thượng
cổ cho đến sau này. Tục ngữ, thành ngữ đã diễn đạt được rất hoàn hảo toàn bộ
kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động.
1- Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con người.
2- Phản ảnh công cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, chống áp bức bóc
lột và xâm lược.
3- Những kinh nghiệm trong sản xuất, chăn nuôi, gieo trồng mùa vụ.
4- Những kinh nghiệm trong sinh hoạt thường ngày.