Đặc điểm hoàn lưu và mưa khu vực Việt Nam trong thời kỳ front Mei-Yu điển hình - Pdf 10


LUẬN VĂN THẠC SỸ

Đặc điểm hoàn lưu và mưa
khu vực Việt Nam trong thời
kỳ front Mei-Yu điển hình
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Minh Trường, là
người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy cô và các cán bộ trong khoa Khí tượng - Thủy văn -
Hải dương học đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn quý giá, giúp đỡ và
tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất trong suốt thời gian tôi học tập và thực hành ở
Khoa.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của
HVCH Bùi Minh Tuân, tôi xin chân thành cảm ơn.
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã
tạo điều kiện cho tôi có thời gian hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo trung tâm Dự báo Khí
tượng thủy văn Trung ương, các cô, chú, anh, chị phòng Dự báo Khí tượng Hạn vừa và
Hạn dài đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn bè,
những người đã luôn ở bên cạnh cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.

Lê Thị Thu Hà

3.1.3. Mưa Meiyu 45
3.1.4. Vai trò của dòng xiết trên cao 48
3.2. Trường hợp 2: Năm 2005 52
3.2.1. Đặc điểm hoàn lưu thời kỳ front Meiyu 52
3.2.2. Vận chuyển ẩm 54
3.2.3. Mưa Meiyu 55
3.2.4. Vai trò của dòng xiết trên cao 59
3.3. Trường hợp 3: Năm 2006 62
3.3.1. Đặc điểm hoàn lưu thời kỳ front Meiyu 63
3.3.2. Vận chuyển ẩm 65
3.3.3. Mưa Meiyu 66
3.3.4. Vai trò của dòng xiết trên cao 69
3.4. Trường hợp 4: Năm 2007 73
3.4.1. Đặc điểm hoàn lưu thời kỳ front Meiyu 73
3.4.2. Vận chuyển ẩm 75
3.4.3. Mưa Meiyu 76
3.4.4. Vai trò của dòng xiết trên cao 79
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

3

MỞ ĐẦU
Mưa, đặc biệt mưa lớn diện rộng trên địa hình phức tạp, là một vấn đề hết sức quan
trọng, cấp thiết và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Mưa nhiều có thể dẫn
đến các hiện tượng lũ lụt, sạt lở đất làm thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp và
các hoạt động kinh tế xã hội. Trong dự báo Synốp, mưa lớn mùa hè tại khu vực Bắc
Bộ của Việt Nam có liên quan tới một vài dạng hình thế thời tiết cơ bản, một trong
những kiểu hình thế thời tiết đó là front Mei-yu. Front Mei-yu là front tựa tĩnh cận
nhiệt đới đã được rất nhiều các nhà khoa học Trung Quốc và Nhật Bản nghiên cứu

Bố cục luận văn gồm các phần:
Chương 1: Tổng quan về front Meiyu
Chương 2: Cấu hình mô phỏng số và nguồn số liệu
Chương 3: Một số kết quả mô phỏng bằng mô hình RAMS.
Kết luận.

5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ FRONT MEIYU
1.1. Khái niệm về front Meiyu
Front Baiu/Meiyu (BMF) là một trong những front tĩnh cận nhiệt đới đáng chú ý
nhất trên thế giới và đóng góp một lượng lớn giáng thủy qua vùng Đông Á, kéo dài

- Tương đương với đường đứt gió tại mực 850 hPa.
Theo thống kê dải mưa Meiyu thì phần lớn dải mưa này phát triển tới phía nam
của sông Trường Giang trong suốt thời kỳ từ 11 tháng Năm đến 24 tháng Sáu, như vậy
thời kỳ này được chọn là mùa Meiyu (Hình 1). Meiyu được chia làm 4 giai đoạn bao
gồm:
- “Meiyu”: thời kỳ tồn tại dải mưa Meiyu.
- “Break”: những ngày gián đoạn giải mưa Meiyu.
- “Pre- Meiyu”: từ 10/04 đến 10/05, thời kỳ trước mùa Meiyu.
- “Post- Meiyu”: từ 25/06 đến 15/07, thời kỳ sau mùa Meiyu.
Theo đó Việt Nam có thể bị ảnh hưởng trực tiếp của front Meiyu, nhưng đáng
tiếc ở Việt Nam hiện tượng này hầu như chưa được nghiên cứu.

Hình 1: Phân bố của dải mưa Meiyu trong thời kỳ từ 1998 – 2007: (a) Số lần xuất hiện
dải mưa Meiyu trong các thời kỳ tháng Năm và Sáu, (b) Tần suất xuất hiện dải mưa
Meiyu trung bình hàng năm thời kỳ từ 11 tháng Năm đến 24 tháng Sáu (Xu 2009).
Cũng theo nghiên cứu của Sampe và Xie (2010) trong 26 năm từ 1979 đến 2004
thì mùa Baiu ở Nhật Bản kéo dài từ 16 tháng Sáu đến 15 tháng Bảy. Như vậy, vĩ độ
càng cao thì thời gian kéo dài mùa Meiyu có xu hướng càng giảm.
1.3. Mối liên hệ giữa Meiyu và Baiu
Theo một số nghiên cứu thì mối quan hệ giữa Meiyu qua khu vực Trung Quốc
và Baiu qua Nhật Bản được giải thích thông qua mô hình tà áp tuyến tính (Sampe và
Xie (2010)). Sự tương phản đất biển qui mô hành tinh và dòng nhiệt từ cao nguyên
7

Tibet tạo nên hướng gió nam qua phía đông Trung Quốc và phía nam của Nhật Bản và
đẩy hệ thống giáng thủy theo hướng bắc (Xie và Saiki 1999). Để nghiên cứu ảnh
hưởng đối lưu Meiyu, các tác giả đã chọn nguồn nhiệt hình oval với trung tâm 29
o
N và
115

thành front BMF. Theo Kurashuma (1968) và Kurashuma và Hiranuma (1971) thì cơ
chế hình thành lưỡi ẩm để hình thành nên front Baiu có quan hệ với dải hội tụ nhiệt đới
(ITCZ) qua lục địa Châu Á và Thái Bình Dương. Mối quan hệ giữa gió mùa Ấn Độ và
front BMF cũng đã được nghiên cứu (Suda và Asakura (1955)). Các tác giả cho rằng
mùa Meiyu/Baiu xuất hiện cùng lúc với sự bắt đầu của gió mùa Ấn Độ. Theo
Murakam (1959) phần lớn lượng hơi nước cung cấp cho front Baiu trong thời kỳ đầu
tháng Sáu là của gió mùa Ấn Độ, tuy nhiên vào cuối tháng Sáu thì bởi dòng gió đông
từ phía tây Thái Bình Dương.
Nhiều nhà khí tượng cho rằng front BMF liên quan đến rãnh gió mùa, dòng xiết
mực thấp (LLJ), dòng xiết trên cao, áp cao cận nhiệt đới và các đặc điểm khác của hệ
thống qui mô lớn (Akiyama 1973, 1974; Asakura 1971; Flohn và Oekel 1956; Saito
1966; Tao và Chen 1987; Yoshino 1971). Hình 2 mô tả hệ thống hoàn lưu qui mô hành
tinh của front BMF. Theo Ninomiya và Akiyama (1992) vào thời kỳ đầu tháng Sáu,
front BMF nằm dọc LLJ, nơi hội tụ giữa gió tây nam của áp cao cận nhiệt và gió tây
bắc từ rìa phía tây của rãnh Baiu. Gradient kinh hướng của hơi nước và nhiệt độ là lớn
ở phần phía đông của front BMF tới phía đông của Nhật Bản, ngược lại gradient nhiệt
độ nhỏ ở phần phía tây của front này. Dòng xiết mực cao song song với dòng xiết mực
thấp ở phía đông của Nhật Bản. Matsumoto (1973) và Ninomiya và Akiyama (1974)
cho rằng LLJ được hình thành bởi sự vận chuyển xuống của moment động lượng
ngang từ đối lưu Cumulus trong front BMF. Tuy nhiên, Chen (1982) thì cho là LLJ
9

được tạo ra bởi sự điều chỉnh gió nhiệt và nó được tăng cường bởi sự duy trì của đối
lưu sâu.
Ninomiya (1984) cho rằng vùng front BMF có nhiều đặc điểm của front cận
nhiệt hơn là front cực. Front BMF có các đặc điểm điển hình của front cận nhiệt đới thể
hiện như sau:
1. Vùng giáng thủy hẹp.
2. Gradient nhiệt độ thế tương đương kinh hướng lớn.
3. Độ ẩm dày ở tầng gần phiếm định.

E) vào giữa
tháng Sáu.
Ose (1998) cho thấy hoàn lưu khí quyển trong mùa Baiu bị ảnh hưởng mạnh bởi
trường trung bình vĩ hướng trong tháng Ba hơn là nguồn nhiệt của vùng nhiệt đới. Mối
quan hệ giữa gió mùa mùa hè Châu Á và nguồn nhiệt ở vùng nhiệt đới cũng được
nghiên cứu nhiều bằng việc sử dụng các lý thuyết tuyến tính, phân tích số liệu quan
trắc và các mô hình số. Hoskins và Rodwell (1995) sử dụng mô hình hoàn lưu chung
khí quyển (GCM) với nguồn nhiệt trung bình trong ba tháng Sáu-Bảy-Tám và trường
10

gió trung bình vĩ hướng làm điều kiện ban đầu, mô phỏng này đã tái tạo các đặc điểm
điển hình của hoàn lưu gió mùa.
Front BMF bị ảnh hưởng mạnh bởi những dao động nội mùa của hoàn lưu gió
mùa. Những phân tích số liệu quan trắc của Yasunari (1979) cho thấy hoạt động của
dải hội tụ nhiệt đới có quan hệ gần với dao động nội mùa của hoàn lưu gió mùa. Nitta
(1987) cũng chỉ ra là sóng Rossby sinh ra bởi nguồn nhiệt vùng nhiệt đới có có liên
quan đến dao động nội mùa và dị thường khí áp từ Đông Á tới tây bắc Thái Bình
Dương trong suốt mùa hè có nhiệt độ bề mặt biển (SST) ấm là kết quả của quá trình lan
truyền sóng Rossby. Theo Ose (1998), nguồn nhiệt đối lưu được phân bố từ vùng biển
Ấn Độ tới vùng tây bắc Thái Bình Dương sẽ dẫn đến phát sinh những vòng hoàn lưu
quanh front Baiu. Kodama (1999) cũng cho thấy front Baiu có liên quan đến nguồn
nhiệt của vùng nhiệt đới bắc bán cầu.
Zhang và các đồng tác giả (2002) cho rằng có bốn hệ thống thời tiết ảnh hưởng
đến front Meiyu đó là: Áp cao cận nhiệt đới tây Thái Bình Dương, gió mùa tây nam,
khối khí lạnh từ phía Bắc và áp thấp Nam Á. Vì thế, cấu trúc ngang của front Meiyu
không chỉ là vùng có gradient
e

lớn, các đường đứt gió giữa dòng gió mùa Tây Nam
và dòng gió Đông ở tầng đối lưu thấp mà còn có các hệ thống hoàn lưu quy mô lớn liên

động quy mô cận synop. Sau đó, một vài cụm mây quy mô vừa α hình thành dọc theo
phần đuôi của hệ thống mây quy mô cận synop. Như vậy, một hệ thống mây qui mô
cận synop có độ dài cỡ 2000 km và một vài hệ thống mây qui mô vừa α được hình
thành dọc front BMF.

Hình 4: Mô hình khái niệm về đới mây front BMF (Ninomiya và Shibagaki 2007).

12

1.5. Các nhân tố tác động đến front Meiyu – Baiu
1.5.1. Vai trò của địa hình
Địa hình là nguyên nhân của những hoàn lưu địa phương và từ đó đóng một vai
trò quan trọng trong việc hình thành những kiểu khí hậu khu vực cụ thể. Front Meiyu
tồn tại chủ yếu là dọc theo thung lũng sông Trường Giang (Changjiang hay Yangtze),
kéo dài từ rìa phía đông cao nguyên Tibet cho đến phía tây quần đảo Nhật Bản. Vào
các tháng đầu hè, front Meiyu hình thành và hoạt động xuống tận vĩ độ 20°N, có cấu
trúc như một front cực do khối khí lạnh phía bắc còn mạnh, có khả năng thâm nhập sâu
về phía nam. Vào tháng Sáu và Bảy, khi dòng gió mùa tây nam khống chế thời tiết ở
khu vực Đông Á, front được hình thành phía bắc thung lũng sông Trường Giang, nơi
có địa hình tương đối thấp hơn so với phía nam dòng sông này.
Nhiều nhà khí tượng nghiên cứu ảnh hưởng của cao nguyên Tibet tới gió mùa
mùa hè Châu Á. Yanai (1992) cho rằng hoàn lưu gió mùa bị ảnh hưởng mạnh bởi các
thông lượng hiển nhiệt và ẩn nhiệt của cao nguyên này. Nakamura và Hasegawa (1986)
sử dụng mô hình phổ của Nhật Bản và cho thấy ảnh hưởng quan trọng của cao nguyên
Tibet là nó làm ngăn chặn sự xáo trộn của khối khí nóng ẩm phía nam và khối khí lạnh
ở phía bắc của Trung Quốc, để ngăn chặn sự phát triển của bất ổn định tà áp, kết quả là
front BMF hầu như không di chuyển.
Một điểm thú vị khác của front Meiyu là sự khác nhau về vị trí cũng như hệ quả
gây mưa khi đi qua đảo Đài Loan. Với địa hình phức tạp của Đài Loan, các hệ thống
núi thường tương tác với hệ thống front gây ra mưa địa hình rất lớn (Kuo và Chen

Trong cân bằng nhiệt động học thì mối quan hệ này được giải thích như sau:
theo dòng dẫn gió tây, khối không khí nóng từ sườn phía đông của cao nguyên Tibet
tăng từ từ trên bề mặt đẳng entropy. Bình lưu nóng tại sườn phía đông của cao nguyên
Tibet sẽ kích thích đối lưu qua phần đông nam Trung Quốc phát triển dọc dòng xiết
gió tây. Bên cạnh đó, theo các kết quả của mô hình tà áp tuyến tính thì đối lưu Meiyu
làm tăng bình lưu nóng và thúc đẩy đối lưu trong dải mưa Baiu qua phía đông của Nhật
Bản (Hình 11, Hình 12).

Hình 11: (a)-(d): mô hình tà áp tuyến tính với tâm nguồn nhiệt đặt tại 29
o
N và 115
o
E.
(a): áp suất bề mặt và gió tại mực 900 hPa; (b): tốc độ dòng thăng mực 500 hPa; (c):
bình lưu nhiệt theo phương ngang mực 500 hPa; (d): gió và nhiệt độ tại mực 500 hPa
với trường nền tháng Sáu; (e), (f) tương tự như (a), (b) nhưng với tâm nguồn nhiệt đặt
tại 30
o
N và 131
o
E (Sampe và Xie 2010).
15

Ở vùng cận nhiệt đới, tổng của bình lưu nhiệt theo phương ngang và quá trình
trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh gần bằng với bình lưu nhiệt thẳng đứng
(Rodwell và Hoskins 1996). Bình lưu nóng sẽ tạo điều kiện cho chuyển động thăng và
quá trình đối lưu phát triển, bên cạnh đó dòng thăng cũng được tăng cường bởi nguồn
nhiệt do quá trình ngưng tụ. Sự tăng cường trao đổi nhiệt của chuyển động thăng dọc
dải mưa BMF từ Trung Quốc đến phía đông của Nhật Bản sẽ tạo điều kiện cho bất ổn
định đối lưu trong tầng đối dưới. Chuyển động thăng của dải BMF qua Trung Quốc và

ra mưa lớn trong suốt mùa Meiyu. Một là xoáy tây nam, nó được tạo ra ở sườn khuất
gió của cao nguyên Tibet và có xu hướng không di chuyển nếu không có dòng xiết trên
cao dẫn đường ra khỏi vùng Tứ Xuyên. Sau khi được dẫn ra khỏi vùng, xoáy tây nam
di chuyển hướng đông dọc theo đường đứt trong hầu hết các trường hợp và di chuyển
hướng đông bắc hoặc đông nam trong một số trường hợp (Hình 13). Một loại xoáy
thấp khác là xoáy thuận quy mô trung gian hình thành dọc theo front Meiyu với quy
mô ngang 1000 – 3000 km (Ninomiya và Murakami 1987). Từ quan điểm synop,
nguồn gốc và sự phát triển của xoáy tây nam cần đáp ứng hai yêu cầu: (1) sự tồn tại
của dòng không khí từ phía nam mạnh thổi qua sườn phía đông của cao nguyên Tibet
đến lưu vực Tứ Xuyên. Gió từ phía nam vận chuyển không khí nóng ẩm tới sườn phía
đông của cao nguyên và lưu vực Tứ Xuyên cung cấp nguồn nhiệt lớn cho giáng thủy và
giải phóng ẩn nhiệt. (2) cần một cơ chế kích hoạt cần thiết. Hầu hết rãnh áp thấp đi qua
cao nguyên có thể đóng vai trò kích hoạt xoáy tây nam. Từ quan điểm vùng, địa hình
của cao nguyên Tibet có vai trò cực kì quan trọng. Cũng theo nghiên cứu của Yasunari
17

và Miwa (2006) thì sự xuất hiện của xoáy thuận rìa cao nguyên Tibet cũng giống như
sự tương tác giữa các sóng hướng tây vĩ độ trung bình với qui mô thời gian khoảng hai
tuần một lần qua cao nguyên Tibet và dao động chu kỳ ngắn hơn của rãnh gió mùa qua
lục địa Ấn Độ với chu kỳ 4 đến 7 ngày. Các xoáy này gây ra dòng xiết mực thấp cùng
với luồng ẩm cuốn vào phía đông của nó, điều này sẽ kích thích sự phát triển của hệ
thống mây qui mô vừa α gắn với front Meiyu qua Trung Quốc.
Hình 13: Trường độ cao địa thế vị và vector
gió (đơn vị: m/s) hàng ngày thể hiện những
nhiễu động tại mực 850 hPa trong suốt giai
đoạn Meiyu từ ngày 29/06-01/07/1999. C3
chỉ xoáy tây nam gây ra mưa lớn trên lưu

khoảng 18 ngày trong 1 năm có dải mưa Meiyu ở nam Trung Quốc và Đài Loan. Trong
suốt thời kỳ mùa Meiyu, luợng mưa cực đại đo được là 500 mm ở vùng châu thổ sông
Pearl và chân cao nguyên Vân Quý. Hai điểm mưa cực đại khác cũng xảy ra tại núi
Wuyi và qua vùng tây nam của Đài Loan. Mưa trong dải mưa Meiyu chiếm khoảng
70% tổng lượng mưa trong mùa Meiyu với lượng mưa tập trung chính ở dải mưa hẹp,
khoảng 75% lượng giáng thủy rơi xuống ở dải có độ rộng 4
o
(Hình 15). Theo đó rõ
ràng là mưa diện rộng, thậm chí mưa lớn, có thể xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc
biệt dông với lượng mưa lớn phần lớn được tạo và phát triển dọc đường hội tụ gần
front mực thấp nơi có lực tác động mạnh và độ ẩm dồi dào. Trong suốt quá trình di
chuyển của front Meiyu, dòng khí theo hướng tây nam nóng ẩm hoặc dòng xiết mực
thấp tác động đến các dãy núi phía nam Trung Quốc và trung tâm Đài Loan cung cấp
dòng thăng và độ ẩm dồi dào cho hệ thống đối lưu mới hoặc tăng cường giáng thủy.
19

Các cơ chế khác nhau của mưa lớn địa hình núi được giải thích bởi Li và Chen (1998),
đó là do địa hình chắn gió của vùng tây bắc Đài Loan và dòng thăng tạo ra do sự chặn
của các dãy núi hướng tây nam (Chen và đồng tác giả 2005). Ngoài ra sự hội tụ địa
phương còn do sự tương tác giữa gió thịnh hành và gió từ biển thổi vào đất liền trong
sáng sớm qua vùng tây nam Đài Loan (Chen và các đồng tác giả 2005). Các dãy núi
thấp từ 400 đến 1000 m cũng đóng vai trò làm tăng cường giáng thủy ở cao nguyên
Vân Quý và các núi cao trên 2000 m ở Đài Loan.
Thời kỳ gián đoạn Meiyu chiếm hơn một nửa số ngày nhưng chỉ chiếm khoảng
30% lượng mưa mùa. Trong suốt thời kỳ gián đoạn, lượng mưa cực đại xảy ra ở chân
cao nguyên Vân Quý, lòng chảo Sichuan và lưu vực sông Trường Giang. Cũng trong
thời kỳ gián đoạn, trung tâm mưa cực đại qua Đài Loan trong mùa Meiyu cũng không
xuất hiện. Trung tâm mưa tới phía tây của CanTon (Quảng Châu) theo hướng tây bắc –
đông nam song song với dòng gió thịnh hành đông nam trong mùa gián đoạn. Dòng gió
tây nam hoặc đông nam yếu trong thời kỳ gián đoạn cũng có thể là nguyên nhân không

thể tham khảo rất tốt cho công tác dự báo. 21

CHƯƠNG II. CẤU HÌNH MÔ PHỎNG SỐ VÀ NGUỒN SỐ LIỆU
2.1. Giới thiệu về mô hình RAMS
Mô hình RAMS ((Regional Atmospheric Modeling System) được trường Đại
học bang Colorado (CSU) kết hợp với ASTER divsion- thuộc Mission Research
Corporation phát triển đa mục đích. Đây là một mô hình dự báo số mô phỏng hoàn lưu
khí quyển với qui mô từ mô phỏng hay dự báo toàn cầu cho đến các mô phỏng xoáy
lớn của lớp biên khí quyển hành tinh. Mô hình thường được sử dụng nhiều nhất để mô
phỏng các hiện tượng khí quyển qui mô vừa (2-2000 km) với các mục đích khác nhau,
từ dự báo thời tiết nghiệp vụ đến các ứng dụng để mô phỏng, quản lý chất lượng môi
trường không khí. RAMS cũng thường được sử dụng thành công với các độ phân giải
cao hơn mô phỏng các xoáy trong lớp biên khí quyển (10-100 m phân giải lưới ngang),
mô phỏng dòng chảy xung quanh các toà nhà cao tầng (1 m phân giải lưới ngang) cho
đến các mô phỏng số trực tiếp cho buồng khí động (1 cm phân giải lưới ngang).

báo toàn cầu. Điều này phụ thuộc mục đích của người sử dụng và năng lực máy tính.
RAMS cho phép nhiều lưới lồng nhau do đó mô tả được ảnh hưởng của các quá
trình qui mô nhỏ mang tính địa phương cần mô phỏng. Tương tác giữa các lưới là
tương tác hai chiều, nội suy từ lưới thô về biên lưới tinh sử dụng hàm nội suy bậc hai.
Kỹ thuật lưới lồng là một kỹ thuật mới không chỉ đối với các bài toán khí tượng mà với
cả các bài toán cơ học chất lỏng nói chung. Tuy nhiên càng áp dụng nhiều lưới lồng thì
càng cần máy tính mạnh, với các nước phát triển thường sử dụng siêu máy tính.
Điều kiện biên của mô hình được cập nhật theo thời gian với bước thời gian cập
nhật tuỳ ý lấy từ kết quả phân tích toàn cầu cho phép mô tả ảnh hưởng của quá trình
quy mô lớn đến miền dự báo hạn chế. Hàm nội suy điều kiện biên theo thời gian là
hàm bậc hai sử dụng hai trường phân tích, dự báo toàn cầu liên tiếp, trong các tình
huống thực tế các trường thường cách nhau 3 hoặc 6h.
Bước tích phân theo thời gian có nhiều phương án lựa chọn khác nhau do vậy có
thể chọn được một bước thời gian thỏa hiệp giữa yêu cầu về độ ổn định tính toán của
mô hình và yêu cầu thời gian tích phân của một bài toán thời gian thực. Bước tích phân
cũng có thể tự động xác định bảo đảm sự ổn định tuyệt đối khi chạy mô hình.
Số liệu của các trạm cao không cũng như các trạm thời tiết mặt đất trong miền
tích phân có thể được sử dụng trong quá trình ban đầu hóa. Đây là một đặc điểm rất ưu
việt của mô hình nhằm nâng cao độ chính xác của kết quả dự báo, đặc biệt là khi miền
tính có mặt trải dưới phức tạp, độ cao địa hình thay đổi nhanh và tại thời điểm ban đầu
khí quyển tồn tại các nhiễu động mạnh
23

Phần hiển thị đồ hoạ có thể sử dụng các phần mềm khác nhau được phát triển
trong thời gian gần đây như NCAR, GRADS, DRIB và VIS5D cho phép tạo ra các
hình vẽ sinh động dễ hiểu, dễ phân tích.
Các đặc trưng trên đã làm cho RAMS có khả năng dự báo với độ chính xác hứa
hẹn đồng thời vẫn bảo đảm khả năng ứng dụng mềm dẻo của mô hình. Để biết thêm
chi tiết, có thể tham khảo tại Website http://www.atmet.com.
2.2. Cấu hình miền tính

biên trong quá trình tích phân được cập nhật 6 giờ một lần cũng sử dụng các trường tái
phân tích này. Nhiệt độ mặt nước biển sử dụng cho ban đầu hóa mô hình là nhiệt độ
mặt nước biển trung bình tuần với độ phân giải 1
o
x 1
o
, được lấy từ Website:
ftp://ftp.emc.ncep.noaa.gov/cmb/sst/oisst_v2/. Ô lưới đầu tiên có trung tâm 0.5
o
E -
89.5
o
S, các điểm trung tâm di chuyển về phía đông tới 359,5
o
E, sau đó di chuyển về
phía bắc tới 89,5
o
N.
2.4. Trường tái phân tích của một số trường hợp mô phỏng front Meiyu
2.4.1. Trường hợp 1: Năm 2003
Hình 2.4.1 đưa ra bản đồ phân tích trường nhiệt độ và độ ẩm (bên trái) và vecto
gió và độ cao địa thế vị (bên phải) mực 700 hPa lúc 12 UTC từ ngày 14 đến
19/05/2003. Mặc dù các đường đẳng áp khá thưa nhưng cũng có thể nhận thấy một dải
front bên trên vĩ độ 25
o
N bắt đầu hình thành trong ngày 15, duy trì trong ngày 16 và
17, đến ngày 18 và 19 bắt đầu suy yếu và tan rã dần. Độ ẩm không khí tương đối trong
những ngày tồn tại dải front khá dồi dào.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status