Bệnh dịch hạch - dịch tễ học, giám sát và phòng chống - Pdf 34

LỜI GIỚI THIỆU
Cho đến nay, dịch hạch vẫn là bệnh dịch tối nguy hiểm, được xếp vào diện phải
kiểm dịch và khai báo quốc tế. Trong tình hình giao lưu phát triển mạnh, nguy cơ dịch
hạch bùng phát và lây lan từ địa phương này đến địa phương khác trong nước và từ
nước này sang nước khác là hiện thực cũng như nguy cơ sử dụng Yersinia pestis làm
tác nhân trong vũ khí sinh học dùng trong chiến tranh cũng như khủng bố, là một trong
những vấn đề thời sự cần quan tâm.
Hiện nay công tác thông tin giám sát bệnh dịch hạch đã có nhiều cố gắng và đạt
được những kết quả tích cực, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng
chống dịch tích cực và chủ động.
Tài liệu “Bệnh dịch hạch - dịch tễ học, giám sát và phòng chống” do các tác giả
đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy trong công tác phòng
chống dịch hạch biên soạn. Sách cập nhật số liệu mới nhất về tình hình bệnh dịch hạch
trên thế giới, đề cập đến các vấn đề về dịch tễ học, lâm sàng, điều trị, giám sát và
phòng chống bệnh dịch hạch có giá trị về phương diện lý luận và cả thực hành giúp
cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác quản lý hệ y học dự phòng
cũng như sinh viên y khoa tham khảo.
Mong rằng tài liệu này sẽ giúp ích cho các đồng nghiệp có những thông tin cần
thiết, bổ ích trong hoạt động giám sát, phòng chống dịch hạch tích cực và chủ động.

Hà Nội ngày 15 tháng 10 năm 2003

1


LỜI NÓI ĐẦU
Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm do Yersinia pestis gây ra,
lây truyền chủ yếu trong quần thể chuột và sang người qua trung gian bọ chét. Bệnh
tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ tử vong cao và được xếp vào diện phải kiểm
dịch và khai báo quốc tế. Bệnh được biết đến từ thời xa xưa và đã gây nên những nỗi
kinh hoàng trong lịch sử nhân loại qua ba vụ đại dịch với hàng trăm triệu người mắc

thuộc bộ gặm nhấm (Rodentia), chủ yếu là chuột và bọ chét ký sinh trên chúng, từ đó
lây truyền sang các loại súc vật khác và sang người. Bệnh thường lưu hành dai dẳng
địa phương nhưng vẫn luôn là mối đe doạ bùng phát thành dịch lớn. Lịch sử loài người
đã ghi nhận 3 vụ đại dịch vào các thế kỷ thứ XI, XIV và XIX với hàng trăm triệu
người tử vong và bệnh dịch hạch đã trở thành nỗi kinh hoàng của nhân loại.
Bệnh dịch hạch được biết đến từ thời xa xưa, mặc dù khó có thể xác định được
những thông tin chính xác cần thiết để phân biệt hoặc chứng minh dịch hạch ở thời
gian này với các bệnh lây truyền cấp tính do vi khuẩn khác hoặc vi rút. Trong Kinh
thánh Cựu Ước, câu 6 và 9, đoạn 5 của sách Samuel I vào khoảng 1320 năm trước
công nguyên, có thể được xem là một trong những tài liệu đầu tiên ghi nhận về bệnh
dịch hạch thể hạch.
Trong khoảng hai ngàn năm qua, các vụ dịch hạch lớn đã lây lan rộng khắp đến
các quốc gia trên thế giới. Đại dịch đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ thứ VI, vào
khoảng từ năm 542 đến 546 xảy ra vụ dịch lớn bắt đầu ở Đế quốc La Mã phương
Đông vào triều đại Vua Justinian 1 ở Ai Cập, lây lan sang Châu Âu, ước tính làm chết
khoảng 100 triệu người ở Châu Á, Châu Phi và Châu Âu.

Hình 1. Diễn biến đại dịch lần thứ 1.

3


Đại dịch lần thứ hai nổi tiếng với tên “Bệnh chết đen – Black Death” vào thế kỷ
XIV, khoảng từ năm 1347 đến 1350. Nguồn gốc của đại dịch này, theo một số tác giả
là có khả năng xuất phát từ Trung Quốc, Mongolia, Ấn Độ, Trung Á hoặc miền Nam
nước Nga xâm nhập vào Châu Âu, có lẽ theo con đường buôn bán tơ lụa chuyên chở
bằng marmots của người Châu Á vào đầu thế kỷ XIV. Dịch hạch xâm nhập đến Caffa
(Feodosiya, Ucraine hiện nay) vào khoảng năm 1346. Quần thể lớn chuột ở đây là điều
kiện cho dịch lây lan mạnh, nhất là khi các thuyền vận chuyển hàng hoá cập bến đến
các hải cảng lớn của Châu Âu như Pera, một vùng ngoại ô của Constantinople và đến

“the Decameron” vào năm 1350: Biểu hiện của bệnh không giống như ở phương
Đông là nôn ra máu từ mũi, sau đó người bệnh tử vong. Ở đây, bệnh mắc ở cả nam lẫn
nữ, biểu hiện nổi một hoặc vài hạch ở bẹn hoặc nách. Hạch to dần bằng quả táo nhỏ
hoặc quả trứng, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn và thường gọi là những khối u. Chỉ trong
thời gian ngắn, các khối u này lan sang các phần khác trên cơ thể và ngay sau đó, xuất
hiện những đám xuất huyết lớn hoặc nhỏ màu đen trên tay hoặc chân hoặc các phần
khác trên cơ thể.
Đại dịch lần thứ hai kéo dài ở Châu Âu cho đến tận năm 1720 mới kết thúc,
theo nghiên cứu của một số tác giả thì có nhiều nguyên nhân giải thích cho việc này là:
Bọ chét Xenopsylla cheopis, véc tơ chính của bệnh dịch hạch, không thể tồn tại
được lâu hơn nữa trong điều kiện khí hậu của Châu Âu. Chuột Rattus rattus sống khá
gần với người đã được thay thế bởi chuột Rattus norvegicus, loài chuột này thường
sống xa người hơn so với Rattus rattus. Một số chủng Yersinia pestis có độc lực yếu
hoặc những loài Yersinia như Yersinia pseudotuberculosis xuất hiện đã gây được miễn
dịch tự nhiên cho người cũng như chuột. Người Châu Âu đương thời thường bị thiếu
sắt, mà nguyên tố này là một yếu tố cần thiết của độc lực vi khuẩn và việc sử dụng xà
phòng trong sinh hoạt hàng ngày trở nên phổ biến đã làm giảm mật độ tấn công của bọ
chét đối với người.

5


Gần đây, sử dụng phương pháp sinh học phân tử và sử dụng tuỷ răng như là
nguồn “lưu giữ” DNA của vi khuẩn dịch hạch, các nhà khoa học đã chứng minh được
Yersinia pestis chính là tác nhân của vụ dịch “Bệnh chết đen” ở Châu Âu vào năm
1347 cũng như 2 vụ dịch vào năm 1590 và 1722 ở miền Nam nước Pháp.
Cuối thế kỷ thứ 19, sự phát triển mạnh mẽ của giao thông đường thủy đã tạo
điều kiện thuận lợi cho đại dịch thứ ba bắt đầu ở Canton và Hồng Kông vào năm 1894,
nhanh chóng lan truyền đi khắp thế giới. Trong vòng 10 năm, (1894-1903), dịch đã lan
đến 77 thành phố cảng trên khắp 5 châu : Châu Á (31), Châu Âu (12), Châu Phi (8),

học của bệnh dịch hạch thể phổi trong vụ dịch này.
Trong hai thập niên 1950 và 1960, Mayer K.F và cộng sự có nhiều nghiên cứu
sâu hơn về nguồn bệnh, hiệu quả của kháng sinh và vắc xin cũng như bệnh lý học dịch
hạch. Tiếp sau đó, Baltazard M đã mô tả về vai trò của vật chủ kháng bệnh hay nguồn
bệnh “im lặng” trong việc duy trì cũng như bùng phát các vụ dịch trong tự nhiên.
Vi khuẩn dịch hạch trải qua nhiều danh pháp khác nhau, đầu tiên khi mới được
phát hiện có tên là Bacterium pestis, đến năm 1900 gọi là Bacillus pestis, sau năm
1923 đổi thành Pasteurella pestis và tại Hội nghị Sinh vật học Quốc tế lần thứ 10 vào
năm 1970 mới có danh pháp như hiện nay là Yersinia pestis.

7


CHƯƠNG 2.
TÌNH HÌNH BỆNH DỊCH HẠCH HIỆN NAY
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1. Tình hình dịch hạch trên thế giới.
Các vùng dịch hạch lưu hành không cố định mà luôn luôn thay đổi, tuỳ thuộc
vào sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội như : khí hậu, động đất, sự di chuyển
của các quần thể gặm nhấm, di dân, ... Hiện nay, các ổ dịch hạch thiên nhiên tồn tại ở
Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Đông Nam Châu Âu, từ 55 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ
độ Nam. Tuy nhiên, trong vành đai này có những vùng không có ổ dịch hạch như các
hoang mạc với một số lượng ít hoặc không có loài vật chủ gặm nhấm, vùng chí tuyến
hoặc những dãy núi cao đóng băng quanh năm.

Hình 4. Bản đồ các nước báo cáo bệnh nhân dịch hạch và các vùng ghi nhận
dịch hạch ở động vật trên thế giới, 1970-2000.
Từ 1954-2001, Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận có 38 quốc gia trên thế giới xảy
ra bệnh dịch hạch gồm 89.651 trường hợp mắc và 7.715 bệnh nhân tử vong. Nhiều
nhất là 6014 bệnh nhân xảy ra năm 1967 và thấp nhất là 200 trường hợp vào năm

9


Từ 1980-1997 có 19349 trường hợp mắc với 1781 tử vong (tỷ lệ tử vong 9.2%),
chiếm 66.8% số mắc và 75.8% số tử vong thế giới. Trong thời kỳ này, dịch hạch ghi
nhận ở 13 quốc gia là Angola, Botswana, Cộng hoà dân chủ Công Gô, Keny, Libya,
Madagascar, Malawi, Mozambique, Nam Phi, Uganda, Tanzania, Zambia và
Zimbabwe. Trong đó, Cộng hoà dân chủ Công Gô và Madagascar bệnh xảy ra liên tục
hàng năm. Trong 15 năm qua, chỉ 2 nước Madagascar và Tanzania chiếm 62.5% số
bệnh nhân dịch hạch toàn châu lục này.

Hình 6. Tình hình dịch hạch châu Phi, 1954-2001
2.1.2. Châu Á.
Từ 1954 đến đầu thập kỷ 1980, hầu hết số mắc dịch hạch trên toàn thế giới là ở
Châu Á và riêng 2 quốc gia là Việt Nam và Myamar, năm nào cũng ghi nhận bệnh
nhân Dịch hạch.
Từ 1980 đến 1997, dịch ghi nhận ở 7 nước là : Trung Quốc, Ấn Độ,
Kazakhstan, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Môngôlia, Myamar và Việt Nam. Giai
đoạn 1966 đến 1972, Dịch lớn xảy ra ở Việt Nam chiếm hầu hết số mắc trên thế giới.
Những vụ dịch lớn khác như ở Ấn Độ trong thập niên 1950 và Tanzania và
Madagascar trong những năm 1990 đã ảnh hưởng lớn đến tổng số mắc toàn cầu.

10


Hình 7. Tình hình dịch hạch Châu Á, 1954-2001
Tại Ấn Độ, những vụ dịch lớn xảy ra vào nữa đầu thế kỷ 20, năm 1954 và 1963.
Sau đó gần 30 năm yên lặng, đến đầu tháng 8 năm 1994, xuất hiện bệnh nhân Dịch hạch
thể hạch đầu tiên (xác định bằng huyết thanh học) ở huyện Beed, Bang Maharashtra. Các
biện pháp diệt vector và sau đó là diệt chuột, đồng thời hóa dự phòng đã được nhanh

nhỏ trên người đã không được xác minh, một vụ vào tháng 9/1983 ở Himachal Pradesh
làm 17 người chết, một vụ dịch khác vào tháng 4/1984 ở Dharpuri (miền Nam Ấn Độ).
Cơ quan giám sát dịch hạch ở vùng Maharashtra vào năm 1987 cho thấy xuất hiện ở
Beed những chỉ số dịch tễ học trước các vụ dịch người (số lượng gặm nhấm, chỉ số bọ
chét, mật độ gậm nhấm và tỷ lệ bọ chét bị nhiễm), nhưng không được nghiên cứu tiếp
để đi đến tổ chức các biện pháp dự phòng tại chỗ như diệt chuột, bọ chét để hạn chế
dịch bệnh.
2.1.3. Châu Mỹ.
Dịch hạch xảy ra ở 5 nước : Bolivia, Brazil, Ecuador, Peru và Hoa Kỳ. Trong
đó, Brazil, Peru và Hoa Kỳ bệnh xảy ra hàng năm. Riêng Peru và Brazil tổng số mắc
trong thời kỳ 1980-1997 là 3137 với 194 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong là 6.2%),
chiếm 82% số mắc của toàn Châu lục.

Hình 8. Tình hình dịch hạch châu Mỹ, 1954-2001

12


Nghiên cứu chu kỳ dịch hạch xảy ra khác nhau, thời kỳ yên tĩnh có thể kéo dài
10 năm hoặc hơn sau khi xuất hiện đột ngột dịch trên người và động vật. Vấn đề cần
phải nghiên cứu sâu hơn là tại sao dịch hạch lại xảy ra một cách ngẫu nhiên như thế.
Mặc dù hiện nay bệnh lưu hành chủ yếu tại các ổ dịch hoang dại, nhưng có những
vùng có khả năng gây ra dịch rải rác trên người như ở Trung Quốc, Ecuador và
Tanzania (1980), Libian Arab Jamahiriya (1984), Peru (1992-1994), Bostwana (1987),
Kenya và Ấn Độ (1990), Mozambique, Zimbabwe và Ấn Độ (1994).
Dịch hạch ở Tanzania bùng phát vào năm 1991 với 129 trường hợp, Myanmar
vào năm 1992: 528 trường hợp; Zaire từ 1991 - 1993: 1.315 trường hợp; Peru từ cuối
1992 đến giữa 1994: 1.151 bệnh nhân và gần như đồng thời với Ấn Độ, Mozambic
cũng ghi nhận được dịch hạch thể hạch sau hơn 15 năm vắng lặng. Dịch hạch ở những
nơi này có tỷ lệ chết cao nhưng không làm chấn động thế giới như Ấn Độ, điều đó có

(-) (6) (32) (21) (3) (6)

44 28 37
(1) (14) (1)

25
(-)

12
(-)

Châu 119 210 425 505 227 1012 605 1229 186 386 274 95 222 257 102
(8) (10) (49) (29) (15) (30) (28) (85) (11) (26) (12) (13) (15) (5) (10)
Á
Thế 1207 1402 876 1426 3009 2232 2236 2940 2861 3017 5419 2464 2603 2513 2671
giới (216) (153) (103) (141) (178) (217) (191) (212) (137) (205) (209) (209) (212) (238) (175)

13


Trong 2 năm gần đây, theo thống kê chưa đầy đủ thì dịch hạch vẫn xảy ra ở một
số nước như tại Malawi, dịch hạch xảy ra ở huyện Nsanje, từ ngày 16 tháng 4 năm
2002 đến 27 tháng 5 với 71 trường hợp mắc.
Dịch hạch thể phổi bùng phát ở xã Hat Koti, huyện Shimla, Bang Himachal
Pradesh, Ấn Độ từ ngày 4 đến 19 tháng 2 năm 2002 có 16 người mắc với 4 bệnh nhân
tử vong. Các bệnh phẩm đã được Viện Quốc gia Phòng chống các bệnh Truyền nhiễm
khẳng định sự hiện diện của Y. pestis.
Gần đây, tính đến ngày 23 tháng 6 năm 2003 đã xảy ra dịch hạch tại Tafraoui,
ngoại ô tỉnh Oran, Angêria với 10 trường hợp mắc, 8 trường hợp thể hạch, 1 thể phổi
và 1 thể nhiễm khuẩn huyết. Trong số này có 1 bệnh nhân đã tử vong. Kết quả xét

1907 519
1908 2435
1909 422
1910 2528
1911 1108
1912 579
1913 1689
1914 1466
1915 408
1916 624
1917 792
1918 948
1919 401
1920 369
1921 453
1922 396
1923 223
1924 99
1925 106
1926 70
1927 19

Chết
53
22
412
1325
325

255

1950
1951
1952

Mắc Chết
51
5
30
23
21
17
3
2
5
17
17
4
3
1
0
0
0
52
53
48
41
19
52
24
90

1974
1975
1976
1977

Mắc Chết
22
2

43
4
15
0
15
85
125
119
485
4563
2844
5718
4194
5098
4044
3479
1360
465
1695
895
13733

1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002

Mắc Chết
5344 154
3642 95
2427 65
3000 101
3971 89
1902 46
3293 108
2746 81


Có thể chia tiến trình bệnh dịch hạch ở Việt Nam làm 4 thời kỳ dịch tễ học như
sau:
2.2.1. Thời kỳ xâm nhập và tạo lây lan nội địa (1898-1922).
Dịch hạch ghi nhận đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1898 tại Nha Trang, đến năm
1906 một lần nữa ghi nhận tại cảng Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Sau
đó, bệnh dịch hạch bắt đầu lây lan đến các tỉnh thành khác như : Sóc trăng năm 1907,
Hà Nội, Phan Thiết và Huế năm 1908, Lạng Sơn năm 1909, Phan Rí và Đà Nẵng năm
1910. Đánh dấu sự xâm nhập của bệnh dịch hạch vào Việt Nam.
Sau khi xâm nhập dịch lây lan đến một số tỉnh, thành phố như vụ dịch năm
1911 lan rộng đến Châu Đốc, Long Xuyên, Thủ Dầu Một. Vụ dịch này có nhiều bệnh
nhân dịch hạch thể phổi, làm chết 886 người. Năm 1917, dịch hạch xuất hiện ở Hải

15


Phòng, Đồ Sơn, Hon Gai. Tây Ninh, Biên Hòa. Thời kỳ 1918-1921, bệnh tiếp tục bùng
phát kể cả những có dịch cũ. Những nơi dịch hạch xâm nhập đền có tính chất tạm thời
trừ Sài Gòn và Phan Thiết có chiều hướng trở thành vùng dịch dai dẳng.
2.2.2. Thời kỳ lắng dịu và trở thành dịch lưu hành địa phương (1923-1960).
Ở Miền bắc từ năm 1923 không có trường hợp nào được ghi nhận, bệnh được
xem như “im lặng” ở Miền Bắc. Dịch ở Miền Nam giảm dần chỉ còn lưu hành ở Sài
Gòn và Phan Thiết. Từ 2 nơi này có một số thời điểm dịch lan rộng. Đà Lạt: 1947,
1948 và 1950. Bình Long và Tây Ninh năm 1955 và 1956.
2.2.3. Thời kỳ bùng phát, lan tràn và lưu hành trên diện rộng (1961-1990):
có thể phân chia thành 2 thời kỳ nhỏ:
1961-1975: Dịch hạch bùng phát lan tràn đến 30 tỉnh, thành ở Miền Nam. Tỷ lệ
tử vong của số bệnh nhân vào điều trị năm 1967 là 5,3% và năm 1968 là 5,1%. Tỷ lệ
tử vong trung bình trong 10 năm (1965-1974) là 5%. Sau đó tiếp tục lưu hành trên diện
rộng ở các tỉnh vùng duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên, và Miền Đông Nam Bộ.

1991 1992 1993
31
Quảng Ngãi
(1)
Bình Định 20(1) 93(3) 61(2)
6(0) 35(1)
Phú ên
13(4) 27(2)
Khánh Hoà
4 (0) 5(1)
Kon Tum
68
109 171
(6)
Gia Lai
(6) (20)
344 236 372
Đắc Lắc
(1) (6) (4)
1(0)
Lâm Đồng
1(0)
Tây Ninh
439 491 667
Tổng cộng
(8) (20) (30)

1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002

40(1) 26(0) 59(2) 9(0) 3(0)

5
(0)

422 179 277 210
(33) (11) (20) (11)

85
(7)

196
(6)

38
(0)

12
(0)

9
(0)

17


CHƯƠNG 3.
DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH HẠCH
3.1. Vật chủ bệnh dịch hạch.
Dịch hạch là bệnh truyền nhiễm, lây truyền trong quần thể gặm nhấm. Bệnh
duy trì trong các ổ dịch thiên nhiên của các loài gặm nhấm và lây truyền qua trung
gian bọ chét sống ngoại ký sinh trên chúng. Phần lớn các loài động vật hoang dại đều

làm tổ qua nhiều thế hệ, có khi chúng cắn tranh trên mái nhà làm tổ.
Ở các khu dân cư này thì chuột lắt chiếm đa số, thường từ 50% đến 94%. Kết
quả nghiên cứu ở xã Ia Pết, huyện Đắc Đoa, tỉnh Gia Lai năm 1999, 2001 và 2002 đặt
6957 lượt bẫy, thu được 410 vật chủ. Qua phân tích cho thấy loài chuột lắt chiếm
55,9%.
* Chuột khuy hay còn gọi chuột rừng (Rattus rattus): Chuột khuy có kích
thước tương đối lớn, trọng lượng dao động 140 - 300 gram. Chiều dài thân khoảng 160
- 210 mm và chiều dài đuôi khoảng từ 176 - 250 mm và thường dài hơn thân. Màu
lông lưng xẩm hung, màu trắng xám ở bụng và đuôi màu nâu thẩm.

Hình 11. Chuột khuy (Rattus rattus)

19


Chuột khuy có phân bố mọi sinh cảnh, có thể gặp trong nhà, vùng ven biển,
đồng lúa, đồng cỏ, đồi rừng, trong rừng ... Trong sinh cảnh thành thị, rattus rattus gặp
nhiều ở những nơi công cộng như ga xe lửa, cảng. Ở miền Bắc Việt Nam, rattus rattus
thường gặp ở rừng và trung du. Ở Miền Nam gặp ở khắp mọi nơi. Trên thế giới, loài
chuột này phân bố khá rộng rãi : Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Campuchia, miền
Nam Việt Nam.
Đây là loài có thể thích nghi với nhiều loại sinh cảnh nên hang tổ cũng tùy
thuộc vào sinh cảnh. Trong rừng, chúng làm tổ trên cây. Ngoài đồng, chúng đào hang
làm tổ ở bờ ruộng, mô đất, rơm rạ ... Trong nhà, Rattus rattus thường làm tổ trong ống
tre trên mái nhà, đục khoét ống tre hoặc cắn tranh trong mái tranh ... tự như rattus
exulans. Trong sinh cảnh thành thị, chúng làm tổ trong các hang hốc tự nhiên, trong
đống nguyên phế liệu.
Tùy vào môi trường chuột khuy đang sống mà chọn nguồn thức ăn thích hợp.
Chúng sống cũng khá gần người nên cũng ăn thức ăn của người : thóc, bắp, củ mì, rau,
cá, thịt ... Thường mùa khô, ở ngoài đồng thiếu thức ăn, nước uống chuột thường vào

tăm nhất, gần lu vại chứa nước, dưới đống cây, gỗ mục, đống gạch đá, góc vườn nhà.
Vật chủ là một trong ba mắt xích quan trọng trong việc duy trì và lưu hành bệnh
dịch hạch. Căn cứ vào sinh thái, sinh học của vật chủ, có thể chia ra thành 2 loại ổ
bệnh dịch hạch:
- Ổ dịch hạch “thiên nhiên” hay “hoang dại”: Hơn 200 loài động vật được xác
định là nhiễm Yersinia pestis trong điều kiện tự nhiên, trong đó chủ yếu là các loài

21


gặm nhấm. Tuỳ vào vùng địa lý mà thành phần chính của các loài gặm nhấm có vai trò
vật chủ khác nhau. Hoạt động của ổ dịch hạch hoang dại tồn tại trong thiên nhiên, độc
lập với các hoạt động của người. Ổ dịch hạch hoang dại hình thành từ lâu và tồn tại lâu
dài trong những điều kiện nhất định của tự nhiên.
Theo học thuyết “ổ bệnh thiên nhiên” của Palôpxki năm 1946, có 3 mắt xích
quan trọng là : mầm bệnh, vật chủ và trung gian truyền bệnh, chúng có quan hệ sinh
thái học chặt chẽ với nhau tạo nên quá trình sinh dịch và duy trì lâu dài trong các sinh
địa cảnh nhất định. Ổ bệnh dịch hạch “thiên nhiên” được xác định với những tính chất
riêng, bao gồm nhiều yếu tố như đặc điểm sinh địa cảnh, khí hậu và ranh giới ổ dịch.
Loài vật chủ chính và các loài thứ yếu cũng như tính chất của mầm bệnh.
- Ổ dịch hạch trong và xung quanh khu dân cư hay ổ dịch “gần người” : Được
Uỷ ban Nghiên cứu Dịch hạch Anh xác định vào năm 1906, vật chủ chính là các loài
chuột sống gần người như Rattus rattus, Rattus norvegicus và Rattus exulans. Những
loài chuột sống trong và xung quanh khu dân cư thường gây nên những vụ dịch với
quy mô lớn hơn nhiều so với ổ dịch hoang dại bởi sự phân bố rộng rãi và tính phổ biến
của chúng. Tình hình dịch hạch trên thế giới trong những thập kỷ qua cho thấy một số
lớn ổ dịch “gần người” đã được dập tắt.
Tính cảm nhiễm của các loài vật chủ với Yersinia pestis rất khác nhau và có thể
phân chia thành 2 nhóm :
- Nhóm có tính đề kháng tương đối với bệnh dịch hạch, thường có biểu hiện

Khả năng truyền bệnh dịch hạch của các loài bọ chét phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố và liên quan chặt chẽ với nhau. Năm 1943, Douglas xác định hiệu quả truyền
bệnh của bọ chét là kết quả của 3 khả năng: Khả năng bị nhiễm (infection potential): là
tỷ lệ bọ chét hút máu nhiễm bệnh trở thành bị nhiễm; Khả năng gây nhiễm (infective
potential): tỷ lệ bọ chét bị nhiễm trở nên có khả năng lan truyền và khả năng lan truyền
(transmission potential): khả năng tiến hành lan truyền bệnh của bọ chét bị nhiễm
trước khi chết. Sự khác nhau về cấu trúc, kích thước của tiền dạ dày (proventriculus),

23


tần số lần hút máu, thời gian còn sống sau khi bị nhiễm của các loài bọ chét khác nhau
liên quan đến khả năng thứ 2 và 3.
Để hiểu được dịch tễ học cũng như sự lan truyền bệnh dịch hạch từ các loài
gặm nhấm đến người, điều cần thiết là xác định loài bọ chét nào có vai trò trong việc
lan truyền bệnh ở một giới hạn địa lý nhất định. Hiểu biết về sinh thái học của bọ chét
là cơ sở để phòng chống cũng như kiểm soát được sự lan truyền tác nhân gây bệnh.
Phần lớn các loài bọ chét quan trọng thường sống ngoại ký sinh trên những loài
gặm nhấm sống trong hoặc xung quanh khu dân cư. Vì sự tiếp xúc khá gần gũi của các
loài bọ chét này với người nên thường bắt gặp chúng trên thú nuôi và gia súc. Hầu hết
các loài bọ chét này có phân bố rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, ở nhũng vùng địa lý
khác nhau thì thành phần loài cũng như vai trò truyền bệnh sẽ khác nhau. Bọ chét ký
sinh trên gặm nhấm sống gần người được phân loại như sau:
Nhóm bọ chét sống ký sinh chọn lọc trên những loài gặm nhấm sống gần người
có phân bố khá rộng rãi và thường thấy ở những vùng dịch hạch lưu hành địa phương.
Loài Xenopsylla cheopis có phân bố khá rộng trên thế giới còn loài X. brasiliensis và
Nosopsylla fasciatus thì phân bố địa lý hạn chế hơn.
Những loài bọ chét ký sinh chọn lọc đối với gặm nhấm sống gần người có phân
bố chỉ hạn chế thậm chí chỉ giới hạn trong một vùng địa lý hẹp như X. astia
Một số loài bọ chét thường ký sinh ở gặm nhấm hoang dại nhưng lây lan sang

các loài thú có vú và gặm nhấm khác nhiều hơn chuột. Loài này ít có vai trò quan
trọng trong lan truyền dịch hạch.
Monopsylla anisus là loài bọ chét ký sinh trên các loài chuột sống ở vùng ôn
đới ở Đông Á, kéo dài từ Trung Quốc và Transbaikala, Nga đến Nhật Bản. Chúng còn
gặp ở một số cảng của San Francisco, Vancouver và Anh.
Leptopsylla segnis có nguồn gốc từ Tây Á và phân bố khá rộng rãi trên thế giới,
nhất là vùng khí hậu ôn đới. Loài bọ chét này chỉ đóng vai trò thứ yếu trong lây truyền
bệnh dịch hạch.
Pulex irritans còn gọi là bọ chét người, theo các nghiên cứu thì có loài bọ chét
này nguồn gốc từ Trung và Nam Châu Mỹ, chúng ký sinh trên chuột lang và lợn cỏ
Pêcari. Mặc dù loài bọ chét này hiện nay có phân bố khá rộng rãi trên thế giới và sống
ký sinh trên nhiều động vật hoang dại như loài cáo, lửng lợn, sóc đất, chuột và các loài
gia súc như heo, dê, chó, mèo và người. Loài bọ chét này nhưng thường gặp với mật
độ cao ở khu dân cư. Pulex irritans được xem như là véc tơ của bệnh dịch hạch ở
Angôla, Braxin, Burundi, Côngô, Iran, Irắc, Nêpan và Tanzania.
Bọ chét Ctenocephalides felis có phân bố rất rộng và tính chọn lựa vật chủ thấp
nên gặp ở nhiều vật chủ như chuột, chó, người, các loài thú có vú khác và cả trên
chim. Loài này cùng với bọ chét chó Ctenocephalides canis có thể lây truyền vi khuẩn
dịch hạch từ các loài vật nuôi trong nhà sang người.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status