cập nhật tình hình dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá gan lớn fasciola spp. trên thế giới và tại việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sán lá gan lớn do Fasciola spp. gây nên. Theo Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) bệnh sán lá gan lớn (SLGL) là một trong những vấn đề y tế quan
trọng và được phát hiện ngày càng nhiều ở người và động vật [34], [35].
Bệnh SLGL ở người do hai loài Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica gây ra. Mặc dù F. hepatica được coi là có nguồn gốc ở Châu Âu,
nhưng cho đến nay loài này đã có mặt và phân bố rộng rãi trên thế giới. Vùng
dịch tễ chủ yếu của loài sán này là Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Đại Dương
[31]. Ở Châu Á, Châu Phi nhiễm phối hợp cả hai loài [22], [26], [31],. F.
gigantica có xu hướng xuất hiện ngày một nhiều ở vùng nhiệt đới Châu Phi,
Châu Á và vùng Đông Nam Á [14], [30], [33]. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc
các tác giả đã phát hiện ra có 03 loại hình thái gen 2n, 3n và loài Fasciola sp.
có thể 2n/3n [32].
Giữa thập kỷ 90, bệnh SLGL được phát hiện lây truyền từ động vật
sang người. Ngày nay, bệnh SLGL được coi là bệnh mới nổi (emerging) hoặc
mới nổi lại (re-emerging) ở nhiều nước trên thế giới, với sự gia tăng tỷ lệ
nhiễm, cường độ nhiễm và sự lan rộng về địa lý [17]. Các nghiên cứu bệnh
SLGL trong những năm vừa qua đã chứng minh bệnh này nằm trong danh
sách các bệnh ký sinh trùng (KST) quan trọng ở người. Giả thuyết đặt ra có
khả năng bệnh lây truyền được từ người sang người [34].
Tại Việt Nam trong những năm qua bệnh SLGL nổi lên như một bệnh
KST phổ biến và trầm trọng. Các ca bệnh SLGL được thông báo có mắc tại
47 tỉnh thành trong toàn quốc [11]. Diễn biến của bệnh trên người tại các thời
điểm nhiễm bệnh khác nhau, biểu hiện bệnh lý khác nhau. Tuy nhiên, theo
hầu hết các tác giả thì biểu hiện lâm sàng (LS) của nhóm bệnh này thường
không rõ ràng. Việc chẩn đoán và điều trị sớm cùng là một đòi hỏi trong công
1
tác phòng chống bệnh tại cộng đồng. Ngày 03/9/2006, Bộ Y tế đã ban hành
Quyết định số 3420/2006/QĐ-BYT về việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh SLGL ở người [1].
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề:

mổ tử thi một bệnh nhân nữ ở Berlin, Đức.
3
1.2. Nghiên cứu phương thức truyền bệnh SLGL: phát hiện các giai đoạn
ấu trùng và ốc vật chủ trung gian
F. hepatica là loài sán ở người, được phát hiện đầu tiên và chu kỳ phát
triển của loài này cũng được làm sáng tỏ trước tiên. Billo khám phá ra trứng
SLGL và nhận ra SLGL là sinh vật lưỡng tính vào năm 1690. Muller, phát
hiện ấu trùng đuôi; đến năm 1842, Steenstrup làm sáng tỏ ý tưởng về một thế
hệ xen kẽ trong sự phát triển của ký sinh trùng. Giữa các năm 1880-1883,
Leuckart và Thomas, lần đầu tiên mô tả chu kỳ phát triển của F. hepatica và
khẳng định các loài ốc thuộc giống Lymnaea và vật chủ trung gian của nó.
Năm 1875, Weinland xác định loài ốc Lymnaea truncatula (L. truncatula) là
vật chủ trung gian chính cho giai đoạn ấu trùng của F. hepatica. Sau đó, năm
1892, Lutz chỉ ra một cách rõ ràng động vật ăn cỏ bị mắc bệnh là do ăn cỏ
hoặc các loài rau nhiễm nang trùng và Sinitsin, năm 1914 đã xác định con
đường lan truyền bệnh cho người cũng như sự di chuyển của F. hepatica
trong cơ thể vật chủ.
1.3. Nghiên cứu các phương pháp chẩn đoán bệnh SLGL
Ward là người đầu tiên phát hiện ra trứng SLGL trong phân người bệnh
vào năm 1911. Năm 1944, Martin và cộng sự đã tìm thấy trứng SLGL trong
mật và đây là lý do để việc nội soi đường tiêu hóa trên được áp dụng rộng rãi
trong chẩn đoán bệnh SLGL. Việc tìm kiếm sự gia tăng của bạch cầu ái toan
như dấu hiệu chỉ điểm cho bệnh SLGL cũng được Ward đề xuất. Các
phương pháp (PP) chẩn đoán miễn dịch sử dụng các chất tách chiết từ sán
trưởng thành hoặc trứng sán để tìm kháng thể SLGL trong huyết thanh
hoặc trong phân đã và đang được NC một cách rộng rãi trong vài thập kỷ
qua. Việc chẩn đoán ở mức độ phân tử cũng đã được phát triển và cải tiến
trong vài năm gần đây.
1.4. Nghiên cứu về dịch tễ học của bệnh SLGL
Những năm 1881-1882, Leukart và Thomas đã tính toán tiềm năng lan

5
cáo ở Châu Phi, Châu Á. Vòng đời, sự truyền bệnh, hình thái học, diễn biến
lâm sàng, điều trị bệnh do F. gigantica và sự lây truyền của nó tương tự như
loài F. hepatica.
2.1.1. Vị trí phân loại
Bảng 1. Vị trí phân loại của sán lá gan lớn
Giới (Kingdom): Animalia
Ngành (Phylum): Platyhelminthe
Lớp (Class): Trematoda
Bộ (Order): Echinostomid
Dưới bộ (Suborder): Echinostomata
Họ (Family): Fasciolidae
Giống (Genus): Fasciola
Loài (Species): F. hepatica, F. gigantica
2.1.2. Đặc điểm về hình thể của SLGL
Con SLGL trưởng thành hình chiếc lá, thân dẹt và bờ mỏng, có kích
thước: chiều dài 20-30 mm, chiều ngang: 10-12 mm; màu trắng hồng hoặc
xám đỏ, hấp khẩu miệng nhỏ, kích thước 1 mm; hấp khẩu bụng to hơn, kích
thước 1,6 mm. Ở người, sán ký sinh trong đường mật, bất thường có thể ký
sinh lạc chỗ như trong cơ, dưới da, phúc mạc. Sán trưởng thành đẻ trứng theo
đường mật xuống ruột và ra ngoài theo phân.
Trứng SLGL có kích thước lớn nhất trong các loài sán lá, kích thước
trung bình 165 x 77,5 μm (dao động 153-175 x 75-95 μm); theo Mas-Coma
& Bargues (1997) kích thước F. hepatica 150-196 x 90-100 μm, trong khi F.
gigantica là 130-135 x 63-90 μm. Sở dĩ có kích thước khác nhau do SLGL
tồn tại dưới 2 thể: nhị bội (diploid) và tam bội (triloid).
6
Trứng các loại sán thường gặp thuộc lớp Trematoda
Hình 1. Trứng F. Hepatica có nắp (operculum)
Tác giả Boray (1982) cho rằng loài F. Hepatica có hình chiếc lá, dài

truncatula là VCTG truyền bệnh như ở Châu Âu [30].
Lymnae là trung gian truyền bệnh không chỉ ở Châu Âu mà có cả ở
Nam Mỹ [27], [29] và người nhiễm quanh năm. Bắc Mỹ và vùng Thái Bình
Dương ốc trung gian truyền F. hepatica và F. gigantica chủ yếu là L.
collumella và L. viridis [16]. Vùng Trung Mỹ và Carribbean, Venezuela ốc
truyền F. hepatica là Fossaria cubensis. Vùng Nam Mỹ ốc truyền F. hepatica
là L. viatrix và L. diaphana. Vùng Địa Trung Hải chỉ có duy nhất L. cailliaudi
được tìm thấy dọc bờ sông Nile. Loài sán lá gan lớn F. gigantica thường gặp
nhiều ở Triều Tiên, Iran, Ấn Độ, Nhật Bản. VCTG truyền bệnh là loài ốc L.
truncatula và L. viridis.
Ngoài ra, F. gigantica còn gặp ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và
Indonesia, loài ốc trung gian truyền bệnh là L. rubiginosa. Cả 2 loài F.
gigantica và F. hepatica đều gặp ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia
và Philippine. Loài ốc trung gian truyền bệnh là L. swinhoei hoặc L. viridis.
Trong đó L. swinhoei là ốc trung gian truyền bệnh của F. hepatica còn L.
viridis truyền được cả hai loài SLGL.
Hình 3. Ốc nước ngọt Lymnaea truncatula
2.1.3.3. Vật chủ tình cờ
Người là vật chủ tình cờ của SLGL. Khi ăn phải AT SLGL vào đường
tiêu hóa, sau 1 giờ ấu trùng thoát kén và xuyên quan thành ruột. Sau 2 giờ
9
xuất hiện trong ổ bụng, chúng tiếp tục vào gan và đến gan vào ngày thứ 6,
nằm trong nhu mô gan gây những ổ hoại tử lớn. Nếu vật chủ thích hợp, chúng
có thể tồn tại ở người từ 9-14 năm.
Do người chưa là vật chủ thích hợp nên sán non có thể di chuyển xuống
đại tràng, ra thành ngực, đến tuyến vú hoặc chui qua da, tạo những đường
hầm dưới da trong quá trình di chuyển hướng ra ngoài. Trên thế giới cũng đã
từng ghi nhận những trường hợp sán chui cả xuống buồng trứng, tinh hoàn,
màng phổi…
Sau khoảng 6-12 tuần, khi SLGL lớn xâm nhập, người bệnh có biểu

ngoài môi trường. Trong môi trường nước ngọt, trứng phát triển thành giai
đoạn trùng lông (miracidium).
* Giai đoạn thứ ba (Chu kỳ phát triển ở vật chủ trung gian):
Trong môi trường nước ngọt, miracidia xâm nhập vào ốc VCTG, ốc
Lymeane, phát triển thành cercaria và được đào thải lại qua phân ốc vào
trong nước.
* Giai đoạn thứ tư (Chu kỳ trên thực vật thủy sinh):
Ngay sau khi rời khỏi ốc, cercariae bơi qua hồ nước trong đồng cỏ và
nhanh chóng phát triển thành giai đoạn AT nang (metacercariae) bám vào bề
mặt thực vật thủy sinh trong vòng 24 giờ. Từ đây, metacercariae bị động vật
nhai lại ăn phải hoặc trong một số trường hợp do con người ăn thực phẩm
chưa nấu chín như cải xoong hoặc uống phải nước có ô nhiễm mầm bệnh.
11
Hình 4. Chu kỳ phát triển của sán lá gan lớn
2.2. Đường lây nhiễm và các yếu tố liên quan bệnh SLGL
2.2.1. Đường lây nhiễm bệnh SLGL
Trong các bệnh truyền qua thức ăn do sán lá thì duy nhất bệnh SLGL
vừa truyền qua nước và vừa truyền qua thức ăn. Người bị nhiễm bệnh do ăn
sống các loại rau mọc dưới nước (rau ngổ, rau rút, rau cần, cải xoong ) hoặc
uống nước lã có nhiễm AT sán. Nước chứa NT của SLGL có thể lây nhiễm
thức ăn, dụng cụ nhà bếp và những đồ vật khác sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh
SLGL. Hơn nữa, trong nhiều vùng lưu hành nặng của bệnh SLGL ở Nam Mỹ
và vùng Peruvian Altiplano nơi có công trình thủy lợi Asillo, người ta không
hề ăn rau thủy sinh.
Như vậy, các con đường lan truyền bệnh SLGL ở người là do:
- Ăn phải NT bám vào các loài rau thủy sinh.
- Uống nước có nhiễm NT.
- Nuốt phải nang trùng bám vào bề mặt của thức ăn hoặc bám vào dụng
cụ nhà bếp được rửa bằng nước có nhiễm nang trùng.
- Nuốt phải sán khi ăn gan sống của động vật.

5-15% tuổi có thể tỷ lệ nhiễm cao hơn. Cường độ nhiễm trung bình số học 50-
300 trứng/g phân. Có cá thể cường độ nhiễm rất cao, cường độ nhiễm hơn
13
1000 trứng/g phân gặp nhiều. Đường lây nhiễm không chỉ từ hố xí, nước thải
mà chủ yếu là thói quen phóng uế bừa bãi.
- Vùng lưu hành nặng: Tỷ lệ nhiễm trên 10%, trẻ em 5-15 tuổi bị nhiễm
cao hơn. Cường độ nhiễm với hơn 300 trứng/ g phân. Đường lây nhiễm tương
tự vùng lưu hành vừa. Về lây lan bệnh, có các kiểu bùng phát dịch phụ thuộc
vào tình trạng của vùng lưu hành hay không, như: dịch ở vùng lưu hành bệnh
trên động vật, xuất hiện trong vùng có ca bệnh lẻ tẻ cùng với chủ chứa (động
vật hoang dại, vật nuôi hay rau thủy sinh có AT SLGL); dịch xuất hiện trong
vùng lưu hành với số lượng lớn người nhiễm và luôn có mối quan hệ với điều
kiện khí hậu thích hợp với ốc VCTG truyền bệnh, dịch có thể xảy ra ở vùng
lưu hành nặng, trung bình và nhẹ.
2.2.2.2. Vùng dịch (epidemics)
Các kiểu bùng phát dịch phụ thuộc tình trạng của vùng lưu hành bệnh
hay không:
- Dịch ở vùng lưu hành bệnh trên động vật nhưng không phải vùng
bệnh lưu hành trên người: xuất hiện trong vùng các ca bệnh lẻ tẻ cùng với các
vật chủ chứa tác nhân gây bệnh (động vật hoang dại hay vật nuôi ăn rau thủy
sinh có AT SLGL).
- Dịch trong vùng bệnh lưu hành ở người: dịch xuất hiện trong vùng có
bệnh lưu hành ở người với số lượng lớn có thể nhiễm và luôn có mối quan hệ
với điều kiện khí hậu thích hợp với ốc trung gian truyền bệnh. Dịch có thể
xảy ra trong vùng với 03 cấp độ: cấp độ nặng, trung bình và cấp độ nhẹ.
2.2.3. Các yếu tố liên quan trong việc lây truyền bệnh SLGL ở người
2.2.3.1. Yếu tố môi trường và sinh thái
- Quần thể ốc VCTG đầu tiên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố môi
trường, đặc biệt là chất lượng, chiều và nhiệt độ của dòng nước.
- Mật độ của các loài ốc Lymnaea spp. bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nồng

Nước cũng được xem như là một nguồn nhiễm bệnh cho người. NT còn
sống được tìm thấy ở những nguồn cung cấp nước tự nhiêm trong các vùng
dịch tễ của bệnh [61]. Tại vùng Altiplano Bolivia, 13% số nang trùng cô lập
vẫn đang bơi. Nước nhiễm NT có thể nhiễm vào thức ăn, dụng cụ nhà nhà bếp
và những vật dụng khác và trở thành nguồn nhiễm tình cờ. Do đó, quá trình
15
nhiễm bệnh còn có thể gặp khi uống nước lã hoặc từ các NT dính vào dụng cụ
nhà bếp (dao, thớt…) [62], [73].
2.2.3.4. Yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội
Những thói quen về ăn uống, nấu nướng là phức tạp và hàm chứa cả
các yếu tố kinh tế, xã hội [58]. Các món ăn truyền thống chế biến từ rau của
người Iran cũng là nguồn lây nhiễm quan trọng [36], [38]. Tại Peru, việc uống
nước ép từ cỏ linh lăng cũng là yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh SLGL.
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh SLGL ở người
2.2.4.1. Nhóm tuổi
Sự phân bố các ca bệnh SLGL trong dân cư cũng theo những mô hình
khác nhau. Trong khi ở những nước như Bolivia, Peru và Ai cập, hầu hết các
trường hợp nhiễm SLGL được thấy ở trẻ em tuổi đến trường, thì ở những
nước khác như Việt Nam, các ca bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ lứa tuổi 20-50;
các ca bệnh trong những vụ dịch tại Cu Ba, phần lớn là người lớn [72]. Trong
vùng lưu hành nặng, trẻ em dưới 15 tuổi luôn luôn có tỷ lệ nhiễm cao nhất.
2.2.4.2. Giới tính
Nhiều NC trong và ngoài nước cho thấy nữ giới mắc bệnh SLGL cao
hơn nam giới, nguyên nhân tại sao thì vẫn còn đang bàn cãi. Có lẽ do nữ giới
phơi nhiễm với thức ăn nhiễm nang trùng SLGL nhiều hơn nam giới vì phải
thường xuyên giặt giũ, chuẩn bị các bữa ăn cho gia đình hơn [46]. Tại Ai Cập,
vai trò của giới trong nhiễm bệnh SLGL có lẽ liên quan đến yếu tố văn hóa,
vệ sinh và thói quen, phụ nữ thường làm các công việc nội trợ, giặt giũ ở các
con kênh lớn và việc trồng trọt cũng như chế biến thức ăn cho gia đình. Mức
độ nhiễm ở nữ giới bệnh nặng nề hơn với nhiều biến chứng hơn ở gan và

Năm 1758, Linne tìm ra loài Fasciola hepatica (F.hepatica).
Năm 1856, Cobbold đã tìm ra loài Fasciola gigangtica (F.gigangtica).
Bệnh SLGL được phát hiện khắp nơi trên thế giới và được thông báo ở
Châu Âu, Nam Mỹ, Trung Mỹ, Châu Phi, châu Á. Sự bùng phát bệnh SLGL
đã được báo cáo ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bolivia, CuBa, ChiLê và
Urugoay. Ở nhiều vùng ngoại ô ChiLê tỷ lệ nhiễm lá gan lớn lên đến 75%.
Tại châu Âu có khoảng 2.931 BN được chẩn đoán SLGL trong 19 nước.
Năm 1956 ở Pháp đã có khoảng 500 người bị nhiễm; từ năm 1950 đến 1983
có khoảng 3.297 BN. Đối với các vùng Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ bệnh
SLGL cũng được thông báo lưu hành ở một số nước như Mỹ, Canada,
Mexico, CuBa, đặc biệt tại các nước Bolivia, bệnh SLGL lưu hành ở phía Bắc
với tỷ lệ 70-100%.
Hai loài SLGL đều lưu hành với các TLN khác nhau: tại châu Phi
F.hepatica phân bố ở các nước Morocco, Algeria, Nam Phi; tại Châu Á
F.gigantica phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Philippines, Campuchia và Việt Nam; ngoài ra còn gặp ở một số nước Iran,
Triều Tiên và Ấn Độ.
18
2.4.2. Tình hình nhiễm sán lá gan lớn tại Việt Nam
Ở Việt Nam cho đến nay bệnh SLGL đã xuất hiện ở 47 tỉnh, thành phố;
TLN cao nhất ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên (Bình Định, Phú Yên,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Gia Lai và TP. Đà Nẵng).
Các NC cắt ngang tiến hành ở một số cộng đồng ở Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Gia Lai đã cho thấy TL thấp bệnh SLGL ở
người trong khu vực này. Nhìn chung, TLN chung từ 0,2-2,1% bằng xét
nghiệm phân và 2,4-9,5% chẩn đoán huyết thanh bằng PP ELISA phát hiện
kháng thể [3], [6], [8].
Theo số liệu của Viện SR-KST-CT Quy Nhơn, trong giai đoạn 2006-
2009 có 11.240 lượt người được chẩn đoán và điều trị SLGL tại Viện. Trong
số đó NC 1.200 trường hợp thu được kết quả sau:

BN giun sán điều trị tại Viện. BN ở các tỉnh miền Bắc mắc SLGL không
nhiều như các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, tuy nhiên số BN SLGL có xu
thế tăng cao vào tháng 7 và tháng 8.
II. CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN Ở NGƯỜI
1. Chẩn đoán dịch tễ học
Có tính chất dịch tễ: người bệnh sống trong vùng SLGL lưu hành; có
thói quen ăn các loại rau thủy sinh hay uống nước chưa chín kỹ.
2. Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện LS có liên quan đến tiền sử ăn uống rau thủy sinh (cải
xoong và các loại khác), sốt không rõ NN, đau bụng, tổn thương nhu mô gan
và viêm gan thể u. Có thâm nhiễm BCAT, có lịch sử gia đình có người mắc
bệnh SLGL, đau bụng vùng gan mật hoặc viêm đường mật.
20
2.1. Giai đoạn cấp tính
SLGL (F. hepatica, F. gigantica) có tính hướng đặc biệt với gan và
đường mật của người và động vật. Các TC chính trong giai đoạn này bao gồm
sốt, đau bụng cảm giác đau căng tức vùng gan, rối loạn tiêu hóa, phát ban, các
TC hô hấp. Thời gian kéo dài từ 2-4 tháng. Ngoài ra còn có thể gặp gan lách
to, cổ trướng, thiếu máu, vàng da và đau ngực…
2.2. Giai đoạn mãn tính
Thường các TC không còn điển hình nên dễ nhầm với các bệnh khác.
Các dấu hiệu cổ điển như: khó chịu vùng thượng vị, đau hạ sườn phải hoặc
thượng vị (72,9%); viêm mật, đường mật, sỏi túi mật [28]. Gan luôn luôn to,
có thể không đau khi sờ. Cổ trướng có thể thấy trong một số trường hợp. Cơn
đau quặn mật và viêm đường mật là các dấu hiệu đặc trưng. Suy nhược và sụt
cân có đến 75,6% [28]. Do vậy, nếu tỷ lệ nghi ngờ cao chẩn đoán xác định
được ở giai đoạn này.
2.3. Sán lá gan lạc chỗ
Cả hai thể đối với SLGL lạc chỗ gây nên hình ảnh LS phức tạp. Bệnh
SLGL lạc chỗ và gây tổn thương các cơ quan mà sán non di cư tới như tụy

WHO khuyến cáo áp dụng rộng rãi trong các NC KST có khả năng phát hiện
cao và tiện dùng trong NC thực địa [49], [66].
Trứng SLGL bị đào thải trong phân ở các thời điểm XN khác nhau có
kết quả không giống nhau: Theo một NC thực địa trên 513 học sinh tiểu học
trong 5 năm (2005-2009), chỉ phát hiện có 19 trường hợp có trứng SLGL
trong phân. Tuy nhiên, TLN của loài này tại các đợt XN là khác nhau [18].
Chẩn đoán dựa vào hình thể của trứng SLGL hiện trong NC có chỉ số CV
(SD/mean) của chiều dài, chiều rộng và tỷ số dài/rộng là 0,042; 0,054 và
0,061. Chiều dài cố định hơn chiều rộng. Tổng số có 138 trứng SLGL thu từ 3
22
mẫu được chẩn đoán hình thể học. Kích thước trung bình đo được như sau:
dài trung bình là 142,5 ± 6,0 μm. Chiều rộng trung bình là 81,9 ± 4,5 μm, dao
động 128,0 - 160,0 x 72,0 - 100,0 μm [18].
Mặc dù, XN thấy trứng sán trong phân được coi là một tiêu chuẩn
vàng. Tuy nhiên, vẫn có dương tính giả. Sự hiện diện của trứng trong phân có
thể do người ăn phải gan bị nhiễm bệnh có trứng SLGL. Do đó, gây sai lệch
trong chẩn đoán và sự không cần thiết trong điều trị. Để hạn chế điều này có
thể yêu cầu bệnh nhân tuân theo một chế độ ăn kiêng không có gan trâu bò
vài ngày trước khi XN phân để kiểm tra lại.
3.2. Xét nghiệm dịch mật tá tràng tìm trứng sán lá gan lớn
Bằng cách đưa ống thông vào đoạn II cúa tá tràng hút lấy dịch mật để
tìm ra sự hiện diện của trứng SLGL. TL phát hiện được trứng cũng thấp vì
những hạn chế như đối với việc XN tìm trứng sán trong phân.
3.3. Bạch cầu ái toan
Bình thường tỷ lệ BCAT từ 0-5%. Khi số lượng này tăng lên thường có
kèm theo nhiễm KST. Trong bệnh SLGL thường BCAT tăng trên 8% tổng số
BC, có những trường hợp trên 70-80% [12]. Tuy nhiên, XN này nhiều khi
không đủ cơ sở nhưng khi nó tồn tại là một dấu hiệu gợi ý cần kiểm tra thêm
bằng các XN khác. Một số trường hợp BN có tổn thương do SLGL ở gan và
có ELISA dương tính nhưng BCAT không tăng [51].

Bằng kỹ thuật ERCP có thể chẩn đoán chính xác đường mật ngoài gan
dãn qua việc đo đường kính ống mật chủ. Ngoài ra, ERCP phát hiện được
KST như SLGL trong các đường mật ngoài gan. Phối hợp kỹ thuật chẩn đoán
này với điều trị can thiệp bằng thủ thuật cắt cơ vòng Oddi qua nội soi nhằm
giải phóng đường mật hẹp. Tiếp đó qua thủ thuật, cho phép dùng Ballon lấy
sán qua nội soi. Độ đặc hiệu của kỹ thuật rất cao.
24
Hình 6. Chụp đường mật một ca nhiễm sán lá gan lớn
3.4.3. Chụp cắt lớp vi tính (CT-Scanner – Computed Tomography Scanner)
và Chụp cộng hưởng từ (MRI-Magnetic Resornance Imaging)
Kỹ thuật này giúp chẩn đoán được giai đoạn tổn thương do sán ngoài
gan. Qua hình ảnh CT có thể phát hiện đa tổn thương ở mức độ 1-10mm hoặc
các đường hầm trong nhu mô gan. Hình ảnh CT cũng có thể xác định được
con sán trưởng thành trong ống mật chủ hoặc trong túi mật hoặc kẹt trong nhu
mô gan [12], [55], [63].
Hình 7. Hình ảnh CT-Scanner một trường hợp bệnh sán lá gan lớn
25

Trích đoạn Chẩn đoán định loại loài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status